Những giải pháp nhằm tăng tính cạnh tranh của Ngân hàng trong hoạt động phát hành thẻ, tăng lợi nhuận của Ngân hàng - Pdf 22

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Sự phát triển vợt bậc của công nghệ thông tin trong thế kỷ 20 và việc
ứng dụng những thành tựu của nó vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống
xã hội đã tạo nên những sản phẩm tiện ích đối với con ngời. Thẻ ngân hàng đã
ra đời trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa công nghệ ngân hàng và công nghệ
thông tin. Đợc xem là một phơng thức thay thế tiền mặt hàng đầu trong các
giao dịch tiêu dùng, thẻ ra đời không chỉ đem lại lợi ích cho ngân hàng và
khách hàng mà còn có tác dụng tích cực đến nền kinh tế. Trong hơn nửa thế kỷ
qua, thẻ đã trở thành phơng tiện thanh toán chủ yếu trong tiêu dùng cá nhân ở
nhiều nớc trên thế giới.
Việt Nam vẫn đợc coi là một quốc gia sử dụng quá nhiều tiền mặt. Tình
trạng giao dịch quá nhiều bằng tiền mặt dẫn đến việc phải sử dụng nhiều nhân
lực, tốn nhiều thời gian và làm tăng chi phí hoạt động. Theo ớc đoán của một
chuyên gia ngân hàng, tình trạng sử dụng quá lớn tiền mặt trong nền kinh tế n-
ớc ta hiện nay đang làm cho chúng ta mỗi năm mất đi tới 1 tỷ đô la Mỹ- một
con số khổng lồ nếu so sánh với mức thu nhập quốc dân còn khiêm tốn.
Thẻ xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1990 bắt đầu bằng việc
Ngân hàng Ngoại thơng (NHNT) thực hiện hoạt động thanh toán thẻ tín dụng
quốc tế. Từ đó đến nay, NHNT đã không ngừng đẩy mạnh hoạt động thanh
toán thẻ, đồng thời từng bớc thực hiện phát hành thẻ tại Việt Nam. Tuy nhiên
cho đến nay, thẻ vẫn cha thay thế đợc tiền mặt để tạo ra một cuộc cách mạng
về giao dịch nh nó từng tạo ra trên thế giới.
Tại Việt Nam, NHNT luôn đi đầu trong hoạt động kinh doanh thẻ nói
chung cũng nh trong nghiệp vụ phát hành thẻ nói riêng. Tuy nhiên, Ngân hàng
cũng gặp phải một sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thơng mại trong n-
ớc và các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài. Vì vậy, việc nghiên cứu các đối thủ,
từ đó tìm ra những giải pháp thích hợp để tăng tính cạnh tranh của Ngân hàng
trong hoạt động phát hành thẻ, tăng lợi nhuận của Ngân hàng là điều cần phải
đợc thực hiện.
1

Website: Email : Tel : 0918.775.368
dùng tiền mặt phát sinh từ đó và càng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế.
2. Thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt là tổng hợp các mối quan hệ chi trả
tiền tệ không có sự xuất hiện của tiền mặt. Đặc trng của phơng thức này là sự
vận động của hàng hoá, dịch vụ độc lập với sự vận động của tiền tệ cả về thời
gian lẫn không gian và thông thờng hai quá trình này không ăn khớp với nhau.
Trong phơng thức này, tiền mặt không làm trung gian trao đổi mà chính hình
thức tiền tệ kế toán (tiền ghi sổ) thực hiện chức năng này.
Khác với thanh toán dùng tiền mặt chỉ là quan hệ thanh toán giữa ngời
mua và ngời bán, trong thanh toán không dùng tiền mặt, ngoài chủ thể chịu
trách nhiệm thanh toán và chủ thể đợc hởng thờng có sự tham gia của ít nhất là
một ngân hàng nên ngân hàng có một vai trò to lớn, vừa là ngời tổ chức, vừa là
ngời thực hiện, đồng thời là ngời kết thúc quá trình thanh toán. Sự tham gia
của ngân hàng cùng với các phơng tiện hiện đại và các mối quan hệ đa dạng
vào quá trình thanh toán sẽ giúp cho việc thực hiện các hoạt động thanh toán
cho doanh nghiệp diễn ra nhanh chóng và an toàn. Các đơn vị kinh doanh chỉ
cần mở tài khoản tại ngân hàng và ký lệnh thanh toán khi cần thiết là mọi hoạt
động thanh toán coi nh đã đợc hoàn tất. Hơn nữa, số tiền trong tài khoản của
doanh nghiệp lại rất an toàn và có thể sinh lãi trong thời gian cha dùng đến.
Nh vậy, hoạt động thanh toán đã đợc đơn giản rất nhiều, giảm bớt khó khăn
cho nền kinh tế cũng nh các doanh nghiệp. Các hoạt động nh vận chuyển tiền,
kiểm tra tiền để thanh toán không còn nữa, lợng tiền trong lu thông và các chi
phí lu thông cần thiết nh chi phí in tiền, vận chuyển và bảo quản tiền giảm,
tiền nhàn rỗi lại đợc tận dụng để phát triển kinh tế xã hội.
Hoạt động thanh toán qua ngân hàng, cùng với sự phát triển của những
ứng dụng của công nghệ thông tin trong ngân hàng, đang ngày càng phát triển.
Hệ thống ngân hàng ngày càng đợc hoàn thiện về mọi mặt để thực hiện tốt
chức năng thanh toán cũng nh các chức năng khác mà nền kinh tế đã giao phó

