ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
Nguyễn Xuân Sinh
NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội - Năm 2005 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Danh mục chữ viết tắt 3
Danh mục bảng biểu 4
Lời mở đầu 5
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp 9
1.1 Khái niệm và phân loại về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 9
1.1.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh 9
1.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh 13
1.1.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 19
1.2 Các phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 20
1.3 Các yếu tố cấu thành và các tiêu chí chủ yếu đánh giá năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp 22
1.3.1 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 22
1.3.2 Các tiêu chí chủ yếu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 25
Chƣơng 2. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam trong quá trình hội nhập 29
2.1 Thực trạng môi trường kinh doanh, cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam 29
2.2 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam 35
2.2.1 Quy mô doanh nghiệp 35
2.2.2 Năng lực quản lý và chiến lược cạnh tranh 38
2.2.3 Thực trạng các yếu tố nguồn lực cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam 40
2
2.2.3.1 Vốn và hiệu quả sử dụng vốn 40
2.2.3.2 Khoa học và công nghệ 42
2.2.3.3 Lao động 45
2.2.3.4 Đầu tư cho nghiên cứu, triển khai, thương hiệu kiểu dáng công nghiệp 47
2.2.3.5 Sản phẩm và phân phối sản phẩm 49
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM
Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu
CCI
Chỉ số năng lực cạnh tranh hiện tại
CIEM
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
GCI
Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
R&D
Nghiên cứu và phát triển
UNDP
Chương trình phát triển liên hợp quốc
USD
Đô la Mỹ
WB
Ngân hàng thế giới
WEF
Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã
đạt được sự tăng trưởng khá, các nhân tố tạo thành năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế ngày càng được khai thác, một số ngành, doanh nghiệp đã bắt đầu vươn
lên cạnh tranh với hàng nhập ngoại và thị trường xuất khẩu, nhờ đó thị trường
trong nước và thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, người tiêu dùng
được tiếp cận các hàng hoá và dịch vụ với chủng loại đa dạng và chất lượng tốt
hơn. Để có được những biến đổi tích cực này thì năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp nước ta trong thời gian qua đã có bước phát triển đáng kể. Tuy
nhiên, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của các doanh nghiệp ở nước ta
hiện nay so với thế giới còn thấp kém và chậm được cải thiện. Chi phí đầu vào
quá cao; lao động phổ biến là tay nghề thấp; năng suất lao động thấp; năng lực
của đội ngũ doanh nhân chưa đủ để điều hành và quản lý doanh nghiệp theo
chuẩn mực quốc tế. Mặt khác các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang gặp phải
những khó khăn rất lớn về vốn, công nghệ, định hướng thị trường tiêu thụ…Bên
cạnh đó sức ép của quá trình hội nhập đối với các doanh nghiệp Việt Nam ngày
càng lớn khi một loạt cam kết quốc tế đã có hiệu lực và một số các cam kết quan
trọng khác đang trong giai đoạn đàm phán.
Trước tình hình đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam trở thành vấn đề hết sức bức xúc, khi quá trình hội nhập của
nước ta đang bước vào giai đoạn có tính bước ngoặt. Chính vì vậy hơn bao giờ
6
hết vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phải là quan tâm
số một của Chính phủ cũng như doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Nhận thức được tính cấp thiết và tầm quan trọng của việc nâng cao năng
nghiệp Việt Nam.
- Thời gian: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam được
xem xét trong thời gian từ 1990 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng dựa trên sự kết hợp của các phương pháp nghiên
cứu:
- Phương pháp phân tích hệ thống
- Phương pháp so sánh và tổng hợp dữ liệu
- Phương pháp duy vật lịch sử
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Với việc nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam trong tiến trình hội nhập, dự kiến luận văn sẽ có những đóng góp mới sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
làm căn cứ định hướng chính sách và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp nhằm phát triển kinh tế đất nước.
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam,
cùng với việc phân tích các tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó
8
đề xuất các chính sách, giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp.
