năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhậpGiải pháp tài chính nhằm nâng cao n - Pdf 22

Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 1 Mục lục Trang 1
Danh mục các chữ viết tắt 4
Danh mục bảng, biểu 4
Danh mục hình vẽ, biểu đồ 5
Lời nói đầu 6
1. Tí
nh cấp thiết của đề tài 6
2. M
ục đích của đề tài 8
3. Đ
ối tượng và phạm vi đề tài 8
4. P
hương pháp nghiên cứu đề tài 8
5. B
ố cục đề tài 9
CHƯƠNG 1 : KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 10
1.1. C
Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH 10
1.1.1. C
ạnh tranh và năng lực cạnh tranh 10
1.1.1.1 K
hái niệm về cạnh tranh 10
1.1.1.2 C
ác loại hình cạnh tranh 10

CHƯƠNG 2 : ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH NGÓI THẠCH BÀN TBC 25
2.1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triền công ty TBSC 25
2.1.1. Giới thiệu sơ lược về TBSC 25
2.1.1.1. Các thông tin cơ bản 25
Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 3 2.1.1.2. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu 25
2.1.1.3. Sơ đồ bộ máy tổ chức TBSC 26
2.1.2. Giai đoạn hội nhập kinh tế thị trường 27
2.2. Đánh giá năng lực cạnh tranh của TBSC trong điều kiện hội nhập 28
2.2.1. Phân tích môi trường bên ngoài 28
2.2.1.1. Tình hình thị trường chung 28
2.2.1.2. Tình hình ngành sản xuất gạch ngói trên thị trường 31
2.2.1.3. Phân tích đối thủ cạnh tranh 34
2.2.2. Phân tích môi trường bên trong doanh nghiệp 35
2.2.2.1. Nguyên vật liệu 35
a. Nguồn nguyên liệu 35
b. Sự ổn định của các nguồn cung nguyên vật liệu 35
c. Ảnh hưởng của giá cả NVL đến doanh thu và lợi nhuận 36
2.2.2.2. Trình độ công nghệ 37
a. Quy trình sản xuất 37
b. Trình độ công nghệ 37
c. Tình hình nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới 38
d. Tình hình kiểm tra chất lượng sản phẩm và dịch vụ 39
2.2.2.3. Hoạt động bán hàng và marketing 40

Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 5

DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
HĐGĐ: Hội đồng giám đốc
VLXD: Vật liệu xây dựng
BĐS: Bất động sản
SXKD: Sản xuất kinh doanh
CPH: Cổ phần hóa
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
DNVVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
BXD: Bộ xây dựng
CLC: Chất lượng cao


Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 7

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sau gần hai thập kỉ đổi mới, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trung