cho từng giao dịch, đặc biệt là những giao dịch khối lợng không lớn, vì vậy đối
với những giao dịch xảy ra thờng xuyên thì thẻ tỏ ra có u thế hơn hẳn những
công cụ còn lại.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. Tổng quan về thẻ
1. Sự hình thành và phát triển thẻ
Thẻ đã đợc đa vào sử dụng rộng rãi trên thế giới. Trong phạm vi rộng,
thẻ nói chung bao gồm tất cả các loại: thẻ séc, thẻ rút tiền mặt, thẻ ghi nợ, thẻ
tín dụng Thẻ thanh toán là một trong những thành tựu của ngành công
nghiệp ngân hàng. Đó là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính cá nhân và
sẽ không có sự bùng nổ trong bán lẻ vào những năm 1970 và 1980 nếu không
có sự ra đời của thẻ. Sự phát triển của thẻ là thành quả của sự đổi mới và khả
năng marketing của các chuyên gia ngân hàng thế giới.
Tuy nhiên, ngân hàng không phải là ngời đầu tiên phát hành thẻ. Tại
Mỹ, các thẻ bách hoá, thẻ du lịch và giải trí đợc phát hành trớc khi bớc vào
ngành công nghiệp ngân hàng. Một vài yếu tố đã thúc đẩy các ngân hàng tham
gia vào lĩnh vực thẻ. Nó cho phép các ngân hàng đa ra đợc các dịch vụ mới
cho các khách hàng hiện có và là một phơng tiện tối u để hấp dẫn các khách
hàng mới- các cá nhân cũng nh những doanh nghiệp bán lẻ. Mặc dù không
phải là một yếu tố quyết định, có lẽ nhiều ngân hàng đã tham gia vào lĩnh vực
này nhằm đuổi kịp những phát triển mà sự cạnh tranh đòi hỏi. Dĩ nhiên là các
ngân hàng cũng đợc khuyến khích áp dụng các kế hoạch thẻ do khả năng có
thể gia tăng lợi nhuận của chính ngân hàng.
Thẻ xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1914 khi tổng công ty xăng dầu
California (ngày nay là công ty Mobie) cấp thẻ cho nhân viên và một số khách
hàng của mình. Thẻ chỉ nhằm khuyến khích bán sản phẩm của công ty chứ
không kèm theo việc gia hạn tín dụng. Sau đó, các hệ thống cửa hàng bán lẻ
tiếp tục phát triển hình thức tài trợ khách hàng này thông qua việc phát hành
thẻ, theo hình thức tiêu trớc trả tiền sau, cho các khách hàng phù hợp với

