Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp 1
Học viện Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa, đặc biệt dưới tác động mạnh
mẽ của nhiều yếu tố trong nền kinh tế dẫn đến nhiều biến động đã và đang tạo ra
những cơ hội cũng như những thách thức, khó khăn cho các doanh nghiệp.
Việt Nam ra nhập WTO đã tạo cho các doanh nghiệp có nhiều cơ hội và
thách thức mới. Thách thức trước hết phải kể tới đó là các doanh nghiệp Việt
Nam phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài
không những trên thị trường quốc tế mà còn ở ngay thị trường nội địa.
Thực tế cho thấy, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn yếu
kém về khả năng cạnh tranh. Hàng hóa được sản xuất ra có chất lượng chưa
tốt, giá thành cao nên khó cạnh tranh với các hàng hóa cùng loại trên thị
trường thế giới. Chính vì vậy, việc nâng cao sức cạnh tranh của các DN Việt
Nam hiện nay đã trở thành nhu cầu tất yếu. Vấn đề tài chính đóng vai trò quan
trọng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, việc đánh giá và đưa ra các
giải pháp tài chính đúng đắn sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện được các mục
tiêu chiến lược trong kinh doanh của mình. Để nhận thức rõ thực trạng và có
thể kiến nghị về các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, em đã chọn đề tài: “Giải pháp tài chính
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
trong điều kiện hội nhập”.Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng về sử dụng các biện pháp tài chính nhằm nâng
cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua.
Chương 3: Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp Việt Nam.
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 2

hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. Hiện nay năng lực cạnh tranh được
chia theo các cấp khác nhau, ít nhất bao gồm 4 ấp độ là:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia xét trong quan hệ giữa các quốc
gia trên phạm vi toàn cầu.
- Năng lực cạnh tranh quốc gia xét trong quan hệ giữa các quốc
gia trên phạm vi toàn cầu.
- Năng lực cạnh tranh công ty (hay doanh nghiệp) xét trong quan
hệ giữa các tập đoàn công ty, giữa các ngành hàng.
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 4
Học viện Ngân hàng
- Năng lực cạnh tranh sản phẩm xét trong quan hệ với các sản
phẩm cùng loại hoặc có khả năng gây tranh chấp trên thị trường trong và
ngoài nước
1.1.2. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được đánh giá bằng một
số chỉ tiêu sau:
- Sự tăng trưởng về sản xuất
- Khả năng mở rộng thị trường
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh
- Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước
- Mức thu nhập bình quân của người lao động
Sự tăng trưởng về sản xuất và khả năng mở rộng thị trường phụ thuộc rất
lớn vào các yếu tố như chất lượng sản phẩm, giá thành và giá cả của doanh
nghiệp, uy tín của Doanh nghiệp trên thị trường…
|Chất lượng sản phẩm là chỉ tiêu quan trọng nhất biểu hiện khả năng cạnh
tranh hàng hoá của doanh nghiệp.Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết
định khả năng cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp
Giá của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan
hệ cung cầu tức là thông qua sự thoả thuận giữa người mua và người bán để

- Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong phát triển và tồn tại bền
vững của các doanh nghiệp, muốn phát triển nhanh và bền vững, chúng ta
phải tạo dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và có chính sách phát huy tối đa
nguồn nhân lực đó.
- Nguồn lực về vật chất kỹ thuật: Thông thường nguồn lực vật chất kỹ
thuật thể hiện ở:
+ Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện tại của doanh nghiệp và khả năng
có được các công nghệ tiên tiến.
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 6
Học viện Ngân hàng
+ Quy mô và năng lực sản xuất: Quy mô và năng lực sản xuất lớn giúp
doanh nghiệp tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn, nhờ đó hạ được giá thành
sản phẩm, từ đó có thể chiếm lĩnh hoặc giữ vững thị trường trên nhiều lĩnh
vực khác nhau, tránh sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh.
- Nguồn lực về tài chính: Khả năng tài chính có ảnh hưởng rất lớn tới sức
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Nếu một doanh nghiệp có tình
trạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn là lớn sẽ cho phép doanh nghiệp có
nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và máy móc
thiết bị, đồng thời tăng khả năng hợp tác đầu tư về liên doanh liên kết.
- Trình độ tổ chức quản lý: Trình độ tổ chức quản lý được thể hiện
thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu
không khí và đặc biệt là nề nếp hoạt động của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các thành viên và
biến thành sức mạnh tổng hợp thông qua tổ chức doanh nghiệp đó sẽ tận dụng
được những lợi thế tiềm ẩn của tổ chức mình. Không thể nói doanh nghiệp có
được một cấu trúc tốt nếu không có một sự nhất quán trong cách nhìn nhận về
cơ cấu doanh nghiệp.
Những nhân tố này có tính quyết định đến năng suất, chất lượng sản
phẩm và do đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp.

