Đề tài nâng cao chất lượng giảng dạy môn tiếng việt cho học sinh tiểu học vùng dân tộc ít người - Pdf 26

ti: " nõng cao cht lng ging dy mụn ting vit cho hc sinh
tiu hc vựng dõn tc ớt ngi
Lờ i c ả m ơn
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này em xin đợc bày tỏ lời cảm ơn
sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, cùng các thầy, cô giáo trong Khoa giáo
dục tiểu học. đã hớng dẫn và giúp đỡ tận tình cho em từ khi hình thành
ý tởng đến khi hoàn thành đề tài của mình.
Tuy nhiên do trình độ hiểu biết còn ít, kiến thức thực tế còn non
yếu nên không thể tránh khỏi sai sót.
Do vậy em rất mong nhận đợc sự quan tâm đóng góp ý kiến của
các thầy giáo, cô giáo, các bạn để bản đề tài đợc hoàn thiện hơn
./.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện

Đỗ Thị Hà
Lời mở đầu.
Môn Tiếng Việt là bộ môn cơ bản trong nhà trờng phổ thông ở tất cả
các cấp học. Để học tốt môn Tiếng Việt theo tinh thần đổi mới phơng pháp
những năm gần đây, việc nâng cao kiến thức môn Tiếng Việt là rất quan
trọng. Thực trạng cho thấy tình hình hiện tại: Nhiều học sinh ngày càng
không thích học môn Tiếng Việt . Chất lợng học ngày càng đi xuống ở
nhiều nơi. Giáo viên cũng có một số ít không thích dạy Tiếng Việt, cảm
thấy khó khăn, lúng túng khi giảng dạy, hoặc coi giờ dạy Tiếng Việt nh
một phơng tiện truyền thụ ngôn ngữ. Vì vậy, môn Tiếng Việt ngày càng
Sinh viên : Đỗ Thị Hà Lớp K5D trờng ĐHSP Thá i
Nguyên
1
ti: " nõng cao cht lng ging dy mụn ting vit cho hc sinh
tiu hc vựng dõn tc ớt ngi
trở nên khô khan, nặng về luân lý hoặc giải thích ngữ nghĩa, mang tính

tiu hc vựng dõn tc ớt ngi
Mỗi giờ giảng với phơng pháp giảng dạy của giáo viên ,các em cảm
thấy thích học môn học, hiểu đợc tầm quan trọng của việc sử dụng đúng,
hay vốn tiếng Việt. Biết cách vận dụng vốn từ vào cách viết văn, nhằm
nâng cao chất lợng bộ môn tiếng Việt hiện nay.
Tạo đợc các giờ giảng sinh động, hấp dẫn gây ấn tợng đặc biệt trong
lòng học sinh. Các em thấy thích học, hiểu đợc giá trị và tầm quan trọng
của bộ môn, hiểu giá trị thiết thực của từ ngữ Tiếng Việt trong đời sống dân
tộc từ xa tới nay :" Văn học là nhân học".
- Tìm ra phơng pháp, hình thức trong việc tìm hiểu và truyền tải kiến
thức đến với các em, tạo đợc ấn tợng sâu sắc trong bài giảng.
- Nâng cao số lợng và chất lợng bài giảng tìm ra những biện pháp
hữu hiệu nhất trong việc củng cố, đào tạo nghiệp vụ để ngày càng nâng cao
chất lợng, đạt đợc mục tiêu giáo dục trong nhà trờng. Đáp ứng đợc yêu cầu
của ngành học và phù hợp với nguyện vọng của các bậc phụ huynh. Bởi
trong sự nghiệp trồng ngời thì đối tợng ngành học tiểu học là khâu đầu tiên
khởi đầu và làm nên nền tảng cho mọi quá trình dạy dỗ sau này. Do vậy để
trở thành một giáo viên dạy giỏi môn Tiếng Việt là một quá trình phấn đấu
không dễ dàng. Cho nên việc nâng cao trình độ, tiếp thu kiến thức, mong
muốn nâng cao chất lợng giảng dạy môn Tiếng Việt trong trờng học là một
nội dung mà các cán bộ quản lý nhà trờng, giáo viên trực tiếp đứng lớp
luôn quan tâm;
II. Cơ sở lý luận
Nói về tầm quan trọng của ngành giáo dục trong xã hội, cố Thủ tớng
Phạm Văn Đồng đã khẳng định : " Nghề dạy học là nghề cao quý nhất
trong những nghề cao quý" điều đó thật tự hào biết bao, song để có đợc
niềm tự hào đúng với nghĩa của nó thì chúng ta, tất cả những ai công tác
trong ngành giáo dục đều thấy rõ trách nhiệm của mình cũng hết sức nặng
nề và vất vả với cơng vị ngời thầy mà cả xã hội giao cho, vị trí ngời thầy
mà từ xa đến nay luôn đợc xã hội tôn vinh. Bởi vậy, để sự tôn vinh của xã