gia thanh toán. Nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu liên kết để cạnh
tranh với Bank of America. Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ
chức Interbank (Interbank Card Association-ICA), một tổ chức mới có khả
năng trao đổi thông tin các giao dịch thẻ tín dụng. Năm 1967, bốn ngân hàng
California đổi tên từ California Bankcard Association thành Western States
BankCard Association (WSBA) và mở rộng mạng lới thành viên với các tổ
chức tài chính khác ở phía tây nớc Mỹ. Sản phẩm thẻ của tổ chức này là
Master Charge. Tổ chức này cũng cấp phép cho Interbank sử dụng tên và th-
ơng hiệu Master Charge. Vào cuối thập niên 1960, nhiều tổ chức tài chính đã
trở thành thành viên của Master Charge và đủ sức cạnh tranh với Bank
Americard.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút đợc khách hàng
cần phải có một mạng lới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi một địa ph-
ơng, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu. Đứng trớc đòi hỏi đó, Inter Bank
(Master Charge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây dựng một hệ
thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977,
Bank Americard trở thành Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế
Visa. Năm 1979, Master Charge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn
khác là Master Card. 4 tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất hiện nay là Visa, Master
Card, Amex, JCB.
Do thẻ ngày càng đợc sử dụng rộng rãi, các công ty và các ngân hàng
liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu lợi nhuận này. Thẻ dần dần đợc
xem nh một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán.
Các loại thẻ Master Card, Visa, Amex, JCB đợc sử dụng rộng rãi trên toàn cầu
và cùng phân chia những thị trờng rộng lớn.
Chính sự phát triển của hệ thống ngân hàng thơng mại và những ứng
dụng của cuộc cách mạng thông tin trong lĩnh vực ngân hàng đã góp phần thúc
đẩy sự ra đời của thẻ với nhiều tên gọi khác nhau mà hiện nay đang đợc sử

xem nh một yếu tố an ninh, chống lại sự giả mạo.
-Số thẻ (đợc in nổi): số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, đợc dập nổi trên thẻ
và đợc in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tuỳ theo từng loại
thẻ mà có chữ số, cách cấu trúc theo nhóm khác nhau.
-Họ tên chủ thẻ: in chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của ngời
đợc uỷ quyền nếu là thẻ công ty.
-Ngày hiệu lực của thẻ (đợc in nổi): là thời hạn mà thẻ đợc phép lu hành. Tuỳ
theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày
đầu tiên và ngày cuối cùng đợc sử dụng thẻ.
-Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: mỗi loại thẻ luôn có ký
hiệu an ninh kèm theo, in phía sau của ngày hiệu lực nhằm tăng tính an toàn
của thẻ, đề phòng giả mạo.
Ngoài ra còn có thể có các yếu tố khác nh: chữ kí, hình của chủ thẻ,
hình nổi không gian 3 chiều (hoặc chip đối với thẻ điện tử).
Mặt sau của thẻ gồm:
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
-Dải băng từ chứa các thông tin nh: số thẻ, ngày hết hạn, tên chủ thẻ, ngân
hàng phát hành, các yếu tố kiểm tra an toàn khác.
-Dải băng chữ kí của chủ thẻ: cơ sở chấp nhận thẻ đối chiếu chữ ký này với
chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ.
2.3. Phân loại thẻ
2.3.1. Theo công nghệ sản xuất:
1. Thẻ khắc chữ nổi: Các thông tin cần thiết đợc khắc nổi lên bề mặt của
thẻ. Tấm thẻ đầu tiên đã đợc sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay ngời ta
không sử dụng thẻ loại này nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị làm giả.
2. Thẻ băng từ: đợc sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một băng từ chứa
hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này đợc sử dụng phổ biến trong vòng
20 năm nay. Tuy nhiên, do thẻ mang tính thông tin cố định, khu vực chứa
thông tin hẹp không áp dụng đợc các kĩ thuật mã bảo đảm an toàn, thông tin

