Lợi nhuận và một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận ở Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118. - Pdf 32

LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng cơ bản là một rtong những ngành sản xuất
mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, chiếm vị trí quan trọng
trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta.
Cùng với tiến trình phát sinh chung của đất nước, ngành
xây dựng cơ bản đã và đang không ngừng khẳng định vị thế
của mình ngày một lớn mạnh, làm cho bộ mặt đất nước thay
đổi từng ngày.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang
vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nước, chính sách mở cửa đã tạo ra những cơ hội mới
cũng như những khó khăn mới cho các doanh nghiệp xây
lắp trong nước khi vừa phải cạnh tranh với nhau lại vừa
phải cạnh tranh với các doanh nghiệp xây lắp nước ngoài có
tiềm năng tài chính to lớn, trang thiết bị hiện đại và bề dày
kinh nghiệm trong đấu thầu quốc tế. Các doanh nghiệp
muốn tồn tại, phát triển và đứng vững trên thị trường thì
hoạt động sản xuất kinh doanh phải có lãi, phải mang lại lợi
nhuận. Chính vì vậy hiệu quả kinh tế trở thành vấn đề quan
tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Mà hiệu quả kinh tế
được biểu hiện tập trung ở một trong những đòn bẩy kinh tế
có hiệu lực nhất kích thích mạnh mẽ hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, lợi nhuận còn là
nguồn tài chính quan trọng dùng để tái sản xuất mở rộng
1
kinh doanh và nâng cao đời sống người lao động trong
doanh nghiệp .
Xuất phát từ vai trò to lớn của lợi nhuận trong hoạt
động sản xuất kinh doanh và trong thực tế hiện nay, thì việc
đi sâu tìm hiểu về lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng tới lợi
nhuận để từ đó có biện pháp tăng lợi nhuận cho doanh

1.1.1. Khái niệm về lợi nhuận
Trong kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng muốn thu được nhiều lợi
nhất. Để đạt được, một doanh nghiệp phải nhìn thấy những cơ hội mà người khác
bỏ qua. Cơ hội khi phát hiện ra sản phẩm mới có giá trị sử dụng tốt hơn, chi phí
thấp hơn phải liều lĩnh hơn mức bình thường. thực tế thì lợi nhuận được xem như
phần thưởng đối với những doanh nghiệp sẵn sàng tiến hành các hoạt động sáng
tạo đổi mới và mạo hiểm để tổ chức kinh doanh, những thứ mà xã hội mong muốn
và mọi doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đều mong
muốn giành được phần thưởng cao quý đó. Vậy lợi nhuận doanh nghiệp được hiểu
như thế nào?
Lợi nhuận của doanh nghiệp về nguồn gốc chính là hình thức biểu hiện của
giá trị thẳng dư do lao đọng của doanh nghiệp tạo ra bằng cách sử dụng hợp lý các
nguồn lực trong sản xuất kinh doanh. Tận dụng các điều kiện của môi trường kinh
doanh. Về mặt lượng, lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra
để có được doanh thu đó.
4
Lợi nhuận phản ánh toàn bộ hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, chuẩn bị sản xuất
kinh doanh, tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức cung cấp hàng hoá dịch
vụ. Trong một kỳ hoạch toán ( thường là một năm ) lợi nhuận được xác định như
sau:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
1.1.2. Nội dung lợi nhuận của doanh nghiệp
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, mỗi một doanh nghiệp không chỉ đơn
thuần thực hiện duy nhất hoạt động sản xuất- kinh doanh mà mở rộng ra thêm
nhiều hoạt động khác. để phục vụ cho quá trình quản lý doanh nghiệp, người ta
thường chia lợi nhuận thành 3 bộ phần đó là Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh
doanh. Lợi nhuận của hoạt động tài chính và Lợi nhuận khác.
* Lợi nhuận hoạt động sản xuất- kinh doanh: Là khoản chênh lệch giữa
doanh thu và chi phí của hoạt động kinh doanh.

- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trường tiêu
thụ, Nhưng cụ thể không thể tính được bằng tiền cũng làm cho lợi nhuận giữa các
đơn vị cùng ngành, cùng quy mô cũng không giống nhau.
- Các doanh nghiệp cùng loại nếu quy mô khác nhau thì lợi nhuận thu được
cũng khác nhau, ở những doanh nghiệp lớn nếu công tác quản lý kém, nhưng số lợi
nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh nghệip có quy mô nhỏ nhưng
công tác quản lý tốt hơn. cho nên để đánh giá đúng chất lượng hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp, ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối còn phải dùng chỉ
tiêu tương đối là tỷ suất lợi nhuận (mức doanh lợi).
1.1.3. Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tương đối dùng để so sánh hiệu quả sản
xuất kinh doanhgiữa các kỳ khác nhau trong một doanh nghiệp hoặc giữa các
doanh nghiệp với nhau. Mức tỷ suất lợi nhuận càng cao thì chứng tỏ việc sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp càng có hiệu quả.
Do đó có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi cách có nội dung kinh
tế khác nhau, tuỳ theo yêu cầu của người phân tích. Sau đây là một cách tính tỷ
suất lợi nhuận.
1.1.3.1. Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh (doanh lợi vốn)
6
Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận trước hoặc sau thuế đạt được với số vốn
sử dụng bình quân trong kỳ (cả vốn cố định, vốn lưu động hay vốn chủ sở hữu).
Công thức xác định :
P
T
sv
= x 100%