điều kiện cho các DN phát triển sản xuất kinh doanh trên cơ sở cạnh tranh
lành mạnh, bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế, thúc đẩy các DN vươn lên làm ăn
có hiệu quả.
- Chính sách thuế với tỷ lệ động viên hợp lý tạo điều kiện cho các DN
tích tụ vốn để đầu tư phát triển, giúp các DN trong việc đầu tư chiều sâu, đổi
mới kỹ thuật, công nghệ, mở rộng lưu thông hàng hóa, khuyến khích sản xuất
và xuất khẩu.
- Việc bảo hộ hợp lý và có chọn lọc bằng các biện pháp thuế một mặt
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 8
Học viện Ngân hàng
tránh được sự trì trệ, mặt khác lại giúp các DN có điều kiện nâng cao khả
năng cạnh tranh, sẵn sàng tham gia hội nhập khu vực và quốc tế.
- Chính sách thuế đảm bảo tính thống nhất, tương đồng với hệ thống thuế
quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các DN trong nước phát triển sản xuất kinh doanh
trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài.
b. Các giải pháp điều hành giá
Chính sách lãi suất: Lãi suất là giá cả mà người đi vay phải trả cho
người cho vay để dược quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định. Lãi
suất vừa tạo điều kiện, vừa gây sức ép buộc các DN phải tìm mọi biện pháp
nâng cao hiệu quả kinh doanh để có thể trả được lãi mà vẫn đảm bảo có lợi
nhuận. Như vậy chỉ có những DN làm ăn có hiệu quả mới dám sử dụng vốn
vay để đầu tư đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất, mở rộng quy mô hoạt
động kinh doanh.
Một chính sách lãi suất bình đẳng với tất cả các loại hình DN, các thành
phần kinh tế sẽ tạo tiền đề cho việc nâng cao khả năng cạnh tranh cảu các DN.
Cơ chế lãi suất thị trường còn khuyến khích các tổ chức tín dụng cạnh tranh
với nhau và kết quả là lãi suất cho vay giảm, tạo điều kiện cho các DN có thể
giảm chi phí sử dụng vốn, hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận.
Chính sách tỷ giá: Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về mặt giá cả giữa

