Tại sao phải giáo dục dân số và môi trường cho học sinh sinh viên mới nhất 2019 - Dân số và môi trường - Pdf 22

1. MỞ BÀI
Môi trường và dân số cũng như các hoạt động phát triển của nhân loại
trong những năm gần đây đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia
và các tổ chức quốc tế. Gia tăng dân số đang gây sức ép nặng nề tới môi
trường toàn cầu. Quá trình hoạt động công nghiệp đã ngày làm cạn kiệt tài
nguyên, ô nhiễm môi trường và hậu quả cuối cùng là làm suy thoái chất
lượng cuộc sống cộng đồng.
Dân số, môi trường và phát triển có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần cho phát triển nhưng không đồng
nghĩa với phát triển. Phát triển chỉ dựa trên tăng trưởng đơn thuần thì sự
tăng trưởng đó không lâu bền. Nhiều bài học kinh nghiệm cho thấy nếu sự
phát triển không tương ứng hoặc chỉ đáp ứng nhu cầu cho dân số hiện đại
nhưng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của dân số tương lai, phát
triển dựa vào khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên không dựa trên cơ
sơ bảo vệ môi trường thì sự phát triển đó không thể gọi là bền vững.
Tăng trưởng kinh tế mục đích là để phát triển con người, tạo diều kiện
để nâng cao đời sống con người, bảo vệ môi trường là cách tốt nhất. Bảo vệ
môi trường kết hợp đảm bảo hài hòa những mục tiêu khác của con người
là cần thiết để dạt sự phát triển bền vững.
Dân số và môi trường là nền tảng cho sự phát triển bền vững, không
thể có phát triển bền vững nếu môi trường bị hủy hoại, suy thoái, chất
lượng cuộc sống và sức khỏe người dân bị giảm sút. Sự phát triển bền
vững tùy thuộc rất lớn vào công tác dân số và bảo vệ môi trường. Nhiều khi
giá phải trả cho chi phí môi trường nhiều hơn những cái mà con người thu
về từ thiên nhiên. Như vậy dân số, môi trường và phát triển tạo thành một
vòng tuần hoàn khép kín, anh hưởng và chi phối lẫn nhau. Khi các nhân tố
này không tạo ra được sự phát triển hợp lí thì vòng quay đó sẽ bị hỗn loạn,
1
gây tác động tiêu cực ngược trở lại, phá vỡ cấu trúc và làm tổn hại đến
nhau. Thực tế cho thấy cách thức phát triển của loài người trong mấy chục
năm qua đã tạo ra áp lực làm kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên phá vỡ cân

người dân. Về ý thức bảo vệ môi trường, coi đó như là bảo vệ cuộc sống của
chính họ. Tổ chức vận động tham gia các phong trào bảo vệ môi trường. Từ
đó thay đổi hành vi nếp nghĩ trong ứng xử với các vấn đề bảo vệ môi
trường, nâng cao nhận thức, quan điểm đó thành triết lý hành động.
Để cụ thể hóa nhiệm vụ chính phủ đã phê duyệt đồ án “Đưa hệ thống
giáo dục dân số và môi trường ” thưc hiện vào năm 2001-2005. Trên tinh
thần đó, hiện nay chương trình: “ Đưa hệ thống giáo dục dân số và môi
trường ” trong trường học là vấn đề căn bản hình thành nhân cách và hành
động đúng trong tương lai với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền
vững. Do vậy nó là bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục của nước
ta nhằm đạo tạo ra những thế hệ có nhân cách cho xã hội.
2.1. Tại sao phải giáo dục dân số và môi trường cho học sinh sinh
viên
2.1.1. Giáo dục dân số
Dân số và nguồn nhân lực - mà tựu trung lại là con người, vừa là mục
tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Việc bảo đảm dân số
ổn định, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, chất lượng cuộc sống của cộng
đồng và của mỗi thành viên trong xã hội không ngừng được cải thiện là
3
mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với mọi dân tộc, mọi đất nước, nhất là trong
thời điểm hiện nay. Đảng ta luôn luôn đề cao nhân tố con người, Nghị quyết
Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng
định vai trò của chiến lược con người, của việc phát huy nguồn lực con
người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững mọi mặt của xã
hội. Đồng thời Đảng ta cũng đặc biệt đề cao vai trò của giáo dục - đào tạo
trong việc xây dựng những con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Giáo dục dân số là một lĩnh vựa khoa học và giáo dục rất mới mẻ
trong hệ thống những kiến thức và kỹ năng, thái độ và hành vi cần thiết
cho mọi người và xã hội. Do đó được dạy và học trong các trường học của

