Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
LỜI MỞ ĐẦU
A. Lý Do Chọn Đề Tài:
Trong thời buổi kinh tế hội nhập, các quốc gia trên thế giới đang cố hòa mình vào
một nền kinh tế toàn cầu hóa. Xu hướng hội nhập kinh tế thế giới đã trở thành mục tiêu
chung cho tất cả các quốc gia. Doanh nghiệp nào linh hoạt, năng động thích nghi nhanh
với xu hướng phát triển của thế giới thì sẽ tồn tại vững mạnh, doanh nghiệp nào không
thích nghi nhanh với xu hướng biến đổi của thế giới thì sẽ bị đình trệ. Trước thực trạng
biến đổi đó của thế giới, Việt Nam cũng đang từng bước tự vươn lên hòa mình cùng với
xu hướng phát triển của thế giới và khu vực để vững vàng bước vào một tương lai tươi
sáng rộng mở.
Để tiếp tục theo đuổi mục đích đó, Việt Nam phải không ngừng đẩy mạnh việc
sản xuất và xuất khẩu các ngành hàng có thế mạnh như thủ công mỹ nghệ, mây tre đan,
dầu khí, dệt may, giày da, các sản phẩm từ gỗ…, trong đó ngành sản xuất chế biến gỗ
chiếm phần quan trọng. Trong những năm gần đây ngành chế biến gỗ Việt Nam đang
phát triển với tốc độ rất nhanh, vươn lên là một trong 7 mặt hàng đem lại kim ngạch
xuất khẩu lớn cho đất nước, đưa Việt Nam trở thành một trong bốn quốc gia xuất khẩu
hàng gỗ chế biến lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Hiện cả nước có khoảng hơn
2000 doanh nghiệp chế biến gỗ với năng lực chế biến 2,2 – 2,5 triệu mét khối gỗ tròn
mỗi năm. Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm gỗ trong nước và trên thế giới đang tăng đáng kể,
với mức tăng tối thiểu 8%/năm. Theo thống kê sơ bộ của Tổng Cục Thống Kê Liên Hiệp
Quốc (Comtrade Data), nhập khẩu các mặt hàng đồ gỗ của thị trường thế giới đã lên
đến gần 200 tỷ đô la Mỹ năm 2002. Trong đó, nước nhập khẩu nhiều nhất là Mỹ, kế đến
là Đức, Pháp, Anh và Nhật Bản.
Trước tình hình đó, ngành công nghiệp chế biến hàng mộc của thế giới cũng đã
thay đổi đáng kể, đặc biệt là ở Trung Quốc và ở một số nước Châu Á khác như
Inđônêxia, Thái Lan, Malaysia,. . . đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất
lượng. Ngành sản xuất chế biến gỗ Việt Nam cũng đang nhanh chóng phát triển, tuy
nhiên vẫn còn một số điểm hạn chế.
Trước tình hình cạnh tranh gay gắt như vậy, thì vấn đề đặt lên hàng đầu của các
doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế hay lợi nhuận để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát
trong năm tới.
C. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Công ty Cổ Phần Gosaco, Tp.HCM với
việc thu thập số liệu thứ cấp qua hai năm 2008 và 2009.
Thời gian: Đề tài được tiến hành từ ngày 2/8/2009 đến 20/10/2010.
D. Nội dung nghiên cứu
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 2
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Đề tài nghiên cứu kết quả, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công Ty Cổ
Phần Gosaco và đưa ra một số giải pháp giúp tăng lợi nhuận nhằm nâng cao kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh.
E. Phương Pháp Nghiên Cứu:
Đề tài nghiên cứu chủ yếu thực hiện phương pháp so sánh tương đối và tuyệt đối qua số
liệu thu thập và chọn lọc tại Công ty Gosaco.