vực cho vay tiêu dùng.
2. Thẻ ghi nợ: có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi của
chủ thẻ. Chủ thẻ cũng có thể đợc ngân hàng cấp cho một mức thấu chi theo sự
thoả thuận giữa hai bên. Những giao dịch thực hiện bằng thẻ này sẽ đợc khấu
trừ vào tài khoản của chủ thẻ và ghi có vào tài khoản của cơ sở chấp nhận thẻ
(CSCNT). Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản là thẻ on-line và thẻ off-line. Thẻ on-
line là thẻ ghi nợ mà những thông tin về giao dịch đợc kết nối trực tiếp từ thiết
bị điện tử đặt tại CSCNT hoặc điểm rút tiền mặt tới ngân hàng phát hành. Giá
trị những giao dịch đợc khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ. Thẻ off-
line là thẻ mà thông tin giao dịch đợc lu tại máy điện tử của CSCNT và đợc
chuyển đến ngân hàng phát hành muộn hơn (không có kết nối trực tiếp với
điểm thanh toán). Giá trị những giao dịch sẽ đợc khấu trừ vào tài khoản chủ
thẻ sau đó vài ngày.
3. Thẻ rút tiền mặt: Về bản chất, đây cũng là một loại của thẻ ghi nợ nhng
thẻ này chỉ đợc dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng, các máy rút tiền tự
động (ATM) và sử dụng các dịch vụ khác do máy ATM cung cấp nh kiểm tra
số d, chuyển khoản, chi trả các khoản vay,... Với chức năng chuyên biệt chỉ
dùng để rút tiền, số tiền rút ra mỗi lần sẽ đợc trừ dần vào số tiền kí quĩ. Thẻ rút
tiền mặt có hai loại. Một loại chỉ đợc dùng để rút tiền mặt tại những máy rút
tiền tự động của ngân hàng phát hành, còn loại kia ngoài địa điểm trên còn đ-
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ợc sử dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia tổ hợp thanh toán với
ngân hàng phát hành thẻ.
2.3.4. Theo hạn mức tín dụng
1. Thẻ vàng: là loại thẻ đợc phát hành cho những đối tợng có thu nhập cao,
có uy tín, khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này
nhìn chung có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thờng.
2. Thẻ thờng (thẻ chuẩn): là loại thẻ căn bản nhất, mang tính chất phổ
biến, đại chúng, đợc hơn 142 triệu ngời trên thế giới sử dụng mỗi ngày. Thẻ có

công ty đứng ra tổ chức và độc quyền phát hành loại thẻ của họ. Họ trực tiếp
phát hành thẻ và đứng ra quản lý chủ thẻ. Việc mở rộng thị trờng đợc thực
hiện bằng cách lập ra các chi nhánh hay văn phòng đại diện phát hành thẻ, do
vậy phạm vi hoạt động thờng nhỏ hơn so với hình thức hiệp hội. JCB và
American Express là điển hình của hình thức tổ chức này.
Ngân hàng phát hành thẻ: là thành viên chính thức của tổ chức thẻ và đợc
phép phát hành thẻ. Ngân hàng này có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý hồ sơ xin
cấp thẻ, thiết kế các tiêu chuẩn kĩ thuật, mật mã, kí hiệu,.. cho các loại thẻ để
bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng thẻ, sau đó phát hành thẻ cho khách
hàng, mở và quản lí tài khoản thẻ, chịu trách nhiệm việc thanh toán số tiền mà
khách hàng trả cho ngời bán bằng thẻ.
Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): là thành viên chính thức hoặc thành
viên liên kết của tổ chức thẻ và/ hoặc các ngân hàng đợc ngân hàng phát hành
thẻ uỷ quyền thực hiện nghiệp vụ thanh toán thẻ.
Ngân hàng đại lí thanh toán thẻ: là ngân hàng đợc NHTTT uỷ quyền thực
hiện một số dịch vụ thanh toán thẻ thông qua hợp đồng ngân hàng đại lí. Ngân
hàng đại lí có nhiệm vụ trả tiền cho cơ sở chấp nhận thẻ khi nhận đợc biên lai
thanh toán, trả tiền mặt theo yêu cầu của chủ sở hữu thẻ, nhận chuyển tiếp số
tiền thanh toán bằng thẻ đến bên bán. Ngân hàng đại lí là ngân hàng trực tiếp
kí hợp đồng với các cơ sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và xử lí các giao dịch về
thẻ tại cơ sở chấp nhận thẻ, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho cơ sở chấp nhận
thẻ.
Chủ thẻ: là ngời có tên trên thẻ và đợc quyền sử dụng thẻ. Chủ thẻ có thể là
một cá nhân riêng lẻ, hoặc đại diện cho một công ty hay tổ chức nào đó có nhu
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cầu sử dụng thẻ thanh toán. Chỉ chủ thẻ mới có thể sử dụng thẻ của mình. Một
chủ thẻ có thể yêu cầu cấp thêm thẻ phụ cho ngời thân, có thể sở hữu một hoặc
nhiều thẻ. Chủ thẻ phải trả phí cho ngân hàng phát hành thẻ.
Ngời chịu trách nhiệm thanh toán thẻ: là chủ thẻ chính (đối với thẻ cá nhân)