Chính vì vậy giáo dục phải đợc tiến hành ngay từ lứa tuổi Mầm non, tiểu
học Việc giáo dục trẻ không chỉ là trách nhiệm của mỗi gia đình, nhà tr-
ờng mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.
Muốn trở thành những ngời công dân tốt và phát triển một cách toàn
diện về mọi mặt ( Đức, Trí, Thể, Mĩ và lao động ) thì ngay từ những năm
tháng đầu tiên của cuộc sống ngời lớn cần tạo cho các em những phẩm
chất, tâm hồn và trí tuệ tốt. Xã hội ta trong những năm gần đây đã xác định
đợc vai trò, vị trí của giáo dục trong xã hội. Với sự nghiệp giáo dục đặc
biệt phải chú ý đến giáo dục Tiểu học " Nền móng" của " Tòa nhà giáo
dục" và vì cái tháp cao nào cũng phải xây từ mặt đất lên. Mà mục tiêu giáo
dục trong nhà trờng hiện nay là xây dựng và hình thành cho các em phát
triển toàn diện, trở thành những chủ nhân tơng lai của đất nớc. Do vậy đòi
hỏi ngời giáo viên phải tụ hội đợc: Đạo đức, tác phong mẫu mực, kiến thức,
trình độ chuyên môn vững vàng, từ đó giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức
một cách chủ động, giúp các em nắm bắt những kiến thức sơ giản về Tiếng
Sinh viên : Đỗ Thị Hà Lớp K5D trờng ĐHSP Thá i
Nguyên
4
ti: " nõng cao cht lng ging dy mụn ting vit cho hc sinh
tiu hc vựng dõn tc ớt ngi
Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tiếng nói và con ngời, về văn
hóa, văn học của Việt Nam và nớc ngoài.
Để nâng cao chất lợng dạy và học phân môn Tiếng Việt ở bậc tiểu
học yêu cầu trớc tiên đối với ngời giáo viên: Cần phải xây dựng và nắm
vững các tiêu chí sau:
- Cấu trúc, nội dung chơng trình của phân môn.
- Mục đích và yêu cầu cần đạt đợc của học sinh là gì?
- Tính hệ thống, tính liên thống, kết hợp của nội dung chơng trình
phân môn.
- Mối quan hệ giữa hỗ trợ phân môn Tiếng Việt với các môn học