F. Cấu Trúc Luận Văn
Đề tài gồm 3 chương, bố cục như sau
Chương 1: Cơ Sở Lí Luận
Chương này trình bày tổng quát các phương pháp nghiên cứu, các khái niệm về
phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh và sự cần thiết của sự phân tích hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh đối với Công ty, trình bày các chỉ tiêu ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Chương 2: Thực Trạng Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Gosaco
Chương này tập trung vào các nội dung chính của đề tài, đi sâu vào phân tích các
mặt, các chỉ tiêu của quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty qua 2 năm 2008-2009.
Từ đó tìm ra những thuận lợi và khó khăn, điểm mạnh và điểm yếu, các cơ hội và đe dọa
trong hoạt động kinh doanh các mặt hàng gỗ để có thể đề xuất những giải pháp thực
hiện.
Chương 3: Một Số Giải Pháp Giúp Tăng Lợi Nhuận Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả
Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Gosaco
lợi nhuận. Vì vậy, lợi nhuận được coi là một chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất
lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hơn nữa, lợi nhuận còn là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất mở rộng, bù đắp
thiệt hại, rủi ro cho doanh nghiệp, là nguồn vốn rất quan trọng để đầu tư phát triển của
một doanh nghiệp.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 4
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
- Đối với Nhà nước, lợi nhuận là một nguồn thu quan trọng cho Ngân sách Nhà
nước thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp, trên cơ sở đó bảo đảm nguồn lực
tài chính của nền kinh tế quốc dân, củng cố tăng cường tiềm lực quốc phòng, duy trì bộ
máy quản lý hành chính của Nhà nước.
- Đặc biệt, lợi nhuận là một đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích
người lao động và các doanh nghiệp ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở chính sách phân phối lợi nhuận đúng đắn,
phù hợp.
1.2 Nội Dung Và Phương Pháp Xác Định Lợi Nhuận:
1.2.1 Lợi Nhuận Và Phương Pháp Xác Định Lợi Nhuận:
Từ góc độ của doanh nghiệp, có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản
tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại. Từ
khái niệm trên, xác định lợi nhuận cho một thời kỳ nhất định, người ta căn cứ vào hai
yếu tố:
Thứ nhất: Thu nhập phát sinh trong một thời kỳ nhất định.
Thứ hai: Chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó hay nói cách khác
chỉ những chi phí phân bổ cho các hoạt động, các nghiệp vụ kinh doanh đã thực hiện
được trong kỳ.
Công thức chung để xác định lợi nhuận như sau:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Doanh thu là toàn bộ những khoản tiền thu được do các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp đem lại. Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: doanh thu về tiêu thụ
ROA, tỷ suất cho ta biết một đồng vốn đầu tư(tài sản) tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ số nợ =
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 6
Lợi nhuận sau thuế
Vốn CSH bq
Lợi nhuận sau thuế
Vốn CSH bq
Lợi nhuận sau thuế
Chi phí
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bq
Tổng nợ
Tổng tài sản
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Tỷ số cho ta biết một đồng tài sản được tài trợ bằng bao nhiêu đồng nợ
1.2.1.2 Chỉ Tiêu Hiệu Quả Sử Dụng Vốn:
Tỷ suất cho ta biết một đồng vốn bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Hiệu quả sử dụng tổng vốn =
Hiệu quả sử dụng VCĐ =
Hiệu quả sử dụng VLĐ =
Tỷ suất cho ta biết một đồng vốn bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Hiệu suất sử dụng tổng vốn =
Hiệu suất sử dụng tổng vốn: doanh thu được tạo ra từ một đồng vốn.
Hiệu suất sử dụng VCĐ =
Hiệu suất sử dụng VCĐ: doanh thu được tạo ra từ một đồng vốn cố định.
Hiệu suất sử dụng VLĐ =
Hiệu suất sử dụng VLĐ: doanh thu được tạo ra từ một đồng vốn lưu động
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân
Giá trị tổng sản lượng
Tổng số lao động
Lợi nhuận sau thuế
Nguyên giá TSCĐ
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân ngày
Doanh thu
Nguyên giá TSCĐ
Vốn lưu động đầu kì – Vốn lưu động cuối kì
2
Doanh thu thuần
Hàng tồn kho
360
Số vòng quay của VLĐ
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Hiệu quả sử dụng LĐ =
Hiệu quả sử dụng LĐ: lợi nhuận được tạo ra từ 1 lao động.