Đổi mới công nghệ sẽ giúp DN, nhà sản xuất cải thiện, nâng cao chất lượng sản
phẩm, củng cố, duy trì và mở rộng thị phần của sản phẩm; đa dạng hóa mẫu mã sản
phẩm, giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao mức
độ an toàn sản xuất cho người và thiết bị, giảm tác động xấu đến môi trường. Đặc
biệt, về mặt lợi ích thương mại, nhờ đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm được
nâng lên đồng nghĩa với việc DN sẽ tạo được ưu thế vững vàng trên thị trường cạnh
tranh. Kỹ thuật và công nghệ hiện đại sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể sản xuất ra
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 10
Học viện Ngân hàng
những sản phẩm có chất lượng cao và giá thành hạ. Đây chính là những điều kiện
hết sức cơ bản để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
b.Đầu tư cho yếu tố con người
Trong điều kiện xã hội phát triển như ngày nay, nhu cầu của con người
ngày càng đòi hỏi cao hơn theo tiêu chí là giá cả không ngừng giảm xuống,
chất lượng sản phẩm không ngừng được cải tiến. Vì vậy các doanh nghiệp
muốn tồn tại phải chú trọng đến việc đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao
hàm lượng chất xám có trong một sản phẩm, tăng năng suất lao động, hạ giá
thành sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo chất lượng. Làm được điều này đòi hỏi
phải có đội ngũ với nhân viên năng động, luôn bám sát nhu cầu thị hiếu của
khách hàng, kịp thời đáp ứng nhanh nhất theo sự thay đổi đó.
Mặt khác ngày nay khoa học kỹ thuật thay đổi rất nhanh chóng, vòng
đời công nghệ cũng như các sản phẩm có xu hướng ngày càng bị rút ngắn.
Bởi vậy doanh nghiệp luôn phải đảm bảo cóđội ngũ nhân viên đáp ứng kịp
thời với sự thay đổi đó. Chính vì vậy, việc đầu tư cho con người đóng một vai
trò rất quan trọng. Cần nâng cao trình độ kỹ thuật cho người lao động.
c. Đầu tư cho hoạt động Marketting của doanh nghiệp.
Ngày nay Marketing là một hoạt động không thể thiếu cho sự tồn tại và
phát triển của mỗi doanh nghiệp. Ở đây nhiệm vụ chính là phân tích các nhu
cầu thị hiếu, nhu cầu thị trường và hoạch định các chiến lược hữu hiệu về sản

Thực hiện tín dụng ưu đãi
Ngoài các biện pháp ưu đãi về thuế, Chính phủ các nước còn hết sức
chú trọng đến các biện pháo ưu đãi về tín dụng cho các doanh nghiệp. Trung
Quốc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy, công xưởng khi
hỗ trợ vay vốn lãi suất chỉ từ 1-2%. Những điều kiện đó nhằm giúp doanh
nghiệp Trung Quốc có thể sản xuất ra những sản phẩm số lượng lớn với chi
phí rẻ nhất. Hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy đổi mới thiết bị và công nghệ
Chính phủ Hàn Quốc cho phép các DNNN giảm trừ khỏi thu nhập chịu
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 12
Học viện Ngân hàng
thuế các chi phí đầu tư vào phát triển công nghệ và con người, các chi phí đào
tạo nghề nghiệp, chi phí áp dụng công nghệ mới. Các khoản thu nhập từ
chuyển giao công nghệ mới không phải tính vào thu nhập chịu thuế. Chính
phủ cũng thành lập Công ty phát triển công nghiệp nhằm điều phối việc trợ
giúp về tài chính và kỹ thuật cho các DNNN: lập và thực hiện chương trình
hiện đại hóa, chương trình cho thuê trang thiết bị, hỗ trợ thành lập các DN.
- Hỗ trợ tài chính đẩy mạnh xuất khẩu
Ở các nước khác như: Nhật Bản, Ấn Độ, việc thực hiện hỗ trợ tín dụng
cho xuất khẩu được thực hiện qua nhiều tổ chức của Nhà Nước như: Ngân Hàng
Xuất nhập khẩu, quỹ bảo lãnh tín dụng, công ty bảo hiểm xuất khẩu.
Như vậy mỗi quốc gia đều thực hiện một giải pháp tài chính riêng phù
hợp với từng điều kiện kinh tế của mình nhằm hỗ trợ, ưu đãi về tài chính cho
các DN từ đó giúp các DN nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trong sản
xuất kinh doanh trên thị trường nội địa cũng như trên thị trường quốc tế.
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm về việc sử dụng các biện pháp tài chính
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
Từ việc nghiên cứu các biện pháp tài chính được sử dụng ở một số nước
trên thế giới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, có thể
rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam như sau:

triển của mỗi doanh nghiệp. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, trong đó tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng.
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 14
Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TÀI CHÍNH
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1. Giới thiệu về các doanh nghiệp Việt Nam
2.1.1. Đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam
Theo Luật doanh nghiệp 2005 thì: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo
quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”
Những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay:
- Hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội: sản
xuất, thương mại, dịch vụ…
- Các loại hình doanh nghiệp gồm có:
+ Doanh nghiệp Nhà nước
+ Công ty cổ phần
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Doanh nghiệp tư nhân
+ Công ty hợp danh
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Mỗi loại hình kinh doanh có những ưu, nhược điểm riêng, phù hợp
với quy mô và trình độ phát triển nhất định. Trong đó, DNNN đóng vai trò
chủ đạo, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển và có tầm quan
trọng đặc biệt trong việc thực hiện các mục tiêu Kinh tế- xã hội của đất nước.
Theo kết quả thống kê trên có gần 450.000 doanh nghiệp (tại thời điểm
31/12/2010) trong đó doanh nghiệp ngoài Nhà nước chiếm khoảng 96,5%, các

Dưới sự điều hành và chỉ đạo của Chính Phủ, đội ngũ doanh nghiệp
Việt Nam tham gia thương trường thế giới ngày càng đông. Sản phẩm của
doanh nghiệp nào đó muốn có mặt trên thị trường quốc tế phải có sức mạnh
thị trường, sức mạnh cạnh tranh của hàng hoá. Tính cạnh tranh của hàng hóa
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 16
Học viện Ngân hàng
thể hiện ở chất lượng, hình thức mẫu mã, bao bì đẹp, giá cả hợp lý phù hợp
với thị hiếu của người tiêu dùng ưa chuộng và chấp nhận.
2.2. Thực trạng sử dụng các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
2.2.1. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế, đã có một số doanh nghiệp nước
ta nhờ có những định hướng phát triển đúng nên đã vươn lên nâng cao được
năng lực cạnh tranh, tạo ra những sản phẩm đẩy lùi hàng nhập ngoại và từng
bước mở rộng xuất khẩu. Bên cạnh đó còn hạn chế nhất định mà các doanh
nghiệp Việt Nam đang đứng trước các thách thức lớn về năng lực cạnh tranh .
- Về công nghệ: Trong những năm qua, có nhiều doanh nghiệp đã đánh
giá đúng vai trò của việc đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất nên đã có
những quyết định đúng trong việc đầu tư công nghệ và thiết bị phù hợp, đạt
trình độ công nghệ tiên tiến. Từ đó, tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt,
giá thành hạ, không những đẩy lùi hàng ngoại trên thị trường trong nước mà
còn có khả năng vươn ra thị trường khu vực và trên thế giới.
Ngành cơ khí được coi là lạc hậu trước đây, nhờ quá trình đổi mới công
nghệ năng lực sản xuất đã tăng lên, đáp ứng được 60% nhu cầu máy nông
nghiệp trong nước, 25% máy loại nhẹ phục vụ nông nghiệp, 30% máy xây
dựng và khai thác mỏ, 20% phương tiện vận tải. Trong ngành sản xuất giày
dép phần lớn tiến bộ công nghệ dựa vào việc sử dụng thành quả khoa học
trong chế tạo máy. Máy thay thế bàn tay, sức lực của con người để thực hiện