thức rõ ràng mối quan hệ giữa dân số với phát triển kinh tế, xã hội và gia
đình hiện tại và trong cả tương lai.
Hiện nay, để giáo dục dân số cho học sinh, sinh viên có hiệu quả,trong
chương trình giáo dục dân số nhà trường đã dặt ra những mục tiêu cụ thể,
phù hợp với từng cấp học và phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của các
em.
 Đối với cấp mầm non : Giáo dục toàn diện, chuẩn bị cho các cháu tiếp thu
tốt sự giáo dục ở phổ thông, trong đó có phần tiếp thu chương trình giáo
dục dân số. Nội dung được tích hợp lồng ghép trong hoạt động vui chơi,
làm quen với môi trường xung quanh và trong môn học hình thành các
biểu tượng toán học sơ đẳng.
 Trong nhà trường trung học cơ sở : Phát triển hiểu biết của học sinh về
những khái niệm dân số, chính sách dân số quốc gia, tình trạng dân số quốc
gia, khu vực. Phát triển sự hiểu biết của học sinh về mối quan hệ giữa dân
5
số, môi trường và phát triển bền vững, về quan niệm nhu cầu và phương
pháp kế hoạch hóa gia đình nhằm đạt được quy mô gia đình theo ý
muốn… .
 Trong nhà trường phổ thông : Ở cấp học này do các em có sự phát triển
cao hơn về nhận thức và tư duy nên giáo dục dân số không mang tính lý
thuyết như cấp trung học cơ sở nữa mà phát triển sự hiểu biết của học sinh
tốt hơn về vai trò trách nhiệm của giới cũng như những giá trị, niềm tin có
liên quan đến dấn số, đặc biệt là vấn đề hôn nhân, mang thai, giới của trẻ.
Đặc biệt giúp cho các em có những kỹ năng, thái độ, hành vi cần thiết để có
tác dụng như một tuyên truyền viền trong gia đình về kế hoạch hóa gia
đình và các chương trình có liên quan.
 Trong trường đại học : Đây là nơi quy tụ thanh niên có học vấn ở trình độ
cao, vì vậy hiệu quả tác động và tầm ảnh hưởng sẽ vượt ra ngoài nhận thức
của cá nhân mỗi người. Việc giáo dục dân số cho sinh viên, nhất là sinh viên
sư phạm một mặt giúp họ có cái nhìn khả quan hơn về dân số và chính sách

người đã vi phạm nghiêm trọng các yếu tố cân bằng của tự nhiên một cách
liên tục và ngày càng lớn, đã và đang làm cho thế giới ngày càng biến đổi:
Đó là sự ô nhiễm của môi trường, sự cạn kiệt của tài nguyên, sự mất đi của
rừng, sự biến đổi của khí hậu, sự biến mất hay tuyệt chủng của nhiều loài,…
.
Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề không chỉ của riêng một vùng nào,
mà ở khắp nơi, cả nông thôn, thành thị, miền núi, miền biển, cả các nguồn
nước và không khí…. Theo nghiên cứu của các tổ chức bảo vệ môi trường, ở
nước ta, 70% các dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% các bãi biển đã bị
ô nhiễm, hủy hoại về môi trường; 70% các làng nghề ở nông thôn đang
đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Cùng với đó, tình trạng nước
biển xâm nhập vào đất liền; đất trống, đồi núi trọc và sự suy thoái các
7
nguồn gien động thực vật đang có chiều hướng gia tăng là hệ quả của việc
hủy hoại môi trường. Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành
nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội.
Để khắc phục những hậu quả trên phải cần một thời gian dài, liên tục,
ngay từ bây giờ và tốn kém nhiều công sức và tiền của. Do đó, bảo vệ môi
trường nên bắt đầu bằng việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, nhất là
cho học sinh, sinh viên trong nhà trường. Vì đây là nơi thu hút toàn bộ thế
hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước. Giáo dục cho các em không những
đạt kết quả trước mắt mà còn đạt được những lợi ích lâu dài. Hơn nữa,
trường học là môi trường thuận lợi nhất để tiến hành giáo dục môi trường
cho các em, nó có khả năng tiếp cận với từng cá nhân thông qua chương
trình, kế hoạch học tập một cách khuôn khổ và chi tiết vì thế hiệu quả mang
lại rất cao.
Các vấn đề môi trường tự nhiên, các vấn đề môi trường xung quanh,
bản chất và hiện trạng môi trường đã được lồng ghép vào các môn học
trong nhà trường. Do vậy, học sinh có cơ hội bám sát và tìm hiểu các vấn đề
đó hơn bất kỳ tầng lớp nào trong xã hội. Các em sẽ có cái nhìn rõ nét nhất

