Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 1 K33A - GDCD LỜI CẢM ƠN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
********
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 2 K33A - GDCD
Tác giả khóa luận xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo trong khoa
GDCT, các thày cô trực tiếp giảng dạy bộ môn kinh tế chính trị, cùng các
thày cô trong thư viện trường ĐHSPHN 2 đã tạo điều kiện cho em hoàn thành
tốt khóa luận của mình.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Ths Trần Thị Hồng Loan cô đã
tận tình quan tâm, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này trong
suốt thời gian qua.
Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế” là một đề tài hay và hấp dẫn. Song do thời gian có hạn
cũng như sự hạn chế về khả năng, khóa luận không tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót. Kính mong thày cô và các bạn đọc xem xét và đóng góp ý kiến.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả khóa luận
PHẠM THỊ HIẾU
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 3 K33A - GDCD
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn của Ths Trần Thị Hồng Loan.
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu của khóa luận
chưa từng được công bố ở bất kì một công trình nghiên cứu nào, đó
là kết quả đúng, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả khóa luận
PHẠM THỊ HIẾU
PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta hơn 20 năm qua đã giành
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việc nước ta trở thành thành
viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh, là sự kiện đánh dấu
bước tiến mới trên con đường chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,
phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong thời kì đổi mới.
Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho nền kinh tế nước ta
“vươn mình” trên trường quốc tế. Cùng với cơ hội và đồng hành với cơ hội
nền kinh tế, các doanh nghiệp nước ta cũng phải đối đầu với nhiều thách thức
lớn. Đó là sự cạnh tranh quyết liệt trên cả ba cấp độ (quốc gia, doanh nghiệp
và sản phẩm) do hàng rào bảo hộ bị dỡ bỏ, do phải thực hiện chế độ đãi ngộ
tối huệ quốc và đối xử quốc gia, nên các sản phẩm của nước ta phải cạnh
tranh bình đẳng với các sản phẩm nước khác không chỉ trên thị trường thế
giới mà ngay cả trên thị trường nội địa. Đó là một áp lực rất lớn đối với các
doanh nghiệp.
Theo đánh giá của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Ngân hàng thế giới
(WB)… về năng lực cạnh tranh toàn cầu (dựa trên 9 tiêu chí đánh giá gồm:
thể chế, cơ sở hạ tầng, kinh tế vĩ mô, giáo dục và y tế phổ thông, giáo dục đại
học, hiệu quả thị trường, độ sẵn sàng về công nghệ, mức độ hài lòng doanh
nghiệp, mức độ sáng tạo), năm 2010 Việt Nam được xếp hạng 59/139 quốc
gia. Mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được biểu hiện rõ nét ở năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế. Vì các doanh nghiệp đóng vai trò “chủ thể” là
“người xung trận”, là lực lượng trực tiếp đương đầu trong cạnh tranh.
Thực tế trong những năm qua các doanh nghiệp nước ta đã chi phối
được các ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm cần thiết của nền kinh tế.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 6 K33A - GDCD
TS Vũ Văn Phúc, “Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp”,
Tạp chí Cộng sản số 781, tháng11/2007. Và hàng loạt các bài nghiên cứu
tham luận khác được đăng trên tạp chí nghiên cứu kinh tế… Tuy nhiên các
bài viết đó mới dừng lại ở việc phân tích thực trạng năng lực canh tranh của
các doanh nghiệp Việt Nam, nguyên nhân làm hạn chế khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp. Chưa đưa ra được những giải pháp mang tính toàn diện
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong
thời kì hội nhập kinh tế quốc tế. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài em tập
trung vào nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ
Trên cơ sở những lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, tìm hiểu thực trạng và vạch rõ nguyên nhân làm hạn chế khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế. Đề tài tập trung nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp mang tính toàn diện
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Qua đó, giúp mỗi người tự nhận thức được vai
trò và nhiệm vụ của mình trong sự phát triển kinh tế đất nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung là rõ một số giải pháp
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu. Ngoài ra, còn sử dụng các
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 8 K33A - GDCD
phương pháp khác như: tổng hợp - phân tích, lịch sử - logic, thống kê, so
sánh… để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.
6. Kết cấu của khóa luận.
pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh” [11, 2].
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 10 K33A - GDCD
Như vậy, chúng ta có thể hiểu đơn giản: doanh nghiệp là một đơn vị
sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hoá lợi nhuận trên
cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người
tiêu dùng.
Có rất nhiều các loại hình doanh nghiệp khác nhau, hoạt động ở các
lĩnh vực khác nhau và có cách tổ chức, quản lý điều hành riêng. Song nó đều
mang những đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp nói chung, bao gồm các
đặc điểm sau:
Một là, mang chức năng sản xuất kinh doanh
Hai là, tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản, bên cạnh các
mục tiêu xã hội.
Ba là, phải chấp nhận cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Như vậy, để hiểu một cách đầy đủ về khái niệm doanh nghiệp, chúng ta
cần tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau và phải xem xét doanh nghiệp với tư
cách là chủ thể kinh tế.