hợp tác đa phương và song phương. Nước ta đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức
quốc tế như Khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á –
Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), đã kí Hiệp định thương
mại song phương với Hoa Kỳ… hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại những điều kiện
thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước như mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn
đầu tư nước ngoài, tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến, góp phần giải
quyết các vấn đề xã hội.
Ngày 07/11/2006, Việt Nam đã chính thức được kết nạp làm thành viên của Tổ
chức Thương mại Thế giới – WTO (World Trade Organisation). Đây là một nỗ lực của
Chính phủ Việt Nam sau 11 năm đàm phán, nhưng cũng là một xu thế tất yếu trong bối
cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu.
Sự gia nhập WTO mang đến cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội để phát
triển nhưng đồng thời cũng mang lại những đe dọa, thách thức. Đặc biệt, trong lĩnh vực
sản xuất gạch ngói sẽ có những cơ hội rất lớn để phát triển do nhu cầu xây dựng về nhà ở
cũng như các cao ốc văn phòng làm việc ngày càng tăng nhanh. Tuy nhiên, các doanh
nghiệp sản xuất gạch ngói Việt Nam cũng sẽ mất đi sự bảo hộ bấy lâu của Chính Phủ và
phải cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp có vốn góp liên doanh nước ngoài cùng
ngành.
Hội nhập quốc tế đã buộc các doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh để
đủ sức đứng vững trên thương trường. Một thực trạng phổ biến hiện nay là: năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế và yếu kém nên khả năng
tồn tại và khẳng định vị thế trên thị trường rất thấp, đặc biệt là thị trường quốc tế.
Vì vậy, xây dựng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam là một tất yếu
khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Nếu không làm được
Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 9 tranh, lý thuyết quản trị chiến lược, thu thập các số liệu liên quan để phân tích sự vận
động của hiện tượng nghiên cứu.
- Số liệu sử dụng chủ yếu là số liệu thứ cấp lấy từ các báo cáo thống kê của
công ty và các ngành liên quan. Một số số liệu sơ cấp từ phương pháp điều tra trực tiếp
của một nhóm các đối tượng có chọn lọc.
5. Bố cục chuyên đề:
Chuyên đề gồm 3 phần cơ bản:
Chương 1: KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH NGÓI THẠCH BÀN TBSC
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH NGÓI THẠCH BÀN
Dù trong quá trình thực hiện chuyên đề thực tập em gặp một số khó khăn, song
cuối cùng cũng đã hoàn thành. Đây không chỉ là kết quả của nỗ lực bản thân em mà còn
là sự đóng góp rất có ý nghĩa từ các cán bộ, công nhân viên Công ty Cổ phần Gạch ngói
Thạch Bàn.
Em xin chân thành cảm ơn Công ty Cổ phần gạch ngói Thạch Bàn đã cung cấp tài
liệu và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bài chuyên đề tốt nghiệp này.
Dù chuyên đề thực tập đã được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, song sẽ khó tránh
khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý thầy cô
nhằm giúp em có thể hoàn thiện kiến thức, các kỹ năng nghiên cứu và có thể vận dụng
vào thực tiễn công tác của bản thân.
Xin chân thành cảm ơn! Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

trì trệ và kém phát triển. Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác động tiêu
Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 12 cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi
phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại,…) hoặc những hành vi cạnh tranh
làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái.
- Quan điểm về cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh không lành mạnh là bất cứ hành động nào trong hoạt động kinh tế trái
với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách hàng. Và cũng gần như sẽ
không có người thắng nếu việc kinh doanh được tiến hành giống như một cuộc chiến.
Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt chỉ dẫn đến kết cục thảm hại của những địch thủ
tranh đấu trong thương trường. Hậu quả thường thấy sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là
sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi.

- Quan điểm về cạnh tranh lành mạnh
Trong bối cảnh thương trường là một thương trường toàn cầu hóa của một thế giới
đang đi trên một tiến trình hội nhập. Thế giới hội nhập là một thế giới cạnh tranh. Các
loại rào chắn bị dỡ bỏ. Trên một sân chơi bình đẳng, các nguồn lực của thế giới đang
tranh nhau để được sử dụng theo cách tốt nhất, nghĩa là phải trả chi phí thấp hơn nhưng
có sản phẩm tốt hơn. Đó chính là ý nghĩa tích cực của một môi trường cạnh tranh tự do
trên một sân chơi ngang bằng. Doanh nghiệp cần phải lắng nghe khách hàng, hợp tác với
các nhà cung cấp, lập ra các nhóm mua hàng và xây dựng những quan hệ đối tác chiến
lược (thậm chí là với đối thủ cạnh tranh). Thực tế là hầu hết các doanh nghiệp chỉ thành
công khi những người khác thành công. Đây là sự thành công cho cả đôi bên nhiều hơn là
cạnh tranh làm hại lẫn nhau. Cạnh tranh không phải là “chiến tranh” và cũng không phải
là “hòa bình”. Cạnh tranh không còn là những động thái của tình huống, không phải chỉ

với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường ”.

