ợi nhuận và một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận ở Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118. - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng cơ bản là một rtong những ngành sản xuất mũi nhọn của nền kinh
tế quốc dân, chiếm vị trí quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở
nước ta. Cùng với tiến trình phát sinh chung của đất nước, ngành xây dựng cơ bản
đã và đang không ngừng khẳng định vị thế của mình ngày một lớn mạnh, làm cho
bộ mặt đất nước thay đổi từng ngày.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang vận hành theo cơ chế
thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, chính sách mở cửa đã tạo ra những
cơ hội mới cũng như những khó khăn mới cho các doanh nghiệp xây lắp trong
nước khi vừa phải cạnh tranh với nhau lại vừa phải cạnh tranh với các doanh
nghiệp xây lắp nước ngoài có tiềm năng tài chính to lớn, trang thiết bị hiện đại và
bề dày kinh nghiệm trong đấu thầu quốc tế. Các doanh nghiệp muốn tồn tại, phát
triển và đứng vững trên thị trường thì hoạt động sản xuất kinh doanh phải có lãi,
phải mang lại lợi nhuận. Chính vì vậy hiệu quả kinh tế trở thành vấn đề quan tâm
hàng đầu của các doanh nghiệp. Mà hiệu quả kinh tế được biểu hiện tập trung ở
một trong những đòn bẩy kinh tế có hiệu lực nhất kích thích mạnh mẽ hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, lợi nhuận còn là nguồn tài chính
quan trọng dùng để tái sản xuất mở rộng kinh doanh và nâng cao đời sống người
lao động trong doanh nghiệp .
Xuất phát từ vai trò to lớn của lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh
và trong thực tế hiện nay, thì việc đi sâu tìm hiểu về lợi nhuận và các nhân tố ảnh
hưởng tới lợi nhuận để từ đó có biện pháp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp là một
việc làm rất thiết thực và hết sức cần thiết. Qua quá trình học tập, nghiên cứu và
tìm hiểu hoạt động Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118, được sự
giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn TS. Bạch Đức Hiển, tập thể anh chị
phòng Tài chính kế toán của Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118.
Em đã tập trung nghiên cứu đề tài:
Lợi nhuận và một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận ở Công ty cổ phần
xây dựng công trình giao thông 118.
1
1

nguồn lực trong sản xuất kinh doanh. Tận dụng các điều kiện của môi trường kinh
doanh. Về mặt lượng, lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra
để có được doanh thu đó.
Lợi nhuận phản ánh toàn bộ hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, chuẩn bị sản xuất
kinh doanh, tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức cung cấp hàng hoá dịch
vụ. Trong một kỳ hoạch toán ( thường là một năm ) lợi nhuận được xác định như
sau:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
1.1.2. Nội dung lợi nhuận của doanh nghiệp
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, mỗi một doanh nghiệp không chỉ đơn
thuần thực hiện duy nhất hoạt động sản xuất- kinh doanh mà mở rộng ra thêm
nhiều hoạt động khác. để phục vụ cho quá trình quản lý doanh nghiệp, người ta
thường chia lợi nhuận thành 3 bộ phần đó là Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh
doanh. Lợi nhuận của hoạt động tài chính và Lợi nhuận khác.
3
3
* Lợi nhuận hoạt động sản xuất- kinh doanh: Là khoản chênh lệch giữa
doanh thu và chi phí của hoạt động kinh doanh.
LN hoạt động = Doanh - Giá vốn - Chi phí - Chi phí quản lý
SXKD thu thuần hàng bán bán hàng doanh nghiệp
Trong đó :
- Doanh thu = Doanh thu tiêu thụ sản phẩm - Các khoản giảm
Thuần hàng hoá trừ
- Các khoản giảm trừ bao gồm các khoản chiết khấu thương mại giảm giá
hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT
theo phương pháp trực tiếp.
- Giá vốn hàng bán chính là giá thành sản xuất sản phẩm tiêu thụ.
Giá vốn + Chi phí + Chi phí quản lý = Giá thành toàn bộ
hàng bán bán hàng doanh nghiệp sản phẩm tiêu thụ

Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tương đối dùng để so sánh hiệu quả sản
xuất kinh doanhgiữa các kỳ khác nhau trong một doanh nghiệp hoặc giữa các
doanh nghiệp với nhau. Mức tỷ suất lợi nhuận càng cao thì chứng tỏ việc sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp càng có hiệu quả.
Do đó có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi cách có nội dung kinh
tế khác nhau, tuỳ theo yêu cầu của người phân tích. Sau đây là một cách tính tỷ
suất lợi nhuận.
1.1.3.1. Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh (doanh lợi vốn)
Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận trước hoặc sau thuế đạt được với số vốn
sử dụng bình quân trong kỳ (cả vốn cố định, vốn lưu động hay vốn chủ sở hữu).
Công thức xác định :
P
T
sv
= x 100%

V
bq
Trong đó : T
sv
: Tỷ suất lợi nhuận vốn
P : Lợi nhuận trước (sau thuế) đạt được trong kỳ
V
bq
: Tổng số vốn sử dụng bình quan trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận vốn phản ánh cứ một đồng vốn sản xuất bỏ ra trong kỳ sẽ
tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Vì vậy, tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất
của doanh nghiệp, đồng thời nói lên trình độ sử dụng tài sản, vật tư tiền vốn của
doanh nghiệp, qua đó kích thích doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả hơn.

st
= x 100%
V
bq
Trong đó :
T
st
: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu tiêu thụ
P : Lợi nuận trước hoặc sau thuế sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
V
bq
: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Đay là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết cứ một động doanh thu thì thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Nếu ta đem so sánh tỷ suất này với tỷ suất chung của toàn ngành mà kết quả
thấp hơn, chứng tỏ doanh nghiệp đã bán hàng với giá thấp hơn hoặc giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp cao hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành. Qua đó
6
6
doanh nghiệp cần có biện pháp điều chỉnh giá một cách hợp lý để nâng cao hơn
nữa mức lợi nhuận thu được trong doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng
với vốn chủ sở hữu (vốn tự có) của doanh nghiệp.
Công thức xác định :
P
r
T
svc
= x 100%

thuận lợi cho các doanh nghiệp. Song trên một phương diện khác, cơ chế thị
trường cũng là mảnh đất màu mỡ cho các quy luật cạnh tranh, quy luật đào thải…
7
7
phát triển mạnh mẽ, trở thành mối đe doạ đối với tất cả các doanh nghiệp ở mọi
thành phần kinh tế. Do vậy, vẫn đề đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp là muốn tồn tại
và phát triển được trong nền kinh tế thị trường phải đảm bảo được hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình có hiệu quả cao. Hay nói cách khác, lợi nhuận là mục
tiêu tiên quyết và việc phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp là thực sự cần
thiết.
1.2. Ý nghĩa về lợi nhuận của doanh nghiệp
Vì lợi nhận là biểu hiện của giá trị thặng dư do lao động tạo ra sau một thời
kỳ tổ chức hoạt đống sản xuất kinh doanh nên nó có ý nghĩa rất quan trọng không
chỉ với doanh nghiệp, người lao động mà còn có ý nghĩa quan trọng với nền sản
xuất xã hội.
- Đối với nền sản xuất xã hội.
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội bởi sự tham
gia của các doanh nghiệo vào ngân sách nhà nước để quản lý và phát triển xã hội
thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp. Đó cũng là cơ sở tăng thu nhập
quốc dân, thu nhập quốc dân càng tăng thì khả năng tái sản xuất và phát triển kinh
tế xã hội càng nhiều. Hơn nữa lợi nhuận còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp
thực hiện các hoạt động từ thiện, nhân đạo.
- Đối với người lao động
Sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế sẽ được trích lập
các quỹ trong đó có quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng, phúc
lợi. Lợi nhuận sau thuế càng nhiều, các quỹ này càng lớn, điều đó cũng đồng nghĩa
với việc doanh nghiệp tạo ra điều kiện sống về vật chất và từ đó kích thích tinh
thần hăng say lao động và tạo được môi trường làm việc ổn định cho người lao
động.
8

xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Thông qua các chỉ tiêu lợi nhuận các
năm, giúp doanh nghiệp có cái nhìn toàn cảnh về chất lượng quá trình sản xuất từ
khâu cung ứng nguyên vật liệu, sản phẩm sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
Nếu doanh nghiệp biết cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho hạ thì lợi
9
9
nhuận của doanh nghiệp cao và ngược lại. Thông qua việc chỉ tiêu này sẽ giúp cho
doanh nghiệp trong quản lý và đưa ra các quyết định hợp lý.
Với ý nghĩa sau sắc đó, mọi doanh nghiệp luôn mong muốn tăng lợi nhuận
càng nhiều càng tốt, thông thường với các cơ bản sau.
1.3. Một số phương hướng và biện pháp cơ bản để nâng cao lợi nhuận
của doanh nghiệp.
1.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chúng ta đã biết, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể thu được từ nhiều hoạt
động khác nhau (hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động khác). Tuy nhiên,
trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh là chủ yếu, quyết định đến sự tồn tại và
tăng trưởng của doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc tập trung nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng tới lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh là hết sức cần thiết.
1.3.1.1. Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá được xác định bằng công thức :
T =

=
n
i 1
Sli x gi
Trong đó : DT : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Sli : Sản lượng tiêu thụ của sản phẩm i
gi : Giá bán sản phẩm loại i
Như vậy, doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng hay giảm phụ thuộc vào rất nhiều

và ngược lại. Nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, giá bán các mặt
hàng thường được hình thành một cách khách quan do quan hệ cung- cầu trên thị
trường quyết định. Do đó doanh nghiệp khó có thể tự tăng giá bán cao hơn các mặt
hàng khác cùng loại trên thị trường mà vẫn thu được lợi nhuận.
- Công tác tổ chức bán hàng: đây cũng là một khâu quan trọng ảnh hưởng
đến kết quả doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Trong công tác này, có 2 nhân tố chính
cần xem xét:
+ Hình thức bán hàng: Hình thức bán hàng của các doanh nghiệp rất đa dạng
như bán buôn , bán lẻ, đại lý… Vì vậy, nếu biết kết hợp linh hoạt các hình thức bán
hàng và làm tốt công tác quảng cao, giới thiệu sản phẩm thì doanh nghiệp sẽ nâng
cao được khối lượng tiêu thụ, từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận.
+ Phương thức thanh toán: Nếu khối lượng tiêu thụ hàng hoá lớn, thì doanh
nghiệp không chỉ thanh toán bằng tiền mặt mà còn áp dụng nhiều hình thức thanh
toán khác nhau như chuyển khoản, séc, ngân phiếu… Ngoài ra, để khuyến khích
khách hàng mua khối lượng lớn. Nhờ đó, tạo nên một cơ chế thanh toán mềm dẻo,
11
11
linh hoạt, thúc đẩy doanh số bán ra, vì vậy doanh nghiệp phải tăng doanh thu và lợi
nhuận.
- Nhân tố thị trường tiêu thụ: Thị trường vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm, vừa là
nơi cung cấp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho doanh
nghiệp là phải làm tốt công tác nghiên cứu thị trường, từ đó nêu ra các điều kiện
tăng doanh thu và lợi nhuận.
- Đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành nghề: đây cũng là nhân tố
khách quan, có ảnh hưởng lớn đến công tác tiêu thụ sản phẩm. Vì các ngành có đặc
điểm sản xuất kinh doanh khác nhau nên quá trình tiêu thụ sản phẩm cũng khác
nhau. Như vậy đối với ngành xây lắp, sản phẩm có tính đơn chiếc và việc tiêu thụ
tuỳ thuộc vào phương thức bàn giao công trình.
1.3.1.2. Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm hàng hoá tiêu thụ:

- Các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của doanh
nghiệp: Trong nhiều trường hợp, điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của
từng doanh nghiệp khó khăn hay thuận lợi cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
tiết kiệm chi phí , hạ giá thành.
Chẳng hạn đối với các doanh nghiệp khai thác, nguồn tài nguyên cũng như
điều kiện khai thác có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá
thành. Nguồn tài nguyên phong phú, điều kiện khai thác thuận lợi thì chi phí khai
thác sẽ thấp và ngược lại.
Các doanh nghiệp mới thành lập, chưa có kinh nghiệm kinh doanh, sản xuất
chưa ổn định… sẽ khó khăn hơn trong việc hạ giá thành. Hoặc trong điều kiện sản
xuất cạnh tranh, các doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư nhiều hơn trong đổi mới
kỹ thuật, công nghệ sản xuất, đào tạo lao động, quảng cáo, tiếp thị… Vì vậy cũng
có thể làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường việc tăng giá bán là rất khó, bởi thế các doanh
nghiệp cần phải tính toán làm sao tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành làm tăng
khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Đây phải là vấn đề then chốt của
doanh nghiệp, nó phản ánh trình độ quản lý sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn
trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố tới chi phí sẽ thấy được hướng
đi, và biện pháp thiết thực có hiệu quả để phấn đấu tăng lợi nhuận nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh.
13
13
1.3.2. Một số phương hướng và biện pháp cơ bản để nâng cao lợi nhuận
của doanh nghiệp.
1.3.2.1. Nâng cao doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
Có thể nói rằng tiêu thụ là khâu quan trọng cuối cùng của quá trình sản xuất.
Kết quả của việc tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng và số lượng
hàng hoá bán ra. Chỉ khi quá trình tiêu thụ sản phẩm kết thúc thì doanh nghiệp mới
có thể xác định được lợi nhuận. Do đó tăng chất lượng sản phẩm cũng là phương

- Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính đối với việc sử dụng chi
phí và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp xây lắp do đặc điểm riêng có của mình như chu kỳ sản
xuất kéo dài, thành phần chi phí phụ thuộc và từng giai đoạn của quá trình xây
dựng cơ bản, đặc biệt phần lớn chi phí nằm ở công đoạn đầu. Do đó phải có
phương thức quản lý chi phí ở từng giai đoạn một cách thích hợp và rút ngắn được
thời gian thi công. Đối với doanh nghiệp xây lắp cũng như các doanh nghiệp khác
hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường thì lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu.
Và chi phí là nhân tố có tác động trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp, nó đồng
nghĩa với việc ; nếu giảm bớt một đồng chi phí sẽ làm tăng thêm một đồng lợi
nhuận và ngược lại.
Tuy nhiên, vấn đề quản lý chi phí trong doanh nghiệp xây lắp rất phức tạp.
Mặt khác trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các
doanh nghiệp xây lắp trong và ngoài nước, thể hiện rõ nét nhất trong khi tham gia
đấu thầu một công trình thì việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm là
một trong những điều kiện tiên quyết để thắng thầu.
Nhìn chung, ở đa số các doanh nghiệp xây lắp hiện nay trình độ quản lý chi
phí còn chưa cao gây lãng phí dẫn đến việc " đội " giá thành sản phẩm, đòi hỏi các
doanh nghiệp cần phải tăng cường hơn nữa các công tác quản lý tiết kiệm chi phí,
tính đúng và tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm .
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến giá thành xây lắp nhưng ta có thể tập hợp
chúng thành hai nhân tố cơ bản là nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan .
Nhân tố khách quan:
- Các nhân tố về thị trường:
Thị trường ở đây là thị trường các yếu tố đầu vào bao gồm thị trường
nguyên vật liệu, thị trường lao động, thị trường máy thi công. Do đặc điểm là sản
phẩm xây lắp được phân bổ trên các vùng lãnh thổ khác nhau nên thị trường cung
cấp các yếu tố trên để sản xuất sản phẩm xây lắp cũng khác nhau.
15
15

16
16
- Trình độ sử dụng (tiết kiệm hay lãng phí) nguyên nhiên vật liệu, năng
lượng, động lực.
- Khả năng tận dụng công suất máy móc, thiết bị và mức độ trang bị kỹ thuật
trong doanh nghiệp.
- Trình độ sử dụng lao động.
- Trình độ tổ chức sản xuất.
- Trình độ quản lý tài chính của doanh nghiệp.
* Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng là mang tính đặc thù, vì vậy để tiết
kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm các doanh nghiệp thường sử dụng các biện
pháp sau:
- Hạ chi phí vật tư:
Đối với doanh nghiệp hoạt động xây lắp thì chi phí vật tư chiếm một tỷ
trọng lớn trong tổng chi phí (khoảng 70-75%), có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành
sản phẩm xây lắp do đó công tác quản lý của chi phí này có một vị trí quan trọng.
Để giảm chi phí vật tư các doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ từng yếu tố cấu
thành nên nó được nêu ra bằng các biện pháp như sau:
+ Biện pháp quản lý giá vật tư: giá vật tư có tính biến động cao nên các
doanh nghiệp phải có những biện pháp để cập nhật thông tin. Để có những quyết
định thu mua hay dự trữ một cách có khoa học, kịp thời trên cơ sở xem xét mối
quan hệ giữa nhu cầu của doanh nghiệp với sự biến động tăng giảm của giá vật tư
trên thị trường.
Các doanh nghiệp cũng có định hướng thiết lập mối quan hệ bán hàng lâu
dài với các nhà cung cấp để đạt được những ưu tiên nhất định trong mua bán (chiết
khấu hay giảm giá).
Bằng chế độ tiền lương và khen thưởng khuyến khích các cán bộ công nhân viên
nghiên cứu và đề xuất tìm kiếm các nguồn vật tư mới có chi phí thấp hơn mà vẫn
đảm bảo chất lượng.
+ Biện pháp quản lý định mức: quản lý chặt chẽ bằng việc dựa vào hồ sơ