1.1.2 Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Luật Doanh Nghiệp năm 2005 quy định các loại hình doanh nghiệp hoạt
động tại Việt Nam đó là: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh.
1.1.2.1 Doanh nghiệp nhà nước.
Trên thế giới, khi nghiên cứu hoặc dề xuất những phương án cải cách
doanh nghiệp nhà nước, các học giả thường có quan niệm khác nhau về bản
thân doanh nghiệp nhà nước. Mỗi quốc gia trong khái niệm doanh nghiệp nhà
nước có thể nhấn mạnh tiêu chí này hoặc tiêu chí khác. Chẳng hạn, Việt Nam
gọi là Xí nghiệp quốc doanh, sau này gọi là Doanh nghiệp nhà nước; Trung
Quốc gọi là Xí nghiệp quốc hữu…
Phạm Thị Hiếu 12 K33A - GDCD
độc lập nhưng chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản
mà chỉ quản lý và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của nhà nước, trong giới hạn
mà nhà nước cho phép. Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước và
doanh nghiệp nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc bảo
toàn và phát triển số vốn mà nhà nước giao cho để duy trì khả năng kinh
doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà
nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 50%
vốn điều lệ, nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó.
Thứ hai, Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế được tổ chức dưới
hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Điều đó có nghĩa là:
Doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ
chức, quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của luật này. Công ty nhà
nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà
nước.
Công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước, hoặc tổ
chức được nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo luật
doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên do nhà nước sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức và đăng ký hoạt động theo quy định
của luật doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có 2 thành viên
trở lên thì tất cả các thành viên công ty nhà nước hoặc có thành viên là công
ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được nhà nước uỷ quyền góp vốn,
được tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp.
Như vậy, từ khái niệm về doanh nghiệp nhà nước trong điều 1 Luật
doanh nghiệp nhà nước và từ sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng doanh
nghiệp nhà nước có đặc điểm chính sau:
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 13 K33A - GDCD
doanh nghiệp nhà nước có vai trò rất lớn.
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước giúp khắc phục những khuyết tật của
cơ chế thị trường và khu vực kinh tế tư nhân. Thể hiện rõ nét ở 2 lĩnh vực:
Vai trò chủ lực trong việc đảm nhận thị trường và các hàng hoá công
cộng.
Đảm nhận vai trò quan trọng trong các ngành độc quyền tự nhiên.
Thứ hai, đảm nhận các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh có tính chiến
lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi vốn đầu tư lớn, vượt quá
khỏi khả năng của tư nhân.
Thứ ba, tham gia vào những lĩnh vực mới, có hệ số rủi ro cao, tuy
nhiên không phải tất cả các doanh nghiệp nhà nước đều phải thực hiện vai trò
này mà chỉ một số doanh nghiệp đặc biệt, có quy mô lớn, được cơ quan nhà
nước quy định rõ ràng trong chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Thứ tư, tham gia vào một số doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh.
Thứ năm, doanh nghiệp nhà nước nắm giữ những ngành đặc biệt quan
trọng liên quan đến an ninh quốc phòng của quốc gia.
Thứ sáu, tham gia chiếm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng (tuỳ
từng thời kỳ phát triển kinh tế) để chủ động định hướng xã hội, làm đối trọng
trong tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước có vai trò rất lớn trong phát triển kinh
tế - xã hội. Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm
công cụ vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm
lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 15 K33A - GDCD
1.1.2.2 Doanh nghiệp tư nhân
Theo điều 141 Luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp tư nhân là doanh
nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh
nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như loại hình doanh nghiệp
khác.
Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân và tính chịu trách nhiệm vô
hạn về tài sản nên mức độ rủi ro của chủ doanh nghiệp tư nhân cao, giả sử
doanh nghiệp bị thua lỗ đến phá sản, chủ doanh nghiệp vẫn hoàn toàn chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và vẫn bị thưa kiện nếu không trả được món nợ
này. Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn về số vốn mà chủ
doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp
1.1.2.3 Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp mà các thành viên trong
công ty (có thể là một tổ chức hay một cá nhân đối với công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài
sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp
trong đó thành viên chịu trách nhiệm về khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã đăng ký đóng góp vào doanh
nghiệp.
Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên
tối thiểu là 2 và tối đa không vượt quá 50.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 17 K33A - GDCD
Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp
giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn
không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội
đồng thành viên, Chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc. Công ty trách
nhiệm hữu hạn có trên 10 thành viên phải có Ban kiểm soát.
vốn điều lệ của công ty cho một tổ chức, cá nhân khác. Công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không
được quyền phát hành cổ phiếu và không được giảm vốn điều lệ.
Chủ sở hữu của công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn
bộ số vốn đã góp vào công ty. Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn
bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá
nhân khác. Chủ sở hữu của công ty không được rút lợi nhuận của công ty khi
công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến
hạn phải trả.
Tuỳ thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý
nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng
quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc.
Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có đầy đủ các
đặc thù của công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất 2 thành viên trở lên. Điểm
khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công
ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất 2 thành viên trở lên là công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viên này có
thể là tổ chức hoặc cá nhân.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 19 K33A - GDCD
Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu
công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của
công ty.
1.1.2.4 Công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau:
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
đặc biệt là chế độ tài chính, kế toán.
1.1.2.5 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
Một là, phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên
hợp danh, có thể có thành viên góp vốn.Thành viên hợp danh phải là các cá
nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Hai là, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh có tư
cách pháp nhân kể từ ngày được cấp đăng ký kinh doanh và không được phát
hành bất kì loại chứng khoán nào để huy động vốn.
Ba là, thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, tiến hành các
hoạt động kinh doanh nhân danh công ty, cùng liên đới chịu trách nhiệm về
các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận
theo tỷ lệ được quy định tại điều lệ công ty; không được tham gia quản lý
công ty và hoạt kinh doanh nhân danh công ty. Các thành viên hợp danh có
quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 21 K33A - GDCD
Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều
người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp
danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối
tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số
lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau.
Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô
hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.
Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Công ty hợp danh có hai loại: công ty hợp danh mà tất cả các thành
viên đều là thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viên hợp
danh và thành viên góp vốn.
+ Độ mở cửa: thuế quan và các hàng rào tiềm ẩn cản trở nhập khẩu,
khuyến khích xuất khẩu, tỷ giá hối đoái.
+ Chính phủ: mức độ can thiệp của nhà nước, năng lực và quy mô
chính phủ, chính sách thuế khóa
+ Thể chế: các chỉ số cạnh tranh, chất lượng thể chế pháp luật…
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu sự tác động tổng
hợp của rất nhiều yếu tố, nhưng trong đó các yếu tố do doanh nghiệp chi phối
(cán bộ quản lý, công nghệ, năng suất…) giữ vai trò quan trọng, quyết định
trực tiếp nhất đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thị trường
với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay.
Ở Việt Nam, nhiều yếu tố được đánh giá là có lợi thế trong việc nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như: nguồn nhân lực dồi dào, giá
rẻ, môi trường đầu tư tốt, nguồn tài nguyên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi
cho giao lưu buôn bán…Nhưng hiện nay, những yếu tố này không những
không còn là cơ hội nữa mà thậm chí đang trở thành những thách thức cần
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 23 K33A - GDCD
khắc phục. Vì trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu như hiện nay thì vấn đề lợi
thế cạnh tranh đã chuyển từ lợi thế cạnh tranh tĩnh (lợi thế cạnh tranh của sản
phẩm chủ yếu có được từ việc sở hữu và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
phong phú, lao động giá rẻ…), với giá trị ra tăng thấp sang lợi thế cạnh tranh
động (lợi thế cạnh tranh có được chủ yếu từ các yếu tố then chốt như công
nghệ, tri thức…) với giá trị ra tăng cao.
Liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam chúng
ta thấy còn nhiều hạn chế như:
Công nghệ vừa thiếu vừa lạc hậu
Trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, trình độ quản lý yếu
Năng suất lao động thấp
Chất lượng sản phẩm chưa cao và giá thành sản phẩm chưa hợp lý
Thị trường đầu ra chưa ổn định, thiếu bền vững
tranh…
- Triển khai những hoạt động hợp tác kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm
nâng cao năng lực của các nước trong quá trình hội nhập.
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay được mở
rộng ra tất cả các lĩnh vực liên quan đến chính sách kinh tế, thương mại, nhằm
mở cửa thị trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và
vô hình đối với trao đổi thương mại. Hội nhập kinh tế quốc tế về thực chất là
quá trình gắn kết nền kinh tế thế giới trên cơ sở tự do hoá nền kinh tế và mở
cửa thị trường trong nước.
Thời đại ngày nay, quan hệ kinh tế quốc tế phát triển mạnh mẽ cả chiều
rộng và chiều sâu, trở thành một xu thế tất yếu mà không một quốc gia nào có
thể phát triển nếu đứng ngoài xu thế đó. Trong thời đại ngày nay, hội nhập
kinh tế quốc tế lôi cuốn mọi quốc gia vào dòng xoáy của nó, dù là quốc gia
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 25 K33A - GDCD
tiên tiến hay lạc hậu, phát triển hay chậm phát triển, nó đang là xu hướng tất
yếu của thời đại.
Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp nhất của hội nhập kinh tế quốc tế là
sự phát triển nhanh chóng và có những đột phá của cách mạng khoa học –
công nghệ hiện đại. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự biến đổi của
xã hội diễn ra sâu sắc, mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử. Trong hai thập kỉ
qua các công nghệ cao phát triển như vũ bão và đã đạt được rất nhiều thành
tựu kì diệu. Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ web,
internet, thương mại điện tử… cùng với những thành tựu về công nghệ sinh
học như công nghệ gen, nhân bản vô tính…đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc,
làm đảo lộn nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người, đưa con người
vào thời đại kinh tế tri thức.
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại là nguyên nhân trực
tiếp của hội nhập kinh tế quốc tế vì:
Một là, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo ra sự phát