tiu hc vựng dõn tc ớt ngi
IV - Những căn cứ thực hiện:
1. Căn cứ vào nhiệm vụ môn học.
2. Căn cứ vào mục tiêu của việc rèn luyện: Nói tiếng việt và sử
dụng Tiếng việt vì có học sinh học tốt môn tiếng Việt mới có điều kiện để
học tốt các môn khác đợc
3. Căn cứ vào thực tế địa phơng: Tuy là xã nhng các em lại ở vùng
sâu, vùng xa, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn ít có điều kiện
đợc tiếp xúc với các phơng tiện thông tin đại chúng. Mục tiêu của giáo viên
là giúp các em có đợc những nhận thức cao về hiểu biết xã hội, có trình độ
kiến thức t duy để theo kịp các trờng nội thị.
4. Căn cứ vào phơng pháp dạy học mới: Lấy học sinh làm trung tâm,
học sinh là chủ thể, giáo viên là ngời hớng dẫn.
5. Căn cứ theo trình độ nhận thức: Các đối tợng học sinh trong lớp
đợc chia ra: khá, giỏi, trung bình, yếu.
6. Căn cứ học sinh có học tốt môn Tiếng Việt mới học tốt các môn
học khác.
Phần 2.
Nội dung nghiên cứu
I. Nội dung, đối tợng, phạm vi và thời gian áp dụng:
1. Nội dung:
- Căn cứ vào mục đích, yêu cầu và chỉ tiêu chất lợng môn Tiếng Việt
( cụ thể là Nghe - nói, đọc, viết). Em đặc biệt đi sâu vào việc nghiên cứu
phơng pháp rèn nói cho các em. Cụ thể là rèn nói ngay từ thời kỳ học sinh
bắt đầu làm quen với các âm, vần. Vì theo em: Nói đúng là cơ sở của viết
đúng.
2. Đối tợng:
Là học sinh của trờng tiểu học Bạch Đích- Huyện Yên Minh -
Tỉnh Hà Giang
3. Phạm vi:

em chia ra các loại:
Khá: 03
Trung bình: 07
2. áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của những năm trớc:
Dựa vào kết quả điều tra từ đó tự vạch ra kế hoạch để nâng cao chất
lợng môn Tiếng việt cho học sinh lớp 1.
a/ Chuẩn bị bài của giáo viên và học sinh:
Giáo viên tìm hiểu năng lực của học sinh trong lớp, phân loại theo
các nhóm : Giỏi, khá, trung bình, yếu để giao việc phù hợp cho học sinh
biết đã kết hợp cả hai phơng pháp dạy học: Phơng pháp dạy học truyền
thống và phơng pháp dạy học mới, nhng trọng tâm là phơng pháp dạy học
mới, vận dụng linh hoạt các phơng pháp dạy học mới, bám sát theo nội
dung chơng trình và SGK. Tăng cờng sử dụng đồ dùng, tranh ảnh, vật thật,
Sinh viên : Đỗ Thị Hà Lớp K5D trờng ĐHSP Thá i
Nguyên
7
ti: " nõng cao cht lng ging dy mụn ting vit cho hc sinh
tiu hc vựng dõn tc ớt ngi
phấn màu để thu hút và duy trì hứng thú của học sinh trong suốt bài học,
chuẩn bị các trò chơi phù hợp, hấp dẫn, hệ thống các câu hỏi gợi mở dễ
hiểu để đa bài vào dạy. Chuẩn bị bộ chữ cái biểu diễn thực hành Tiếng
Việt.
Động viên gia đình học sinh quan tâm mua sắm đồ dùng học tập cho
các em: SGK, bảng con, phấn viết, vở ô ly, bút viết, bộ chữ thực hành Tiếng
Việt, vở bài tập Tiếng Việt, một số học sinh quá khó khăn giáo viên đã tặng
các em vở, bảng, phấn.
b. Thực hiện tiến trình bài dạy.
Vì sự giao tiếp của các em không nhạy cảm nh học sinh ở các trờng
nội thị, trình độ nhận thức của các em cũng có nhiều hạn chế. Vì vậy giáo
viên phải linh hoạt ở tất cả các khâu sao cho phù hợp với bài dạy, với khả

sát: Học sinh nói đợc Tiếng Việt: Con tem, đọc đợc: Con tem và cũng viết
đợc từ đó. Kể cả dạy âm hay dạy vần kết hợp khi giới thiệu lồng cả phần
nói để các từ, tiếng học sinh đều đọc - viết và nói đợc. Với giáo viên chịu
khó su tầm vật thật thật nhiều để học sinh thấy kiến thức mình học là rất
gần gũi với thực tế, không xa lạ.