điều động phù hợp tránh tình trạng thừa hay thiếu dẫn đến đảm bảo kông tiíen độ,
ảnh hưởng tới các kế hoạch khác.
Sử dụng tối đa công suất máy móc cũng như có kế hoạch kiểm tra, bảo
dưỡng thiết bị đúng kỳ hạn và đúng kỹ thuật để kéo dài tuổi thọ của máy thi công.
+ Đối với chi phí chung khác: Tinh giản hoá bộ máý quản lý các công trình,
bố trí đúng người đúng việc. Lập và quản lý chặt chẽ các định mức chi tiêu trên
nguyên tác tiết kiệm mà hiệu quả.
18
18
1.3.2.3. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh:
Sử dụng vốn sản xuất kinh doanh không phải là một hoạt động đơn thuần về
mặt thu, chi tài chính mà thực chất là một nghệ thuật trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nghĩa là phải sử dụng vốn sản xuất để có
hiệu quả cao nhất. Vốn sản xuất kinh doanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động.
- Đối với vốn cố định:
Cần tận dụng tối đa năng lực sản xuất của máy móc, thiết bị , làm cho chi
phí về khấu hao máy móc, thiết bị tính cho một đơn vị sản phẩm giảm, qua đó hạ
giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận. Đồng thời sử dụng tốt tài sản cố định sẽ tránh
được hao mòn vô hình, máy móc, thiết bị được khấu hao nhanh, vốn quay vòng
nhanh, tranh thủ được tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ tạo điều kiện nâng cao
năng suất lao động, hạ giá thành.
- Đối với vốn lưu động:
Cần phải tìm biện pháp tăng nhanh vòng quay của vốn. Cần tránh để vốn vật
tư, hàng hoá thành phẩm thành ứ đọng, tránh tình trạng mất mát, hư hỏng... nhằm
tiết kiệm được chi phí lưu kho, chi phí quản lý, chi phí lãi tiền vay vốn kinh
doanh... Từ đó góp phần hạ giá thành sản phẩm dẫn đến tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
Trên đâý là một số phương hướng và biện pháp thông thường, căn bản mà
các doanh nghiệp thường áp dụng nhằm nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp
mình. tuy nhiên, ngoài những biện pháp này các doanh nghiệp còn có thể xem xét

Từ năm 1999 đến nay, Công ty đã đổi mới mạnh mẽ và toàn diện ở tất cả
mọi mặt: Con người, thiết bị, công nghệ, hệ thống quản lý, ngành nghề… Đã tạo ra
những bước tiến nhảy vọt. Sau 4 năm đổi mới, sản lượng năm 2002 đã tăng gần 20
lần so với năm 1998. Đã phát triển thêm nhiều ngành nghề mới, nhiều thị trường
mới và có một nền tài chính ổn định, lành mạnh.
Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 được Quyết định thành
lập số 528/2001/QĐ/BGTVT, giấy phép đăng ký kinh doanh số 0103000738 ngày
14/1/2002. của UBNDTP Hà Nội, với thời gian hoạt động là 50 năm, vốn điều
lệ:10.000.000.000đ (do cổ đông sáng lập). Tỷ lệ vốn Nhà nước: 28,0%, tỷ lệ vốn
cổ đông trong và ngoài doanh nghiệp: 72%.
Trụ sở chính của Công ty đóng tại: Cầu Diễn- Từ Liêm- Hà Nội.
Hiện nay Công ty đã và đang thi công đồng thời các dự án lớn trong cả nước
như:
20
20
+ Dự án mở rộng Quốc lộ 1A (Thi công chọn gói)
- Đoạn từ KM 547 - KM 570 (HĐ2) Dự án Vinh - Đông Hà: 48 tỷ VNĐ
- Đoạn từ KM 766 - KM 788 (HĐ1) Dự án Đông Hà - Quảng Ngãi: 69 tỷ
VNĐ
- Dự án 3 cầu, 10 cầu đoạn Hà Nội - Lạng Sơn.
+ Dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh (Cầu + đường) Đoạn Hương Sơn -