1.2.1.5 Các Chỉ Tiêu Về Khả Năng Thanh Toán:
a) Khả năng thanh toán hiện thời:
Hệ số thanh toán ngắn hạn còn gọi là hệ số thanh toán hiện hành là thước đo
khả năng có thể trả nợ của doanh nghiệp khi nợ đến hạn bằng các tài sản ngắn hạn. Hệ
số này càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Công ty càng lớn và
ngược lại.
K
ht
=
b) Khả năng thanh toán nhanh
Đo lường mức độ đáp ứng nhanh của vốn lưu động trước các khoản nợ ngắn hạn.
1.3.2 Phương Pháp Phân Tích:
*Phương pháp so sánh:
Là phương pháp được dùng chủ yếu trong phân tích hoạt động sản xuất kinh
doanh, phương pháp này đòi hỏi các chỉ tiêu phải có cùng điều kiện, có tính so sánh
được để rút ra kết luận về hiện tượng và quá trình kinh doanh.
Các điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu kinh tế như sau:
- Phải thống nhất về nội dung phản ánh.
- Phải thống nhất về phương pháp tính toán.
- Số liệu thu thập được của các chỉ tiêu kinh tế phải cùng một khoảng thời
gian tương ứng.
- Các chỉ tiêu kinh tế phải có cùng đại lượng biểu hiện là đơn vị đo lường.
Tùy theo mục đích yêu cầu, tính chất và nội dung của việc phân tích các chỉ tiêu
kinh tế mà sử dụng phương pháp so sánh cho thích hợp.
- Số tuyệt đối: Là mức độ biểu hiện quy mô, khối lượng, giá trị của một chỉ tiêu
kinh tế nào đó trong thời gian và địa điểm cụ thể. Nó có thể tính bằng thước đo hiện vật,
giá trị, giờ công. Số tuyệt đối là cơ sở để tính các chỉ tiêu khác.
- So sánh tuyệt đối: Là so sánh giữa các chỉ tiêu kinh tế của kì kế hoạch với kì
thực tế, giữa những khoảng thời gian, không gian khác nhau để thấy được mức độ hoàn
thành, quy mô phát triển của chỉ tiêu kinh tế nào đó.
- So sánh tương đối: Là tỉ lệ phần trăm (%) của chỉ tiêu phân tích so với chỉ tiêu
gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỉ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc
để nói lên tốc độ tăng trưởng.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 10
Doanh thu thuần
360 ngày
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Tổng doanh thu bán hàng, cung ứng dịch
vụ
(Doanh thu của các nghiệp vụ kinh doanh)
hoạt động
khác
Lợi nhuận trước thuế
Thuế thu nhập
doanh nghiệp
Lợi nhuận sau
thuế
1.4. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Lợi Nhuận Của Doanh Nghiệp:
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, là mục tiêu của công tác quản lý. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để sản xuất kinh
doanh có lợi nhuận, và tiếp sau đó làm thế nào để lợi nhuận ngày càng tăng. Muốn vậy
trước hết cần phải biết lợi nhuận được hình thành từ đâu và sau đó phải biết được những
nguyên nhân nào, nhân tố nào làm tăng hoặc giảm lợi nhuận. Việc nhận thức được tính
chất, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh là bản chất của vấn đề
phân tích kinh tế và chỉ trên cơ sở đó ta mới có căn cứ khoa học để đánh giá chính xác,
cụ thể công tác của doanh nghiệp. Từ đó các nhà quản lý mới đưa ra được những quyết
định thích hợp để hạn chế, loại trừ tác động của các nhân tố làm giảm, động viên và khai
thác tác động của các nhân tố làm tăng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả ngày
càng cao cho doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận của
doanh nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Những nhân tố ảnh hưởng đến
thu nhập và những nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất là những nhân tố ảnh hưởng
trực tiếp đến lợi nhuận. Ngoài ra lợi nhuận còn chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế
xã hội: tình hình kinh tế xã hội trong nước, của ngành và doanh nghiệp, thị trường trong
và ngoài nước. Tất cả những nhân tố đó có thể tác động có lợi hoặc bất lợi cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Dưới đây là một số nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận
của doanh nghiệp.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 11
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 12
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ có ảnh hưởng tới lợi nhuận của
doanh nghiệp.