- Về vốn của doanh nghiệp: Đa phần các doanh nghiệp đang hoạt động
trong tình trạng không đủ vốn cần thiết, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ
đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh trên thị trường trong
nước và quốc tế. Theo điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê năm
2012 cho thấy, vốn bình quân của một doanh nghiệp ở nước ta khoảng 26,69
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 18
Học viện Ngân hàng
tỷ đồng/doanh nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước có vốn bình quân cao nhất
với 550,1 tỷ đồng/doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước (bao
gồm cả doanh nghiệp vừa và nhỏ) có mức vốn 9,8 tỷ đồng/doanh nghiệp,
công ty cổ phần (không có vốn nhà nước) là 24,4 tỷ đồng/doanh nghiệp
Mức vốn thấp của doanh nghiệp cản trở đến khả năng đổi mới công nghệ và
nâng cao trình độ quản trị các yếu tố sản xuất, hạn chế mở rộng nghiên cứu
phát triển sản phẩm mới và phát triển nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật
cao của doanh nghiệp. Mặt khác, trong môi trường toàn cầu hoá kinh tế, việc
không ngừng nâng cao tỷ trọng hàng xuất khẩu cũng như mức độ chế tác của
hàng xuất khẩu cũng phản ánh khả năng cạnh tranh kinh doanh và cạnh tranh
nhân lực của doanh nghiệp. Theo số liệu của VCCI ( Phòng thương mại và
công nghiệp Việt Nam) về năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp, hiện nay
mới chỉ có khoảng 23,8% doanh nghiệp có hàng xuất khẩu, 13,7% doanh
nghiệp có triển vọng xuất khẩu và 62,5% doanh nghiệp hoàn toàn chưa có khả
năng tham gia xuất khẩu. Xét về cơ cấu xuất khẩu có tới 60% hàng xuất khẩu
là nông sản, thuỷ sản và chỉ có 40% là hàng công nghiệp, chủ yếu vẫn là xuất
khẩu nguyên liệu thô, hoặc mới qua sơ chế, sử dụng công nghệ có giá trị thấp.
Điều đó cho thấy, các doanh nghiệp đã quan tâm đến đa dạng hoá mẫu mã
kiểu dáng sản phẩm, chú trọng xây dựng thương hiệu hàng hoá, dịch vụ, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, nhưng chất lượng hàng hoá, dịch vụ của Việt
Nam vẫn thấp, chưa thâm nhập hàng loạt được vào các thị trường có yêu cầu
chất lượng cao. Đồng thời, do hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu có hàm lượng

Chưa
qua đào
tạo
Công nghiệp và
khai thác mỏ
0,02 0,04 4,00 0,96 3,72 27,47 63,79
Công nghiệp chế
biến
0,01 0,04 3,38 0,73 3,00 16,30 76,15
Điện, khí đốt và
nước
0,02 0,12 15,48 2,13 12,70 56,70 12,85
Xây dựng 0,07 0,09 10,73 1,15 7,10 33,50 47,36
Thương nghiệp
và sửa chữa xe
0,03 0,07 5,37 1,07 5,50 6,20 81,76
Khách sạn và
nhà hàng
0,00 0,02 2,40 0,60 3,10 4,37 89,59
Vận tải kho bãi,
thông tin
0,02 0,01 7,77 1,50 6,27 32,50 51,80
Tài chính, tín
dụng
0,09 0,95 40,00 7,70 24,26 12,64 14,36
Khoa học và
công nghệ
7,8 6,34 47,70 1,96 12,78 18,90 4,52
Kinh doanh tài
sản và tư vấn

Học viện Ngân hàng
Bảng 2.2: Trình độ giám đốc theo loại hình doanh nghiệp, đơn vị %
so tổng số của từng loại hình doanh nghiệp
Tiến sỹ Thạc sỹ Cử
nhân, kỹ

Cao
đẳng
Trung
học
chuyên
nghiệp
Công
nhân kỹ
thuật
Chưa
qua đào
tạo
Chung 0,53 1,153 36,16 2,96 15,82 12,06 31,4
DN nhà nước 2,14 2,8 85,4 1,23 5,22 0,42 2,79
DN ngoài nhà
nước
0,48 0,85 30,5 3,12 11,9 9,77 43,38
DN FDI 2,87 8,2 71,6 2,68 1,83 1,27 11,55
Nguồn: Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Đáng lưu ý là trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, tỷ lệ giám đốc có
trình độ đại học trở lên còn thấp (31,8%), tỷ lệ giám đốc chưa qua đào tạo
chuyên môn kỹ thuật rất cao (43,4%). Ngoài ra, trong các doanh nghiệp vừa
và nhỏ một bộ phận lớn giám đốc điều hành doanh nghiệp có hạn chế lớn về
các mặt: kiến thức quản trị doanh nghiệp hiện đại, phát triển kinh doanh theo