Tĩnh: 15 tỷ VNĐ.
+ Dự án vành đai 3 Hà Nội đoạn: KM 18 + 700 - KM 21 + 40: 55 tỷ VNĐ.
+ Các hạng mục hạ tầng Nhà máy lọc dầu và khu công nghiệp Dung Quất:20
tỷ VNĐ.
+ Hệ thống đường vào nhà máy Thuỷ điện Đại Ninh - Bình thuận (Cầu +
đường): 41 tỷ VNĐ.
+ Cầu Rạch Bàng, Cầu An Lập - TPHCM: 30 tỷ VNĐ.
+ Cầu Cái Tư (Cần Thơ): 50 tỷ VNĐ.

+ Sửa chữa xe máy, thiết bị thi công, gia công cơ khí.
+ Tư vấn thiết kế, thí nghiệm vật liệu, đầu tư giám sát các công trình không
do Công ty thi công.
+ Kinh doanh bất động sản.
+ Buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng.
+ Vận tải hành khách hàng hoá.
+ Kinh doanh dịch vụ khách sạn, du lịch, vui chơi giải trí…
2.1.3. Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.3.1. Đặc diểm tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh.
Hiện nay, Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 tổ chức lực
lượng lao động, Công ty có một chi nhánh phía nam (TPHCM). Cả chi nhánh lẫn
Công ty đã tổ chức hạch toán riêng, còn các đội xây dựng Công ty không có tổ
chức kế toán riêng.
- Hình thức sở hữu vốn: Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông
118 có hình thức sở hữu vốn theo vốn cổ phiếu. Và có hình thức hoạt động theo
một Công ty cổ phần.
22
22
- Lĩnh vực kinh doanh: Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông
118 xây dựng các công trình giao thông, sản xuất các vật liệu xây dựng , suất
chung gia công cơ khí.
- Công ty có tổng cộng công nhân 535 người; trong đó nhân viên quản lý
172 người.
Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 là Công ty có quy mô
lớn, địa bàn hoạt động rộng, phân tán trên nhiều vùng của đất nước cho nên việc
tổ chức lực lượng thi công có tổ chức hạch toán riêng như trên, giúp cho Công ty
trong việc quản lý lao động và phân công lao động thành nhiều điểm thi công khác
nhaumột cách có hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu suất công tác kế toán phù hợp
với đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty.
Đối với chi nhánh, mọi công việc kế toán từ xử lý chứng từ ban đầu đến lập

Bộ máy quản lý
Xưởng sửa chưa
Các đội thi công độc lập
Các BĐH dự án
Các đội thi công
Văn phòng
Phòng tài chính kế toán
Phòng kinh tế thị thường
Phòng quản lý thiết bị
Phòng kỹ thuật công nghệ
Chí nhánh phía Nam
24
24
- Đại hội đồng quản trị: là cơ quan có quyền lực cao nhất trong công ty cổ
phần.Đại hội đồng cổ đông thường niên do hội đồng quản trị triệu tập họp mỗi năm
một lần để thông qua báo cáo tài chính và thông qua định hướng phát triển của
công ty.
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh
Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty
như quyết định chiến lược phát triển Công ty, quyết định phương án đầu tư… (trừ
những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng).
- Ban kiểm soát: Có chức năng kiểm tra tính hợp lý và hợp pháp trong quản
lý, điều hành hoạt động kinh doanh trong ghi chép sổ kế toán và Báo cáo tài chính,
thường xuyên thông báo với hội đồng quản trị về kết quả hoạt động, tham khảo ý
kiến của Hội đồng quản trị khi trình các báo cáo kết luận và kiến nghị lên Đại hội
đồng cổ đông.
- Giám đốc: Là người có quyền điều hành cao nhất trong Công ty, chịu trách
nhiệm chính và có quyền cao nhất về công việc sản xuất kinh doanh. Giám đốc là
chủ tài khoản, thực hiện việc trả lương cho cán bộ công nhân viên. Sự giám sát,
theo dõi, những quyết định của giám đốc dựa trên các báo cáo từ các phòng ban,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status