Rõ ràng, trong điều kiện kinh tế thị trường, với đặc trưng nổi bật nhất là sự cạnh
tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp, thì các yếu tố càng trở nên phức tạp. Nó vừa là
yếu tố ảnh hưởng mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan. Lợi dụng tính phức
tạp của các yếu tố giá mà các doanh nghiệp sử dụng giá không chỉ là yếu tố góp phần
làm tăng lợi nhuận mà còn là vũ khí rất lợi hại trong cạnh tranh. Với vai trò như vậy
trong điều kiện cạnh tranh, yếu tố giá được sử dụng linh hoạt nhưng phải luôn bám vào
và chịu sự chi phối bởi những mục tiêu chiến lược cũng như những mục tiêu cụ thể của
doanh nghiệp đối với từng loại sản phẩm trong từng thời kỳ.
1.4.4. Đối Với Nhân Tố Giá Thành Hoặc Giá Vốn Hàng Bán:
Giá thành là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tiêu hao lao động sống và lao động vật
hoá để sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định. Đây là một trong những nhân
tố quan trọng chủ yếu ảnh hưởng tới lợi nhuận, có quan hệ tác động ngược chiều đến lợi
nhuận. Nếu giá vốn hàng bán giảm sẽ làm lợi nhuận tiêu thụ tăng lên và ngược lại. Nhân
tố giá vốn hàng bán thực chất phản ánh kết quả quản lý các yếu tố chi phí trực tiếp như
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Cụ
thể là:
• Chi phí nhân công trực tiếp:
Khoản này chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong giá thành sản phẩm. Do vậy, doanh
nghiệp cần chú trọng giảm bớt chi phí này bằng nhiều biện pháp trong đó biện pháp
quan trọng nhất là bố trí lực lượng lao động đúng người, đúng việc, đúng trình độ.
• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Vật tư dùng cho sản xuất bao gồm nhiều loại như nguyên vật liệu chính, vật liệu
phụ, nhiên liệu, trong đó phần lớn các loại vật tư lao động tham gia cấu thành thực thể
sản phẩm. Là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất, do đó nếu thiếu vật tư sẽ không
thể tiến hành được các hoạt động sản xuất và xây dựng. Yếu tố này chiếm vai trò quan
trình cạnh tranh, khả năng về vốn dồi dào sẽ giúp doanh nghiệp giành được thời cơ trong
kinh doanh, có điều kiện mở rộng thị trường từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng
doanh thu và tăng lợi nhuận.
1.5 Một Số Biện Pháp Tài Chính Nhằm Tăng Lợi Nhuận Của Doanh Nghiệp:
1.5.1 Phấn Đấu Hạ Thấp Giá Thành Và Chi Phí Trong Các Hoạt Động Kinh Doanh:
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 14
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Đây là biện pháp cơ bản làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu như trên thị
trường tiêu thụ, giá bán và mức thuế đã được xác định thì lợi nhuận của đơn vị sản
phẩm, hàng hóa, khối lượng dịch vụ tăng thêm hay giảm bớt là do giá thành sản phẩm
hoặc chi phí quyết định. Giá thành sản phẩm cao hay thấp, tăng hay giảm đồng nghĩa
với việc lãng phí hay tiết kiệm lao động xã hội. Việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm các
nguồn vốn trên sẽ xác định việc tăng hay hạ giá thành sản phẩm. Đó là một đòi hỏi
khách quan khi các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt khi chính sách thuế của Nhà nước thay đổi, việc hạ giá
thành sản phẩm sẽ làm tăng số lợi nhuận do đó làm tăng nguồn thu cho ngân sách. Như
vậy vấn đề hạ giá thành sản phẩm không chỉ là vấn đề quan tâm của từng ngành sản
xuất, từng doanh nghiệp mà còn là vấn đề của toàn ngành, toàn xã hội.