1.1.3. Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Tổng hợp các trường phái lý thuyết, trên cơ sở quan niệm năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của
sản phẩm và dịch vụ trên thị trường, thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể
được xác định trên 4 nhóm yếu tố sau:

Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 14
1.1.3.1. Các yếu tố bản thân doanh nghiệp:
Các yếu tố về bản thân doanh nghiệp bao gồm:
Các yếu tố về con người (chất lượng, kỹ năng làm việc );
Các yếu tố về trình độ (khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thị trường);
Các yếu tố về vốn… các yếu tố này chia làm 2 loại:
Loại 1: các yếu tố cơ bản như: môi trường tự nhiên, địa lý, lao động;
Loại 2: các yếu tố nâng cao như: thông tin, lao động trình độ cao…
Trong đó, yếu tố về trình độ có ý nghĩa quyết định đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Chúng quyết định lợi thế cạnh tranh ở độ cao và những công nghệ có tính
độc quyền. Trong dài hạn thì đây là yếu tố có tính quyết định phải được đầu tư chuyên
sâu.
1.1.3.2. Nhu cầu của khách hàng:
Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp. Thực tế cho
thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu
của khách hàng. Thường thì DN có lợi thế về mặt này thì có hạn chế về mặt khác. Vấn đề

Trong thời gian gần đây, cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước đối với các DN
đã từng bước được hoàn thiện. Động lực kinh doanh đã được phát huy, nhiều rào cản đã
được loại bỏ, tạo điều kiện cho mọi DN hoạt động trong và ngoài nước. Một số công cụ
chính sách vĩ mô đã phát huy tác dụng như: Luật DN, Nghị định 90, Quỹ hỗ trợ DNVVN,
cơ chế tín dụng… Tuy nhiên, còn nhiều việc phải làm trên con đường hoàn thiện hệ
thống chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô nhằm tăng cường sức cạnh tranh, thúc đẩy sự
phát triển năng động và có hiệu quả của DNVVN.
Chính phủ và các cơ quan nhà nước cần góp phần mạnh mẽ hơn nữa trong việc
xây dựng và hỗ trợ phát triển các DN. Các công cụ chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ
trên các mặt khác nhau là rất cần thiết. Môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý và các
nhân tố xã hội có ảnh hưởng rất lớn đối với doanh nhân và nền kinh tế của đất nước. Do
đó, thông qua chủ trương chính sách cụ thể, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi hơn
cho hoạt động kinh doanh phát triển, qua đó hình thành một khu vực DN hoạt động có
hiệu quả và phát triển bền vững. Sự phát triển của khu vực này sẽ góp phần đắc lực trong
tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển phồn thịnh của nước nhà.
Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 16

1.2. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP KHI GIA NHẬP WTO
Ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), đánh dấu một bước chuyển về chất trong tiến trình mở cửa và hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam khởi đầu từ giữa những năm 1980.

1.2.1. Cơ hội khi Việt Nam gia nhập WTO
Gia nhập WTO nhằm tạo môi trường để các nền kinh tế phát triển. Đối với Việt

Việt Nam trong năm 2009 sang các thị trường chủ yếu đều giảm so với năm 2008.

Bảng 1: Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong năm 2009
Mặt hàng
Kim ngạch xuất khẩu
năm 2009 (tỷ USD)
% thay đổi về lượng
(so với cùng kỳ 2008)
% thay đổi về kim ngạch
(so với cùng kỳ 2008)
Dầu thô
6,2
-2,4
-40
Gạo
2,7
25,4
-8
Cà phê
1,7
10,2
-19
Than đá
1,3
29,9
-4,5
Cao su
1,2
10,3
-25,2

lợi thế cạnh tranh của một số mặt hàng có thể bị giảm sút, do đó những ngành này có thể
gặp khó khăn trong xuất khẩu và cả trong sản xuất.

2 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh.
Đây là tác động hữu hình dễ nhận thấy từ việc Việt Nam gia nhập WTO.
- Mức vốn đầu tư nước ngoài với các cam kết thể hiện trong năm 2006 là 12 tỷ
USD; năm 2007 là 21 tỷ USD; năm 2008 vọt lên 71 tỷ USD.
- Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu, khi sản xuất
trong nước còn gặp nhiều khó khăn tồn kho sản xuất công nghiệp lớn, thì kết quả
thu hút và giải ngân vốn FDI năm 2009 là điểm sáng trong bức tranh kinh tế chung
của Việt Nam. Từ quý II/2009, khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi thì kết quả thu
hút vốn FDI cũng có nhiều dấu hiệu khả quan. Theo thống kê, mức vốn FDI đăng
kí năm 2009 ở mức 21,4 tỷ USD tương đương số vốn đăng kí và tăng thêm của
năm 2007.
- Sau ba năm chính thức trở thành thành viên của WTO , Việt Nam đã thu hút được
số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng kí hơn 114 tỷ USD với hơn 4000 dự án
đầu tư nước ngoài, cao hơn 4,5 lần so với mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 5 năm
2006-2010.
Với việc gia nhập WTO , Việt Nam trở thành nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước
ngoài vào một số ngành như điện tử, tin học , dệt may, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm…
số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những ngành đó sẽ ngày càng tăng. Cùng với vốn,
các nhà đầu tư nước ngoài đã và sẽ tiếp tục mang công nghệ hiện đại, phương thức quản
lý tiên tiến vào Việt Nam , tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực có
kĩ năng nói riêng và các ngành công nghiệp, dịch vụ nói chung.

Kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong ba năm qua là thành quả của Chính
phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý hoạt động đầu tư nước
ngoài. Môi trường đầu tư - kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được cải thiện và được cộng
Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 20 - Trong năm 2009, mặc dù kim ngạch xuất khẩu chung giảm, nhưng xét về lượng
nhiều ngành vẫn có sự gia tăng đáng kể với sản phẩm gạo tăng 25,4%, cà phê tăng
10,2%, than đá tăng 29,9% và cao su tăng 10,3%. 4 - Hệ thống phân phối dần được cải thiện
Việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO đã tác động tích cực và mang lại
nhiều cơ hội đối với lĩnh vực phân phối; đó là sự khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo
động lực cho sự phát triển của thị trường phân phối của Việt Nam. Có thể thấy rằng, sự
xuất hiện của các “đại gia” bán lẻ quốc tế đã làm thay đổi diện mạo của thị trường bán lẻ
ở Việt Nam. Bên cạnh đó, nhượng quyền thương mại cũng có nhiều tiềm năng phát triển.
Trung Nguyên và Kinh Đô là hai doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực này. Điều này
đã thúc đẩy sự phát triển của thị trường bán lẻ trong nước. Ví dụ, tổng công ty thương
mại Sài Gòn đã đề ra chương trình phát triển hệ thống phân phối của mình bằng cách
nâng cấp các cơ sở hiện có, xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại và chợ đầu mối
lớn.
Tuy nhiên, cùng với những tác động tích cực đối với hệ thống phân phối từ việc
gia nhập WTO, có nguy cơ thị trường Việt Nam bị thao túng bởi các công ty đa quốc gia
thông qua các cam kết về mở cửa thị trường. Sự hiện diện của các nhà bán lẻ chuyên
nghiệp nước ngoài sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh lớn đối với các nhà bán lẻ nội địa. Trên
thực tế, các công ty Việt Nam đều có quy mô nhỏ, mới được thành lập và yếu về khả
năng cạnh tranh, đặc biệt là trong khâu quản lý chất lượng Nếu không nhanh chóng đổi
mới phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu thì khi các nhà
bán lẻ nước ngoài đã đủ mạnh, hoàng hóa Việt Nam sẽ mất chỗ đứng ngay ở chính sân

hàng như may mặc, giày dép, một số sản phẩm nông nghiệp.
1.2.2. Thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO
1 - Về ban hành chính sách
Qua quá trình dài 3 năm, việc ban hành chính sách của Việt Nam đã minh bạch
hơn, nhưng vấn đề khó tiên liệu của chính sách thì vẫn còn. Đây chính là điểm yếu của
hoạch định chính sách, nhất là trong môi trường bị tác động rất lớn từ bên ngoài. Việc tạo
dựng lòng tin trên thị trường là rất quan trọng. Nếu việc tiên liệu chính sách quá khó thì
Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 22 sẽ làm xói mòn lòng tin. Đây là điểm cần phải được cải thiện. Lấy ví dụ trong lĩnh lực
nông nghiệp, việc cắt giảm thuế đột ngột và thiếu hàng rào kỹ thuật đã khiến thị trường
thịt nhập khẩu ồ ạt tràn vào Việt Nam trong năm 2009 làm ảnh hưởng đến sản xuất trong
nước.