7. Bố cục của luận văn
Để đạt được những mục đích và đóng góp trên, ngoài phần mở đầu và kết
luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
Chương 2. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam trong quá trình hội nhập
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập
về vấn đề cạnh tranh, phạm vi và các cấp độ áp dụng cũng khác nhau. Tuy nhiên,
xét theo quan điểm tổng hợp, cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ
thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ
đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, giành
lấy khách hàng cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất nhằm nâng cao vị thế của
mình. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là
tối đa hoá lợi ích: đối với người kinh doanh là lợi nhuận, còn đối với người tiêu
dùng là lợi ích tiêu dùng.
Cạnh tranh cũng như các quy luật, hiện tượng kinh tế - xã hội khác chỉ
xuất hiện, tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định. Nhiều quan điểm
đồng thuận cho rằng, mục đích cuối cùng của các bên tham gia cạnh tranh là
10
nhằm thoả mãn tối đa lợi ích kinh tế, tức lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Cạnh tranh là biểu hiện có tính bề nổi thông qua hoạt động kinh
tế của con người; còn lợi nhuận là mục đích, động lực, là tác nhân kích thích các
hoạt động ấy. Trong hầu hết trường hợp, cạnh tranh sẽ không xuất hiện khi lợi
nhuận không phải là mục đích cuối cùng. Để thoả mãn các nhu cầu, đạt được các
mục đích tối đa hoá lợi nhuận có nhiều con đường mà cạnh tranh là con đường
phổ biến hơn cả. Như vậy, trong cuộc sống kinh tế, cạnh tranh là một trong
những phương pháp để con người đạt được lợi ích kinh tế.
Tóm lại, cạnh tranh được sản sinh từ nhu cầu tối đa hoá lợi nhuận, thoả
mãn lợi ích kinh tế của con người. Tuy vậy, mặc dù động lực cạnh tranh xuất
hiện, song cạnh tranh chỉ vận hành khi có môi trường cạnh tranh, môi trường
cạnh tranh được hình thành trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, luật pháp cho phép tồn tại nhiều dạng sở
hữu, thành phần kinh tế khác nhau cùng hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong
điều kiện như vậy điều không tránh khỏi là quyền lợi kinh tế bị xung đột; để tối
đa hoá lợi nhuận, không bị đào thải các chủ thể kinh tế chỉ có cách duy nhất là
cạnh tranh. Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế thuộc các dạng sở
tranh xoay quanh vấn đề: chất lượng hàng hóa, giá cả và điều kiện dịch vụ.
- Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh: Trong cạnh tranh, các
chủ thể kinh tế sẽ dùng tất cả các biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt
được mục tiêu kinh tế của mình. Có những biện pháp cạnh tranh hợp pháp hay
12
lành mạnh. Ngược lại, có những thủ đoạn phi pháp nhằm tiêu diệt đối phương
chứ không phải bằng nỗ lực vươn lên của mình, gọi là cạnh tranh bất hợp pháp
hay cạnh tranh không lành mạnh.
- Xét theo hình thái cạnh tranh: thì có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh
không hoàn hảo.
+ Cạnh tranh hoàn hảo hay còn gọi là cạnh tranh thuần túy là tình trạng
cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hóa là không thay đổi trong toàn bộ
các nơi của thị trường, do có nhiều người bán và người mua, họ có đủ thông tin
về các điều kiện của thị trường. Trong điều kiện đó không có công ty nào có đủ
sức mạnh có thể ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm của mình trên thị trường.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thái chiếm ưu thế trong các ngành
sản xuất kinh doanh mà ở đó các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể
chi phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường. Trong cạnh tranh không
hoàn hảo lại phân ra hai loại là: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc
quyền.
Độc quyền nhóm tồn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một ít
người sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả các sản phẩm của
mình không chỉ phụ thuộc vào sản lượng của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt
động cạnh tranh của những đối thủ quan trọng trong ngành đó.
Cạnh tranh mang tính độc quyền là một hình thức cạnh tranh mà ở đó
người bán có thể ảnh hưởng đến người mua bằng sự khác nhau của các sản phẩm
của mình về hình dáng, kích thước, chất lượng, nhãn mác. Trong rất nhiều
trường hợp người bán có thể buộc người mua chấp nhận giá.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá
Bốn cấp độ năng lực cạnh tranh trên có mối tương quan mật thiết với
nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, khi xem xét, đánh giá và đề ra giải pháp nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thiết phải đặt nó trong mối
tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh. Một mặt, tổng số năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo thành năng lực cạnh tranh của
nền kinh tế quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi
năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp.
Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi trường kinh doanh,
cạnh tranh quốc tế và trong nước (đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế). Trong đó, các cam kết về hợp tác kinh tế quốc tế, các chính sách kinh tế vĩ
mô và hệ thống luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp, của ngành và của sản phẩm hàng hoá trong quốc gia đó. Vì vậy,
trước khi đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, xin được sơ lược về
năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia và của sản phẩm. Còn năng lực cạnh tranh
cấp độ ngành có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh quốc
gia và của sản phẩm tương tự như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nên
không đề cập đến.
Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia:
15
Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 1997 thì năng lực cạnh tranh
quốc gia là “khả năng của nền kinh tế quốc dân đạt được và duy trì mức tăng
trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trưng kinh tế khác tương
đối vững chắc".
Như vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia có thể được hiểu là việc xây dựng
một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các
nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững. Môi trường cạnh
tranh kinh tế chung có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy quá trình đầu tư, tự
chính bao gồm các chính sách tiền tệ, tỷ giá, sự đa dạng của các loại hình dịch vụ
tài chính, tiền tệ, chất lượng và trình độ phát triển của hệ thống tài chính, tiền tệ,
khả năng ngăn ngừa các rủi ro tài chính.
- Công nghệ: là hệ thống các chỉ tiêu phản ánh trình độ khoa học và công
nghệ so với thế giới bao gồm mức độ đầu tư cho nghiên cứu và triển khai; trình
độ công nghệ và tích luỹ kiến thức công nghệ; khả năng tiếp thu công nghệ mới,
sự phát triển của thị trường công nghệ.
- Lao động: được đánh giá về số lượng lao động, chất lượng về đào tạo,
sức khoẻ, kỷ luật lao động, tần số đình công trong nền kinh tế, mức độ thay đổi
chỗ làm việc.
- Kết cấu hạ tầng: số lượng và chất lượng của hệ thống giao thông, mạng
viễn thông, cung cấp điện, nước, kho tàng và các phương tiện khác của cơ sở hạ
tầng nâng cao hiệu quả đầu tư. Một trong những tiêu chí cũng được xem xét là
17
mức độ độc quyền trong các dịch vụ kết cấu hạ tầng, khả năng thu hút khu vực
tư nhân trong nước và ngoài nước để xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, vì
các yếu tố này góp phần nâng cao hiệu quả và giảm chi phí.
- Quản trị: chất lượng quản lý nói chung bao gồm chiến lược cạnh tranh,
chiến lược chất lượng sản phẩm, khoa học và công nghệ, nguồn nhân lực, chiến
lược về tài chính, khả năng tiếp thị, phân tích các đối thủ cạnh tranh, đề xuất một
chiến lược phát triển hợp lý.
Đến năm 2000, chỉ số cạnh tranh quốc gia của WEF được sử dụng từ năm
1997 kết hợp với hai chỉ số mới: chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng (GCI) và
chỉ số năng lực cạnh tranh hiện tại (CCI). Các chỉ số này được xây dựng chủ yếu
dựa trên quan điểm về khả năng cạnh tranh quốc gia của M. Porter, J. Sachs, A.
Warner và các kinh tế gia của WEF.
Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng được điều chỉnh từ chỉ số khả năng
cạnh tranh quốc gia từ những năm trước, xác định các nhân tố đóng góp cho tăng
trưởng kinh tế tương lai, đo lường độ tăng trưởng GDP trên đầu người. Các nhân
hàng hoá cùng loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được
định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sẽ không có những sản
phẩm hàng hoá có năng lực cạnh tranh cao khi năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp. Khả năng cạnh tranh của hàng
hoá và dịch vụ là cơ sở tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và
tổng thể của nó tạo nên sức cạnh tranh của một quốc gia và thể hiện tập trung ở 4
yếu tố là giá cả, chất lượng, tổ chức tiêu thụ và uy tín của doanh nghiệp.