1.5.2 Tăng Thêm Sản Lượng Và Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm:
Đây là biện pháp quan trọng nhằm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Giả sử các điều
kiện khác không thay đổi thì khối lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, tiêu thụ cung ứng
có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Khả năng tăng sản lượng sản
phẩm trong các doanh nghiệp ở nước ta còn rất lớn vì đa số các doanh nghiệp sử dụng
công suất máy móc thiết bị chỉ mới đạt ở mức 50%, nhiều doanh nghiệp có công suất sử
dụng còn thấp hơn nữa. Nếu chúng ta biết tận dụng máy móc, thiết bị thì việc tăng sản
lượng ngay từ nội lực doanh nghiệp là một khả năng tiềm tàng. Đi đôi với việc tăng sản
lượng sản phẩm, các doanh nghiệp còn phải chú ý nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ cung ứng. Bởi vì chất lượng được nâng cao sẽ giữ được chữ “tín” đối với
người tiêu dùng và giữ được giá bán, doanh thu sẽ tăng, đó chính là điều kiện cơ bản cho
tư, kinh doanh thông thoáng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển và
thu được lợi nhuận ngày càng nhiều, từ đó góp phần xây dựng một xã hội công bằng,
văn minh, dân giàu, nước mạnh như đường lối lãnh đạo của Đảng.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 16
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
CHƯƠNG 2
Thực Trạng Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Cổ
Phần Gosaco
2.1 Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Của Công Ty:
2.1.1 Lịch Sử Hình Thành Của Công Ty Cổ Phần Gỗ Sấy Gosaco:
Công ty Cổ Phần Gosaco là công ty cung ứng nguyên vật liệu gỗ được thành lập
chính thức năm 2000 với tên Công ty là Công ty TNHH SX-TM-DV gỗ sấy, trải qua
nhiều thay đổi về tổ chức quản lý và gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển
nhưng Công ty vẫn luôn giữ vững nhịp độ kinh doanh và phân phối sản phẩm, không
ngừng được nâng cao uy tín và chất lượng của Công ty.
Ban đầu khi mới thành lập Công ty Gosaco còn tồn tại dưới dạng một Công ty
với qui mô nhỏ với số lượng nhân viên ít, mặt hàng kinh doanh còn hạn hẹp …, trải qua
một thời gian dài phấn đấu và nổ lực từ nhiều phía đến nay các sản phẩm của công ty
Gosaco đã chính thức chiếm lĩnh được lòng tin tưởng của người tiêu dùng, được nhiều
khách hàng biết và đã tìm đến Công ty và hiện nay sau quá trình hoạt động và phát triển
Công ty đã chính thức đổi tên thành Công Ty Cổ Phần Gosaco theo giấy phép ĐKKD số
41303007348 do Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư Thành Phố Hồ Chí Minh cấp với trụ sở chính
của Công ty đặt tại số 2/41 Núi Thành, phường 13, quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh.
Trong thời gian sắp tới Công ty dự định sẽ mở rộng thêm nhiều địa bàn tiêu thụ
sản phẩm tại một số tỉnh lân cận và cả nước ngoài nhằm mục tiêu chính tiêu thụ đuợc
nhiều sản phẩm và nâng cao được uy tín và chất lượng của công ty không những địa bàn
Tp Hồ Chí Minh mà còn nhiều tỉnh khác kể cả nuớc ngoài.