2 – Phối hợp hạn chế giữa các cơ quan, bộ ngành
Một vấn đề liên quan tới ban hành chính sách là việc phối hợp giữa các cơ quan
bộ, ngành còn hạn chế, làm giảm hiệu quả đánh giá chính sách xác thực hơn. Còn khoảng
cách khá xa giữa thực tế và yêu cầu về tính chuyên nghiệp, minh bạch và khả năng giải
trình của bộ máy nhà nước, trong khi hệ thống động lực ( lương, thưởng, ) cho công thức
còn nhiều méo mó. Phối hợp giữa các bộ, ngành trong hoạt động đối ngoại còn chưa chặt
chẽ, nhất quán. Đây là một thực tế cho thấy Việt Nam vẫn chưa chuẩn bị tốt cho quá trình
hội nhập.

3- Năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam
còn thấp
Năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm của Việt Nam còn thấp và

các chính sách thu hút và điều tiết phù hợp hơn thì FDI sẽ không nhất thiết luôn là nguồn
vốn ổn định và tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế -xã hội một cách bền vững. Đây là
những thách thức rất lớn đối với việc xây dựng cạnh tranh thu hút vốn FDI của Việt Nam
ngay cả khi Việt Nam là thành viên của WTO.

5 - Nông nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn
Đối với Việt Nam, khả năng mở rộng thị trường được đánh giá là một trong các cơ
hội với nông nghiệp khi gia nhập WTO. Hiện nay, thị trường tiêu thụ nông sản được mở
rộng bên cạnh các thị trường truyền thống, là các thì trường Mỹ, EU , Nhật , châu Phi.
Nền nông nghiệp đã bắt đầu được hưởng lợi từ chuyển giao khoa học công nghệ về giống
cây trồng, vật nuôi…sát với giá thị trường thế giới. Nét nổi bật trong hoạt động xuất khẩu
nông sản, thuỷ sản đó là việc tăng nhanh về số lượng, thì người sản xuất và DN xuất khẩu
cũng đã chú ý đến chất lượng và độ an toàn thực phẩm.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, xuất khẩu hàng nông, lâm thuỷ sản của Việt Nam
hầu như chưa có sự thay đổi đột biến. Tuy kim ngạch xuất khẩu của nông sản có tăng hơn
Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Tháng 7 - 2010

Page 24 so với năm 2006, nhưng tốc độ tăng đó lại chậm hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thị
trường nói chung. Từ đó có thể xác nhận rằng , việc thực hiện cam kết gia nhập WTO
trong những năm đầu tiên này hầu như chưa có tác động lớn tới xuất khẩu hàng nông sản
Việt Nam.

6 - Gia tăng bất bình đẳng xã hội
Tốc độ kinh tế tăng trưởng cao hơn tất yếu sẽ làm thay đổi nhiều về mặt xã hội,
trong đó có thể làm tăng gia tăng bất bình đẳng xã hội bởi sự chênh lệch trong đầu tư FDI
giữa các vùng, bởi cơ hội việc làm và thu nhập là khác nhau giữa nhiều nhóm xã hội, sự

giá;
- Bốn, tăng cường áp dụng các biện pháp cạnh tranh phi giá để nâng cao năng lực
cạnh tranh của hàng xuất khẩu thay vì cạnh tranh bằng giá thấp;
- Cuối cùng, các DN cần xây dựng hệ thống thông tin, sổ sách kế toán minh bạch và
phù hợp với chuẩn quốc tế.
Như vậy, sau ba năm gia nhập WTO, muốn tiếp tục phát huy được những thời cơ
và thuận lợi, hạn chế; những khó khăn thách thức về kinh tế, xã hội, đến thời điểm này,
Việt Nam cần phải tăng tốc cải cách, nâng cao chất lượng tăng trưởng và nâng cao năng
lực cạnh tranh của các ngành cũng như các DN. Có thể thấy rằng gia nhập WTO là sự
đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của Việt Nam. Dù đó là nhiệm vụ đầy khó khăn, trở
ngại, nhưng Việt Nam hoàn toàn có thể hoàn thành khi giải quyết thành công những
thách thức trên con đường phát triển.

Trích đoạn Các thông tin cơ bản Sơ đồ bộ máy tổ chức TBSC Tình hình nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới Định hướng chiến lược đầu tư phát triển
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status