vệ cảnh quan môi trường lớp học, nhà trường, đường phố, nơi cư trú đưa
ý thức bảo vệ môi trường thành một tiêu chí để đánh giá, xếp loại giáo viên,
học sinh, sinh viên.
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường là một trong
những biện pháp quan trọng, giúp học sinh, sinh viên biết yêu thiên nhiên,
hiểu được tầm quan trọng của môi trường với cuộc sống và hơn nữa biết
cách chăm sóc, giữ gìn hành tinh xanh. Xây dựng cho học sinh, sinh viên
tình yêu quê hương đất nước và thể hiện tình cảm đó qua việc tôn trọng
các thành quả kinh tế, van hóa của người lao động. Giúp các em tham gia
9
tích cực vào các hoạt động sử dụng hợp lý, bảo vệ, cải tạo môi trường, nâng
cao chất lượng cuộc sống gia đình và cộng đồng. Có tinh thần tham gia xây
dựng và bảo vệ quê hương đất nước.
Tóm lại giáo dục dân số và môi trường trong nhà trường là một việc
làm hết sức quan trọng và cần thiết, thường xuyên. Giáo dục dân số và môi
trường nhằm hình thành ở mỗi cá nhân, mỗi con người các chuẩn mực
hành vi, thái độ ứng xử tích cực đối với các vấn đề dân số và môi trường cụ
thể; xây dựng tình yêu thiên nhiên, sống thân thiện với môi trường thiên
nhiên, bồi dưỡng lòng yêu thương con người, đảm bảo sự hài hoà giữa
quyền lợi của chính mình với quyền lợi của người khác và cộng đồng.
2.2. Những điều kiện cần thiết để giáo dục dân số và môi trường có
hiệu quả cao.
Hiện nay, trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển thực trạng về dân số
và môi trường là những vấn đề nóng bỏng của toàn nhân loại. Con người
đã và đang phải đối mặt với những vấn đề như già hóa dân số, bùng nổ dân
số và ô nhiễm môi trường sâu sắc. Tất cả những vấn đề đó đã đặt ra cho
nhân loại nhiều nỗi băn khoăn lo lắng về trách nhiệm của thế hệ này đối với
thế hệ mai sau. Cho nên ngay từ bây giờ con người phải có sự thay đổi
mạnh về thái độ và hành vi đối với vấn đề dân số và vấn đề môi trường,
phải có các chương trình giáo dục cho thế hệ trẻ và phải có các biện pháp

vận động trong ngành để kịp thời thông tin, tuyên truyền những kiến thức,
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân số cũng như
môi trường đến toàn thể cán bộ, giáo viên và học sinh .
Đặc biệt, cần nêu rõ hậu quả của sự gia tăng dân số quá mức, suy
thoái và ô nhiễm môi trường sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc làm, lao động,
kinh tế, đời sống, dẫn tới đói nghèo, kinh tế chậm phát triển, xã hội kém văn
11
minh. Về lâu dài, cần xây dựng cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục
dân số (tủ sách, tài liệu, đồ dùng, phương tiện dạy học, truyền thông) bố trí
và huy động các nguồn kinh phí cho hoạt động giáo dục dân số. Triển khai
đồng bộ, thường xuyên công tác giáo dục dân số trong nhà trường sẽ góp
phần quan trọng đảm bảo kiểm soát về số lượng và nâng cao chất lượng
dân số nước ta trong tương lai.
Nhà trường cần phải xây dựng kế hoạch giáo dục dân số và giáo dục
môi trường cho toàn khóa học, từng năm học, học kỳ, bao gồm kế hoạch
chung của nhà trường, kế học chuyên môn của ngành học, môn học, giáo
dục chuyên đề, ngoại khóa, kế hoạch của ban giáo dục dân số và môi
trường.
Tổ chức các lực lượng thực hiện: Thành lập Ban GDDS-KHHGĐ của
nhà trường; phối hợp các lực lượng GDDS trong và ngoài nhà trường
(Phòng, ban chức năng, khoa, tổ bộ môn, giảng viên, các tổ chức Đảng,
Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, Y tế; Ban, hội, chính quyền,
đoàn thể địa phương, các cơ quan, tổ chức truyền thông, tư vấn về DS -
KHHGĐ).
Các trường, các khoa đều phân công cán bộ chuyên môn trong hệ
thống quản lý đào tạo trực tiếp triển khai, theo dõi thực hiện công tác
GDDS.
Đồng thời tổ chức các hoạt động thu hút học sinh, sinh viên như thi hỏi
đáp về các chủ đề dân số và môi trường, trình diễn thời trang, thi vẽ tranh
hay truyền thông dân số, hoạt động về giáo dục dân số và giáo dục môi