* Dạy âm ( vần), chữ ghi âm ( vần ) mới.
Cần xác định: Học sinh có nắm chắc đợc âm - vần thì mới có cơ sở
để đọc, viết đợc. Mặc dù học sinh vùng dân tộc các em còn nhút nhát song
ngay từ tiết học đầu tiên tạo ra cho học sinh một không khí nề nếp, học tập
tốt, học sinh phải xác định đợc ý thức học tập của mình, làm việc đến nơi
đến chốn.
Muốn cho học sinh nắm chắc chữ ghi âm thì dạy âm nào phải khắc
sâu cho học sinh âm đó.
Ví dụ: Con thấy âm " d" có mấy nét? là những nét gì? hoặc vần "
em" đợc tạo bởi những âm nào? ( học sinh tự nói - giáo viên chỉ quan sát và
bổ sung những gì cần thiết)
Hớng dẫn học sinh phát âm là một khâu giáo viên phải thật coi
trọng: Giáo viên phải hớng dẫn tỷ mỷ và chính xác. Ví dụ: d đợc phát âm
nhẹ: " dờ" không uốn lỡi, nhớ nâng đầu lỡi lên sát hàm trên rồi từ từ nhả để
hơi thoát nhẹ ra ngoài.
Học sinh vùng dân tộc Dao rất hay nhầm phát âm: d và 1 nên giáo
viên phải chú ý sửa tỷ mỷ cho học sinh có thể gọi một vài em phát âm
chuẩn lên trớc lớp phát âm cho cả lớp quan sát và một số em kém phát âm
lại.
Khâu phân tích âm vần -tiếng - từ giáo viên cần phải làm kỹ càng
cho học sinh học vần nào, âm nào phải nắm chắc âm vần ấy. Ví dụ: Dạy
âm " g" đơn, gh kép. Khi phân tích g chuyển sang gh giáo viên cần hỏi học
sinh " gh " có mấy con chữ? con chữ nào đứng trớc, con chữ nào đứng sau?
g và gh giống nhau và khác nhau nh thế nào?

Vào đầu giờ viết giáo viên phải uốn nắn cho các em t thế ngồi viết,
cách viết, cách giơ bảng với những bài viết âm bao giờ giáo viên cũng hớng
dẫn cho học sinh viết trên không trung để định hình cho các em quen cách
viết,không bị quay ngựơc chiều ( viết bằng ngón tay trỏ lên không trung,
lên mặt bàn) với những giờ viết vần thì phải chú ý cho học sinh khoảng
cách các nét trong vần, khoảng cách các chữ viết và ở phần viết từ bao giờ
giáo viên cũng phải bắt học sinh nhớ lại quy trình viết bằng cách giáo viên
đặt câu hỏi.
Ví dụ: Tiếng " dê" có mấy con chữ ? con chữ nào viết trớc? độ cao?
con chữ nào viết sau? các nét viết nh thế nào ?
Sinh viên : Đỗ Thị Hà Lớp K5D trờng ĐHSP Thá i
Nguyên
10
ti: " nõng cao cht lng ging dy mụn ting vit cho hc sinh
tiu hc vựng dõn tc ớt ngi
Hoặc vần: " iêm "có mấy con chữ? ( có 3 con chữ tránh học sinh đọc
nhầm với đọc là có 2 âm: iê và m. ) Từ " dừa xiêm" ta viết chữ nào trớc? độ
cao, học sinh trả lời? giáo viên nhắc lại vừa hớng dẫn học sinh viết vào
bảng con, học sinh trong quá trình nhắc lại chữ khắc thêm cho học sinh kỹ
năng viết và các em có thể nhẩm viết lại vào bảng con đợc. Có làm nh vậy
tôi nghĩ mới đảm bảo cho học sinh học sang một âm vần mới thì phải nhớ
thật chắc âm vần ấy bằng cả âm thanh và chữ viết. Giáo viên phải chú trọng
những chữ các em dễ lẫn, chú trọng học sinh viết kém để kèm cặp nhiều
hơn.
* Luyện tập:
Do học sinh ở vùng sâu, vùng xa học còn kém hơn so với học sinh
các trờng nội thị, nắm bắt đợc điều đó giáo viên đã cố gắng phân loại: Học
sinh khá, giỏi, đọc trơn đọc trớc, học sinh yếu đọc sau. Có tiếng học sinh
không đọc đợc giáo viên tiếp tục cho học sinh ghép vần bằng cách ghép
tiếng, cho học sinh nhận dạng, che âm cho học sinh nhận dạng vần và dấu,