19
Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển của mỗi nền kinh tế, các quan
hệ thương mại cũng phát triển, theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi
hàng hóa. Sự mở rộng trao đổi thương mại tác động ngược trở lại sản xuất của
mỗi nước theo hai chiều: kích thích gia tăng khối lượng sản phẩm một số hàng
hóa được thị trường chấp nhận và hạn chế sản xuất những hàng hóa mà thị
trường không chấp nhận. Như vậy, mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị
trường sẽ được người tiêu dùng phản ứng với các mức độ cao thấp khác nhau. Sự
phản ứng của người tiêu dùng thể hiện qua việc mua hay không mua sản phẩm
đó, đây là biểu hiện tổng quát cuối cùng về sức cạnh tranh của sản phẩm. Nói
cách khác, cạnh tranh giữa các sản phẩm trên một thị trường là quá trình thể hiện
khả năng hấp dẫn tiêu dùng của các sản phẩm đối với khách hàng trên một thị
trường cụ thể và trong một thời gian nhất định.
Ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan
hệ hữu cơ với nhau. Năng lực cạnh tranh của hàng hoá có được do năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp tạo ra; nhưng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hoá mà có, năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa. Tuy nhiên, năng lực
cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá có ảnh hưởng lớn và thể hiện năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp.
1.1.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
21
Phương pháp phân tích theo cấu trúc thị trường có ưu thế trong nghiên cứu
tình huống và trong nhận thức động thái phát triển. Tuy nhiên, khó có đủ thông
tin cần thiết về mặt thống kê và khó dự báo về những tác động của chính sách
Chính phủ lên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích lợi thế cạnh tranh trên cơ sở đánh giá lợi thế so
sánh về chi phí hay khả năng sinh lợi trên một đơn vị sản phẩm:
Các chỉ số chi phí cho phép xác định được mức độ đóng góp của doanh
nghiệp vào nền kinh tế. Các chỉ số đó cho biết khả năng cạnh tranh, duy trì sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong môi trường mà giá cả đã được xác
định.
Phân tích truyền thống theo lợi thế so sánh là phân tích tĩnh, trong khi
năng lực cạnh tranh là một khái niệm động. Hiện nay phương pháp phân tích
theo lợi thế so sánh (tĩnh) đã được bổ sung bằng phương pháp phân tích theo khả
năng cạnh tranh động. Khi phân tích khả năng cạnh tranh động cần tính đến
những dự báo về:
- Biến động chu kỳ của sản phẩm
- Mức độ phổ biến công nghệ và tích luỹ kinh nghiệm
- Chi phí đầu vào
- Những thay đổi về các đặc trưng dân số và khuynh hướng nhu cầu
- Vai trò của các sản phẩm thay thế và bổ sung
- Những thay đổi trong chính sách của Chính phủ
Chi phí thấp chỉ là bước khởi đầu để có thể cạnh tranh. Sự phát triển kinh
doanh năng động mới tận dụng được lợi thế so sánh về chi phí để từ đó nâng cao
khả năng cạnh tranh về chất. Tất cả các kỹ năng tổ chức, quản lý của các nhà
22
kinh doanh trong suốt chu trình sản xuất kinh doanh từ giai đoạn trước sản xuất
(dự báo, thiết kế sản xuất, mua công nghệ ) đến bản thân quá trình sản xuất (số
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng bù đắp chi phí, duy trì
lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường. Nó
được xác định trên cơ sở 4 nhóm yếu tố chủ yếu sau:
(1) Chất lượng, khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hoá các đầu vào
(2) Các ngành sản xuất và dịch vụ trợ giúp cho doanh nghiệp
(3) Nhu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, đến yêu cầu
của khách hàng về chất lượng của sản phẩm, dịch vụ
(4) Mức độ cạnh tranh trên lĩnh vực mà doanh nghiệp kinh doanh, vị thế
của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh
Nhóm yếu tố thứ nhất bao gồm các yếu tố liên quan đến chất lượng, khả
năng cung ứng, mức độ chuyên môn hoá các đầu vào của doanh nghiệp như:
- Nguồn nhân lực
- Nguồn vốn (hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán)
- Kết cấu hạ tầng kỹ thuật
- Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước
- Kết cấu hạ tầng về thông tin
- Các yếu tố về khoa học và công nghệ