(5) (3)
(4) (6) (7) (8)
(4)

(6)
(7)
:Quy trình phát hành :Quy trình đòi tiền
:Quy trình cấp phép :Quy trình thanh toán
:Quy trình khiếu nại và xử lý tranh chấp
(1) Ngân hàng phát hành yêu cầu khách hàng phát hành thẻ cung cấp các
hồ sơ cần thiết theo quy định chứng minh nhân thân của khách hàng,
khả năng thanh toán của họ và các tổ chức cá nhân có quan hệ.
(2) Ngân hàng phát hành thẻ cho khách hàng đủ điều kiện.
(3) Chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán, rút tiền mặt tại các CSCNT.
14
Chủ thẻ
Ngân hàng thanh
toán
Tổ chức thẻ
quốc tế
Đơn vị chấp nhận
thẻ hoặc ngân
hàng đại lý
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(4) CSCNT kiểm tra khả năng thanh toán của thẻ: xin chuẩn chi của
NHTTT nếu số tiền thanh toán vợt quá hạn mức, kiểm tra bảng tin cảnh
giác nếu số tiền nhỏ hơn hạn mức mà NHTTT cho phép.
(5) CSCNT so sánh chữ ký trên hoá đơn và chữ ký trên thẻ, nếu đúng thì
cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay ứng tiền mặt cho khách hàng.

-Phân loại chủ thẻ để xác định hạn mức tiêu dùng của mỗi chủ thẻ.
Bớc 3: Cấp thẻ cho khách hàng.
Sau khi xác định các yếu tố, bộ phận quản lý thẻ lập hồ sơ khách hàng
để quản lý. Hồ sơ gồm: tên chủ thẻ, địa chỉ nơi ở và làm việc, số CMND, số hộ
chiếu, số thẻ, loại thẻ, ngày hiệu lực, số tài khoản chỉ định để thanh toán sao
kê, ngời thanh toán sao kê, tài sản thế chấp (nếu có).
Sau đó, ngân hàng tiến hành mã hoá thẻ và in thẻ, xác định mã số cá
nhân (PIN) của chủ thẻ, nhập dữ liệu về chủ thẻ vào tập tin quản lý, giao thẻ và
số PIN cho chủ thẻ. Chủ thẻ nhận thẻ, ký vào hợp đồng sử dụng thẻ và băng
chữ ký ở mặt sau của thẻ.
2.5. Một số thiết bị sử dụng
Thanh toán bằng thẻ là phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt và
nó đòi hỏi phải có số thiết bị kĩ thuật hỗ trợ cho việc thanh toán đợc đơn giản,
nhanh gọn và an toàn. Các thiết bị hỗ trợ rất nhiều nhng hiện nay chủ yếu là
các loại sau:
Máy chà hoá đơn (máy cà thẻ): đợc đặt tại CSCNT, dùng để ghi lên hoá đơn
những thông tin in nổi ở mặt trớc của thẻ (số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực,..)
cùng chữ kí của chủ thẻ. Hoá đơn này đợc xem là bằng chứng xác nhận việc
chủ thẻ đã thực hiện giao dịch, đồng thời là cơ sở pháp lí để giải quyết các
tranh chấp giữa các đối tợng có liên quan (nếu có xảy ra).
Máy chà hoá đơn đợc cấu tạo gọn nhẹ dễ sử dụng với kích thớc 30cm x
20cm x 4cm. Khi sử dụng thì đặt thẻ vào khung đã đợc thiết kế sẵn (mặt in nổi
hớng lên trên) và đặt hoá đơn vào khung còn lại, kéo cần chà qua lại một lần
thì các thông tin ở mặt trớc thẻ sẽ in lên hoá đơn. Thiết bị này đợc sử dụng tại
đa số các điểm chấp nhận thẻ ở Việt Nam trớc đây.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Điện thoại- Telex dùng để điện hoặc telex các thông tin nh: mã số thẻ, thời
gian thực hiện, tổng số tiền xin cấp phép đến ngân hàng để xin cấp phép, sau
vài phút ngân hàng sẽ trả lời từ chối hay chấp nhận bằng việc cho một mã số