Giáo viên phải thực sự yêu nghề mến trẻ, coi học sinh nh con mình
phải biết thông cảm với hoàn cảnh" Kinh tế, giao tiếp xã hội" các em từ
đó gần gũi quan tâm giúp đỡ các em học tập tốt, các em học sinh dân tộc
rất hay tự ái, hay mặc cảm về mình vì vậy nên lấy khen thởng động viên là
chủ yếu, hạn chế hết mức phê bình.
Với học sinh dân tộc ngôn ngữ các em hạn chế nhiều cái hiểu nhng
không nói đợc vì vậy cần phải linh hoạt trong giảng dạy, dạy cho phù hợp
với sự nhận thức của học sinh, giáo viên phải kiên nhẫn chịu khó trong việc
soạn giảng, phải tích cực có đồ dùng ( càng làm vật thật càng tốt) giờ học
nào cũng phải phát triển kỹ năng nói tiếng Việt cho học sinh.
Đối với học sinh cấp tiểu học các em còn nhỏ, t duy cha phát triển
không nên nhồi nhét kiến thức cho các em. Vì vậy phải chuyển đổi hoạt
động cho các em đỡ chán, đỡ mệt, tích cực gây hứng thú các giờ học cho
các em bằng cách tổ chức giờ giảng hợp lý, thiết thực với kiến thức của bài,
gây cho các em có nhận thức về mục đích, động cơ học tập đúng đắn, sự
ham muốn trong học tập, giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài dạy cho phù hợp
với nhận thức của học sinh.
Hiện nay chúng ta đang tích cực áp dụng phơng pháp dạy học mới.
Song ngời giáo viên phải biết linh hoạt kết hợp cả phơng pháp dạy học
truyền thống và phơng pháp dạy học mới.
Một giờ dạy thành công phải là một giờ dạy tạo đợc ấn tợng riêng
biệt trong lòng học sinh. Vừa giúp cho các em khắc sâu kiến thức, vừa tạo
cho các em sự hào hứng phấn khởi và nhất là lòng say mê ham thích học
môn tiếng Việt. Trên cơ sở đó đã khắc phục đợc tình trạng chán học đó
chính là phần thởng cao quý nhất giành cho những ngời ngời thầy.

Sinh viên : Đỗ Thị Hà Lớp K5D trờng ĐHSP Thá i
Nguyên
12
ti: " nõng cao cht lng ging dy mụn ting vit cho hc sinh

II. Cơ sở lý luận
3
III. Mục đích yêu cầu
4
IV. Những căn cứ thực hiện
6
Phần 2. Nội dung nghiên cứu
7
I. Nội dung - đối tợng - phạm vi và thời gian áp dụng
7
II. Các bớc thực hiện
7
Phần 3. Bài học kinh nghiệm - kết luận
14
I. Những bài học kinh nghiệm
14
II. Kết luận
15
Tài liệu tham khảo
17
Tài liệu tham khảo.
1. Tuyển tập những bài văn hay bậc tiểu học - Nhà xuất bản Nghệ
An năm 2003 của Lê Xuân Anh;
2. Để học tốt Tiếng Việt 2 - Nhà xuất bản Nghệ An - năm 2003;
3. Tiếng Việt nâng cao tiểu học - Nhà xuất bản Đà Nẵng - năm 2005
của Trần Đức Niềm, Lê Thị Nguyên, Ngô Lê Hơng Giang;
4. Tự học Tiếng Việt bậc tiểu học - Nhà xuất bản tổng hợp Tp Hồ
Chí Minh năm 2006 của Trần Thị Thìn;
5. Tiếng Việt nâng cao lớp 2 - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Tp Hồ
Chí Minh năm 2007 của Trần Đức Niềm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status