2.1.2 Quá Trình Phát Triển Của Công Ty Gosaco:
Trải qua 18 năm hình thành và phát triển, Gosaco đã có thị phần rộng khắp trong
nghề cao đã tạo ra sản phẩm có chất lượng. Nhiều năm liền Gosaco đạt danh hiệu Hàng
Việt Nam Chất Lượng Cao, Giải Thưởng Sao Vàng Đất Việt và là một trong những
thương hiệu hàng đầu trong ngành xây dựng Việt Nam. Trong tiến trình hội nhập
Gosaco đã tạo cho mình một hướng đi thích hợp, hoạch định chiến lược kinh doanh lâu
dài theo xu thế cổ phần hóa, mở rộng sản xuất, kênh phân phối cũng như tạo ra nhiều dự
án mới về trồng rừng và khai thác, chế biến sản phẩm, hình thành các trung tâm phân
phối nguyên liệu gỗ tại Tp Hồ Chí Minh và khu vực tam giác (chợ đầu mối) tại xã Tân
Lập, Huyện Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương với diện tích 15 ha có một vị trí chiến lược
thông thương bằng đường bộ và đường thủy tiếp giáp với Tp Hồ Chí Minh và Đồng Nai.
Tỷ trọng kinh doanh của công ty hàng năm đều vượt kế hoạch liên tục hằng năm
với chặng đường 17 năm, doanh số kế hoạch tăng từ 20% đến 30% mỗi năm.
Hiện nay có rất nhiều nhà đầu tư trở thành cổ đông chiến lược của công ty chiếm
tỷ lệ 1/3. Mục tiêu của Gosaco là cổ phần hóa để nâng cao chiến lược khai thác cạnh
tranh. Đồng thời đầu tư thêm nhà máy sản xuất trồng rừng khai thác nguyên liệu và mở
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 18
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
rộng thị phần của Công ty ra nước ngoài. Trước mắt trong khối ASEAN, thị trường MỸ
và EU.
Mục tiêu chính của Gosaco là trở thành tập đoàn kinh tế đa ngành vào năm 2010
với những dự án chiến lược lớn nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước và tạo công
ăn việc làm cho hàng ngàn lao động.
Khu liên hợp sản xuất của Công ty Gosaco là một tổ hợp sản xuất khép kín với
các nhà máy lớn được trang bị với dây chuyền sản xuất hiện đại chuyên về nguyên vật
liệu và đồ gỗ nội thất từ Đài Loan, Nhật Bản, Đức, Ý…
Theo các quy trình sau:
- Quy trình tẩm sấy, xử lý cân bằng độ ẩm (công nghệ Ý)
- Quy trình sản xuất gỗ ghép thanh (công nghệ Đài Loan)
- Quy trình kỹ thuật sản xuất ván veneer trên gỗ ghép, HDF,MDF, ván ép
- Quy trình kỹ thuật sản xuất cửa gỗ tiêu chuẩn xuất khẩu (Gosaco Door), sản
. Khu liên hợp sản xuất Bình Dương có vị trí thuận lợi về giao thông cách
Tp Hồ Chí Minh 40 km về phía Đông, mỗi năm tổ hợp này đã sản xuất trên 30.000m
3
gỗ
thành phẩm có giá trị kinh tế cao đáp ứng một phần lớn về nhu cầu thị trường ngành gỗ
khu vực phía Nam và tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động.
Qua thời gian dài hoạt động và phát triển công ty đã khẳng định được ưu thế của
mình, dưới góc độ là nhà cung ứng gỗ chuyên nghiệp công ty CP Gosaco đã nhận được
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 19
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
nhiều giải thưởng giá trị như Sao Vàng Đất Việt, Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao,
Thương Hiệu Hàng Đầu và đoạt nhiều giải thưởng khoa học với các giải pháp, đề tài kỹ
thuật sáng tạo của UBND TP HCM (giải nhất), của Quốc Gia (giải 3 toàn quốc), Doanh
Nghiệp Trẻ Xuất Sắc Tp HCM, Doanh Nhân Sài Gòn Tiêu Biểu (ông Lâm Trọng Sơn-
Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị), có nhiều giải thưởng cao quí về sản xuất kinh doanh,
nghiên cứu khoa học.
Cúp Vàng Chất Lượng sản Phẩm Do Tổng
Cục Tiêu Chuẩn Đo Lường Chất Lượng
Việt Nam trao tặng.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 20