Visa, Master và trong phạm vi hẹp hơn là Amex, Diners Club đợc chấp nhận
trên toàn thế giới. Điều này có nghĩa là khi dự định ra nớc ngoài, thay vì phải
chuẩn bị trớc một lợng ngoại tệ hay sec du lịch, chủ thẻ có thể mang theo thẻ
để thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình. Chủ thẻ cũng có thể thấy
điều này khi sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ thông qua một
mạng lới rộng rãi các CSCNT trong và ngoài nớc hay rút tiền mặt khi cần thiết
tại các tổ chức tài chính hay ngân hàng trên thế giới hoặc tại các máy rút tiền
tự động ATM với loại tiền phù hợp của nớc sở tại.
Với kích thớc gọn nhẹ của thẻ, chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo ngời,
tạo cảm giác thoải mái khi đi mua sắm, đặc biệt với khối lợng chi trả lớn. Khi
mua sắm hàng hoá, dịch vụ, khách hàng chỉ cần xuất trình thẻ và ký vào hoá
đơn thanh toán thì việc mua bán hàng hoá coi nh đã hoàn thành. Với việc sử
dụng thẻ, một cách gián tiếp khách hàng đã tiết kiệm đợc chi phí vận chuyển
và kiểm đếm tiền. Với việc sử dụng thẻ, khách hàng có thể thực hiện giao dịch
bằng bất cứ loại tiền tệ nào trên thế giới nhng chỉ phải thanh toán cho ngân
hàng phát hành thẻ bằng đồng bản tệ.
Bên cạnh đó, với một tấm thẻ trong tay, chủ thẻ không còn gặp tình
trạng phải chạy đến ngân hàng trớc giờ đóng cửa để rút tiền mặt mà họ có thể
rút tiền mặt tại các máy ATM đợc trang bị ở nhiều nơi công cộng ở trong và
ngoài nớc. Thẻ làm giảm đến mức tối thiểu nhu cầu giữ tiền mặt, cho phép ng-
ời sử dụng hoãn việc chi trả các hàng hoá và dịch vụ trong một thời gian ngắn,
các báo cáo chi trả đợc thực hiện một cách thuận lợi có ý nghĩa quan trọng
trong đánh giá tín dụng. Những ngời sử dụng thẻ có hạn mức tín dụng tuần
hoàn ngoài ra cón có thêm một thuận lợi nữa là gia tăng khả năng mua hàng
hoá và dịch vụ, và bằng cách ấy tránh đợc nạn quan liêu khi xin cấp các khoản
cho vay cá nhân. Hơn nữa, ngời có thẻ tín dụng có sự mềm dẻo đáng kể trong
việc định thời gian và việc hoàn trả khối lợng nợ. Với thẻ ghi nợ, khách hàng
thậm chí còn đợc hởng một mức thấu chi nhất định trên tài khoản tiền gửi của
mình tại ngân hàng. Đặc biệt đối với thẻ công ty, ngoài những tiện ích trên, nó
còn giúp công ty quản lý và kiểm soát hiệu quả các chi tiêu của nhân viên