-Thuế góp phần khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ sản xuất trong
nước: theo quy định của Luật thuế GTGT hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận
tải quốc tế được hưởng thuế suất 0%, tức là được hoàn toàn bộ số Thuế
GTGT đã nộp ở đầu vào, thực chất đây là việc trợ giá của Nhà nước cho hàng
hóa xuất khẩu, bởi vậy đã khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa
xuất khẩu. Do các đối tác đều áp dụng Thuế GTGT nên việc thay Luật thuế
doanh thu bằng Luật thuế GTGT đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt
Nam có cùng mặt bằng cạnh tranh với các đối tác nước ngoài. Do vậy Thuế
GTGT chính là một yếu tố quan trọng tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh
tranh và khuyến khích hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp.
Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu cũng tạo điều kiện rất lớn cho các
doanh nghiệp Việt Nam: Các doanh nghiệp sẽ được miễn thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu, miễn thuế lần đầu đối với hàng hóa là trang thiết bị nhập khẩu theo
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 23
Học viện Ngân hàng
danh mục quy định của Chính phủ . Những chính sách này đã tạo điều kiện giúp
các doanh nghiệp giảm chi phí, hạ giá thành và tăng năng lực cạnh tranh của
hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Việc thường xuyên điều chỉnh thuế suất Thuế nhập khẩu theo hướng
những sản phẩm trong nước sản xuất được thì có mức thuế suất cao còn đối với
những vật tư, nguyên liệu, máy móc thiết bị mà trong nước chưa sản xuất được
thì có mức thuế suất thấp hơn đã có tác dụng bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến
khích sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
trong nước chiếm lĩnh thị trường nội địa.
- Thuế đã tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp và từng bước phù hợp
với thông lệ quốc tế.
Với việc điều chỉnh sắp xếp lại từ 11 mức thuế suất Thuế doanh thu
xuống còn 3 mức Thuế GTGT và từ 3 mức thuế suất Thuế lợi tức xuống còn 1
mức thuế suất Thuế TNDN. Từ đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải phấn đấu sắp

tạo được miễn thuế nhập khẩu… Những quy định miễn giảm như vậy dễ dẫn
đến hiện tượng lợi dụng để trốn thuế, lậu thuế, ảnh hưởng đến trật tự công
bằng xã hội.
-Hệ thống chính sách còn nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc
tế do biểu Thuế nhập khẩu của nước ta so với các nước là tương đối phức tạp
và không phù hợp với quy định của WTO.
-Việc quy định đối tượng, phạm vi áp dụng và các mức thuế suất Thuế
GTGT còn nhiều bất cập. Luật thuế GTGT hiện hành quy định 28 nhóm hàng
hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT, sẽ không còn phù hợp trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội do không đảm bảo tính liên hoàn trong việc khấu trừ
thuế đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp
Về thuế suất thuế GTGT thì năm 1997, khi ban hành Luật thuế GTGT,
ngoài thuế suất 0%, còn có 3 mức thuế suất: 5%, 10 % và 20%. Từ ngày 1
Đỗ Ngọc Bích Lớp: TCDNA - LTDH 8
Chuyên đề tốt nghiệp 25
Học viện Ngân hàng
tháng 4 năm 2004; áp dụng Luật sửa đổi bổ sung : bỏ thuế suất 20%, chỉ còn
2 thuế 5% và 10%. Trong đó 5 % là mức thuế suất ưu đãi, được áp dụng đối
với hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp hoặc phục vụ nhu
cầu thiết yếu của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, trước
những khó khăn của nền kinh tế, diện áp dụng mức thuế suất 5% cũng được
mở rộng và chưa theo đúng nguyên tắc nêu trên. Từ đó dẫn đến doanh nghiệp
sản xuất, kinh doanh một số hàng hoá, dịch vụ ở mức thuế suất này không
những không phải nộp thuế mà còn được hoàn thuế từ ngân sách Nhà nước,
do đó, cần thiết rà soát lại diện áp dụng mức thuế suất 5% để phù hợp với
thực tiễn. Mặt khác, tiêu chí phân định ranh giới áp dụng mức thuế suất 5%
và 10% chưa rõ ràng dẫn đến việc áp dụng mức thuế suất không thống nhất,
nảy sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Luật thuế GTGT hiện hành quy định căn cứ khấu trừ, hoàn thuế GTGT
đầu vào là hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ. Thực tiễn quản lý thuế thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status