2. Sự thuần thục về phương pháp dạy học và nắm vững các phương
pháp giáo dục dân số và môi trường, đặc biệt là các phương pháp lấy
học sinh làm trung tâm.
3. Có đầu óc và kinh nghiệm tổ chức các hoạt động giáo dục dân số và
giáo dục môi trường để có thể lựa chọn được các hoạt động phù hợp
với tâm lí lứa tuổi và phát huy được năng lực độc lập sáng tạo của
học sinh.
4. Có tâm huyết, lòng say mê nghề nghiệp và tình yêu (yêu nghề, yêu học
sinh, yêu quê hương đất nước).
5. Giáo viên cần làm tốt nhiệm vụ giảng dạy, tạo cho học sinh biết yêu
quý, bảo vệ và sử dụng, làm phong phú thêm tài nguyên thiên nhiên
từ những việc nhỏ như không phá rừng mà phải biết trồng cây,
không phá hoại mà phải biết chăm cây non, các loài vật có ích, biết
tạo khung cảnh sống gắn bó hài hòa với thiên nhiên.
6. Biết phát huy các kiến thức và kinh nghiệm sống sẵn có của học sinh,
dẫn dắt cho học sinh đến những khái niệm đúng đắn, kịp thời điều
chỉnh các ý tưởng lệch lạch và khuông sáo.
7. Luôn khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện cho học sinh phán xét và
quyết định.
8. Cần phải thường xuyên hỗ trợ học sinh làm nhiệm vụ, không làm
thay nhiệm vụ của học sinh.
9. Không độc đoán đưa ra khái niệm đúng. Không gạt bỏ một thông tin
hoặc ý kiến của học sinh cho dù là thiếu chuẩn xác
Muốn cho hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục dân số
và môi trường nói riêng mang lại hiệu quả đích thực cho người học, thì
người giáo viên nên làm đúng vai trò của “nhạc trưởng”, tức là làm nhiệm
vụ “thiết kế hoạt động” và hướng dẫn học sinh “thi công”. Khi học sinh là
nhân vật trung tâm của nhà trường thì toàn bộ cấu, cơ chế của nhà trường
trở thành một môi trường nâng đỡ. Các hoạt động của nhà trường được
thiết kế thành một quy trình, sao cho khi học sinh tiếp cận với các nhiệm vụ

nhất là vai trò của nó đối với sự hình thành, phát triển nhân cách, ý thức
công dân của người lao động trong tương lai đối với học sinh, sinh viên.
Do vậy cần tăng cường hơn nữa công tác giáo dục dân số và môi
trường cho học sinh sinh viên. Để hoạt động này đạt hiệu quả cao cầnphải
được hoạch định và thực hiện có kế hoạch, có tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra,
đánh giá có nề nếp như các hoạt động chuyên môn khác trong nhà trường.
Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhân tố tham như nhà
trường, giáo viên, học sinh.
16
Giáo dục dân số và môi trường trong những năm qua đã đạt được
những thành công nhất định. Hy vọng trong tương lai hoạt động này sẽ có
những chuyển biến tích cực và hiệu quả hơn nữa góp phần xây dựng một
đất nước giàu đẹp và phát triển bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Tấn Lê (2006), “Quản lý và tổ chức công tác Giáo dục dân số
trong nhà trường” , Đại học Đà Nẵng.
2. PGS.TS. Đậu Thị Hòa, “ Giáo dục dân số và môi trường trong trường
phổ thông ”, Đại học Đà Nẵng.
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22.3.2005 về việc
tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số và Kế hoạch hóa gia
đình, Hà Nội.
4. TS. Lê Quang Sơn, “Đổi mới công tác giáo dục dân số ở các trường
đại học nước ta trong tình hình hiện nay”, Đại học Đà Nẵng.
5. Một số tạp chí, báo và các trang wed.
17
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status