lên vì thẻ là một phơng tiện thanh toán hiện đại . Nó đại diện cho một xã hội
văn minh, tiến bộ. Trong điều kiện đời sống của ngời dân đợc nâng cao thì du
lịch quốc tế trở thành một nhu cầu không thể thiếu. Ngày nay thẻ đã đợc sử
dụng rộng rãi trên thế giới và khách nớc ngoài thờng rất thích dùng thẻ nên
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chấp nhận thẻ cũng là một cách giúp các đại lý thu hút khách hàng, tăng
doanh số bán hàng.
Việc chấp nhận thẻ sẽ giúp các đơn vị này đa dạng hoá phơng thức
thanh toán, giảm tình trạng chậm trả của khách hàng cũng nh công tác kiểm
đếm, thu giữ tiền mặt, tránh nhận phải tiền giả trong thanh toán, qua đó giảm
đợc các chi phí kinh doanh không cần thiết.
Một điều quan trọng khác là khi chấp nhận thanh toán thẻ, các CSCNT
hởng lợi rất nhiều từ ngân hàng. Các đại lý sẽ đợc ngân hàng cung cấp các
máy móc cần thiết cho việc thanh toán bằng thẻ, họ không phải mất tiền đầu t
cho hình thức thanh toán này. Các CSCNT nhờ đó cũng thiết lập đợc mối quan
hệ mật thiết với ngân hàng, điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ dành
cho họ những khoản u đãi trong những giao dịch khác, đặc biệt là trong các
quan hệ tín dụng. Trong nền kinh tế thị trờng, hầu hết các cơ sở kinh doanh
đều sử dụng một lợng vốn lớn vay từ ngân hàng nên đợc u đãi trong vay vốn là
một lợi ích lớn đối với tất cả các cơ sở kinh doanh.
2.6.3. Đối với ngân hàng
Khi tham gia hoạt động kinh doanh thẻ, ngân hàng phát hành (NHPH)
cũng nh ngân hàng thanh toán thẻ thu đợc rất nhiều lợi ích.
Thứ nhất, thẻ cho phép các ngân hàng đa ra đợc các dịch vụ mới cho
các khách hàng hiện có và là một phơng tiện tối u để hấp dẫn các khách hàng
mới- các cá nhân cũng nh các ngân hàng bán lẻ. Ngân hàng có thể phát triển
các dịch vụ khác liên quan đến thanh toán thẻ nh kinh doanh ngoại tệ, nhận
tiền gửi,... Cùng với việc cung cấp các dịch vụ đầy đủ và đa dạng hoá dịch vụ,
danh tiếng cũng nh uy tín của ngân hàng đợc nâng lên. Việc gia nhập các tổ

trong các phơng tiện thanh toán. Nhờ vậy mà khối lợng cũng nh áp lực tiền
mặt trong lu thông giảm đáng kể, từ đó làm giảm các chi phí vận chuyển, phát
hành, kiểm kê tiền trong nền kinh tế, đồng thời cũng giúp ngăn chặn đợc nạn
làm tiền giả.
Thứ hai là tăng nhanh tốc độ chu chuyển, thanh toán. Hầu hết mọi giao
dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều đợc thực hiện và thanh toán
trực tuyến, vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so với những
giao dịch sử dụng các phơng tiện thanh toán khác. Thay vì thực hiện các giao
dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ, mọi thông tin đều đợc xử lý qua hệ thống
máy móc điện tử thuận tiện, nhanh chóng.
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ ba là thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nớc. Việc sử dụng
thẻ đợc thực hiện thông qua mạng trực tuyến dới sự kiểm soát của ngân hàng
đã tạo điều kiện quan trọng cho việc kiểm soát khối lợng giao dịch thanh toán
của dân c và của cả nền kinh tế, do đó hạn chế và giảm thiểu tác động tiêu cực
của các hoạt động kinh tế ngầm, đồng thời tạo tiền đề cho việc tính toán lợng
tiền cung ứng, tăng cờng tính chủ đạo của nhà nớc trong điều tiết nền kinh tế,
điều hành, thực thi các chính sách kinh tế tài chính, tiền tệ, ngoại hối và thực
hiện quản lý thuế có hiệu quả.
Thứ t là cải thiện môi trờng văn minh thơng mại, thu hút khách du lịch
và đầu t nớc ngoài. Thanh toán bằng thẻ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho
việc hội nhập nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, trớc hết trong lĩnh
vực hết sức quan trọng: hoạt động tài chính ngân hàng, thông qua các tổ chức
thẻ quốc tế lớn trên thế giới. Việc tiếp cận với phơng tiện văn minh hiện đại
của thế giới, tạo ra một môi trờng thơng mại văn minh, hiện đại hơn cũng là
một yếu tố thu hút khách du lịch, các nhà đầu t nớc ngoài vào Việt Nam.
Thanh toán thẻ an toàn, hiệu quả, chính xác, nhanh chóng cũng sẽ tạo niềm tin
của dân chúng vào hoạt động của hệ thống ngân hàng.
2.6.5. Rủi ro trong kinh doanh thẻ

thông báo đó, thẻ đợc gửi về địa chỉ mới không phải là địa chỉ của chủ thẻ đích
thực, dẫn đến tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng. Việc này sẽ chỉ đợc phát hiện
khi chủ thẻ hỏi NHPH về thẻ mới của mình hoặc khi nhận đợc sao kê thanh
toán nợ cho những khoản mà mình không hề chi tiêu. Rủi ro này chủ thẻ và
NHPH cùng phải chịu.
Thẻ bị giả mạo để thanh toán qua th, điện thoại: CSCNT cung cấp dịch vụ,
hàng hoá theo yêu cầu của chủ thẻ qua th hoặc điện thoại dựa vào các thông
tin về chủ thẻ: loại thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, mà không biết
rằng khách hàng đó có thể không phải là chủ thẻ chính thức. Khi giao dịch đó
bị NHPH từ chối thanh toán thì CSCNT phải chịu rủi ro.
Nhân viên CSCNT giả mạo hoá đơn thanh toán thẻ: Khi thực hiện giao
dịch, nhân viên CSCNT cố tình in ra nhiều bộ hoá đơn thanh toán cho một
giao dịch nhng chỉ đa cho chủ thẻ ký vào một bộ hoá đơn. Các hoá đơn còn lại
bị giả mạo chữ ký của chủ thẻ để thu đòi tiền từ NHTTT. Trờng hợp này dẫn
đến rủi ro cho CSCNT hoặc NHPH.
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tạo băng từ giả: Các tổ chức tội phạm dùng các thiết bị chuyên dụng thu
thập thông tin thẻ trên băng từ của thẻ thật tại CSCNT, sử dụng phần mềm
riêng để mã hoá, in và tạo băng từ trên thẻ giả và thực hiện các giao dịch giả
mạo. Loại thẻ này đang phát triển tại các nớc tiên tiến và gây thiệt hại cho chủ
thẻ, NHPH và NHTT.
2.7. Các nhân tố ảnh hởng đến sự phát triển thẻ thanh toán
2.7.1. Các nhân tố khách quan
2.7.1.1. Các điều kiện về mặt xã hội
Sự phát triển và mức độ phát triển thanh toán thẻ tại mỗi quốc gia phụ
thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của xã hội đó. Nó gồm có những nội
dung chính sau:
Thói quen giao dịch của công chúng: Thói quen sử dụng phơng tiện thanh
toán nào của công chúng là một nhân tố đặc biệt quan trọng tác động đến sự

nhất, đồng bộ mới có thể đảm bảo cho quyền lợi của tất cả các bên tham gia
phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh giữa các
ngân hàng trên thị trờng thẻ, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho phát triển thẻ
trong tơng lai.
2.7.1.5.Điều kiện về cạnh tranh
Mở rộng phát hành và thanh toán thẻ phụ thuộc rất nhiều vào cạnh tranh
trên thị trờng. Sự cạnh tranh lành mạnh buộc các ngân hàng phải có suy nghĩ
nghiêm túc cho việc đầu t phát triển loại hình thanh toán hiện đại, tạo cho
ngân hàng sự chủ động, sáng tạo trong việc cung cấp những sản phẩm thẻ chất
lợng tốt nhất đem lại lợi ích cao nhất cho khách hàng để thu lợi nhuận.
2.7.2. Các nhân tố chủ quan
2.7.2.1.Điều kiện khoa học công nghệ:
Các ứng dụng của tin học đã tạo nên những tiện ích kỳ diệu của thẻ.
Thanh toán thẻ gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại nên nếu hệ thống
này có trục trặc thì sẽ gây ách tắc trong toàn hệ thống. Vì vậy, đã đa ra dịch vụ
thẻ, ngân hàng phải đảm bảo một công nghệ thanh toán hiện đại theo kịp yêu
cầu của thế giới. Hơn nữa, chỉ khi có trình độ kỹ thuật cao thì việc vận hành,
bảo dỡng, duy trì hệ thống máy móc phục vụ phát hành, thanh toán thẻ mới có
hiệu quả, từ đó thu hút thêm ngời sử dụng nó.
25

Trích đoạn Xét về mạng lới cơ sở chấp nhận thẻ: Tiềm năng và cơ hội phát triển của thị trờng phát hành thẻ Hoàn thiện và đơn giản hoá quy trình phát hành thẻ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status