V
bq
Trong đó : T

Thông qua chỉ tiêu nay, có thể thấy rõ hiệu quả của chi phí bỏ vao sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ. NHờ đó doanh nghiệp có thể thấy được những mặt
tích cực và hạn chế trong công tác quản lý giá thành để tìm ra những biện pháp
khắc phục những hạn chế, nhằm đạt được hiệu quả tốt hơn trong kỳ sau.
* Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng: Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận
tiêu thụ với doanh thu bán hàng trong kỳ.
7
Công thức xác định :
P
T
st
= x 100%
V
bq
Trong đó :
T
st
: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu tiêu thụ
P : Lợi nuận trước hoặc sau thuế sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
V
bq
: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Đay là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết cứ một động doanh thu thì thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Nếu ta đem so sánh tỷ suất này với tỷ suất chung của toàn ngành mà kết quả
thấp hơn, chứng tỏ doanh nghiệp đã bán hàng với giá thấp hơn hoặc giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp cao hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành. Qua đó
doanh nghiệp cần có biện pháp điều chỉnh giá một cách hợp lý để nâng cao hơn
nữa mức lợi nhuận thu được trong doanh thu tiêu thụ sản phẩm.

Bốn chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận nêu trên được sử dụng phổ biến nhất để đánh
giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, trong
công tác quản lý, người ta còn sử dụng các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận giá trị tổng
sản lượng, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư… để đánh giá một cách chính xác chất
lượng thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.
Như vậy, lợi nhuận không chỉ đơn thuần là kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp mà hơn hết là vấn đề sống còncủa mọi doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường. Cơ chế thị trường đã và đang tác động mạnh mẽ đến từng doanh
nghiệp, từng đơn vị sản xuất kinh doanh và nó đã tạo ra nhiều cơ hội mới, nhiều
thuận lợi cho các doanh nghiệp. Song trên một phương diện khác, cơ chế thị
trường cũng là mảnh đất màu mỡ cho các quy luật cạnh tranh, quy luật đào thải…
phát triển mạnh mẽ, trở thành mối đe doạ đối với tất cả các doanh nghiệp ở mọi
thành phần kinh tế. Do vậy, vẫn đề đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp là muốn tồn tại
và phát triển được trong nền kinh tế thị trường phải đảm bảo được hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình có hiệu quả cao. Hay nói cách khác, lợi nhuận là mục
tiêu tiên quyết và việc phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp là thực sự cần
thiết.
1.2. Ý nghĩa về lợi nhuận của doanh nghiệp
Vì lợi nhận là biểu hiện của giá trị thặng dư do lao động tạo ra sau một thời
kỳ tổ chức hoạt đống sản xuất kinh doanh nên nó có ý nghĩa rất quan trọng không
chỉ với doanh nghiệp, người lao động mà còn có ý nghĩa quan trọng với nền sản
xuất xã hội.
- Đối với nền sản xuất xã hội.
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội bởi sự tham
gia của các doanh nghiệo vào ngân sách nhà nước để quản lý và phát triển xã hội
thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp. Đó cũng là cơ sở tăng thu nhập
quốc dân, thu nhập quốc dân càng tăng thì khả năng tái sản xuất và phát triển kinh
tế xã hội càng nhiều. Hơn nữa lợi nhuận còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp
thực hiện các hoạt động từ thiện, nhân đạo.
9

nơ của doanh nghệp. Với nguồn vốn này, doanh nghiệp hoàn toàn chủ động sử
dụng kể cả đầu tư vào những dư án kinh doanh mạo hiểm nhất. Thời thế xưa, việc
mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp góp phần nâng cao uy tín, lợi thế của doanh
nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung ứng, nhà đầu tư trong các hoạt
động liên doanh, liên kết. Ngoại ra, lợi nhuận còn mang lại sự an toàn cho tình
hình tài chính cho doanh nghiệp thông qua việc trích lập quỹ dự phòng tài chính.
Hơn nữa, lợi nhuận còn là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Thông qua các chỉ tiêu lợi nhuận các
năm, giúp doanh nghiệp có cái nhìn toàn cảnh về chất lượng quá trình sản xuất từ
khâu cung ứng nguyên vật liệu, sản phẩm sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
Nếu doanh nghiệp biết cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho hạ thì lợi
11
nhuận của doanh nghiệp cao và ngược lại. Thông qua việc chỉ tiêu này sẽ giúp cho
doanh nghiệp trong quản lý và đưa ra các quyết định hợp lý.
Với ý nghĩa sau sắc đó, mọi doanh nghiệp luôn mong muốn tăng lợi nhuận
càng nhiều càng tốt, thông thường với các cơ bản sau.
1.3. Một số phương hướng và biện pháp cơ bản để nâng cao lợi nhuận
của doanh nghiệp.
1.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chúng ta đã biết, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể thu được từ nhiều hoạt
động khác nhau (hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động khác). Tuy nhiên,
trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh là chủ yếu, quyết định đến sự tồn tại và
tăng trưởng của doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc tập trung nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng tới lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh là hết sức cần thiết.
1.3.1.1. Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá được xác định bằng công thức :
T = Sli x gi
Trong đó : DT : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Sli : Sản lượng tiêu thụ của sản phẩm i
gi : Giá bán sản phẩm loại i

tiêu thụ là không đổi, nếu giá sản phẩm tăng lên sẽ làm cho tổng lợi nhuận tăng lên
và ngược lại. Nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, giá bán các mặt
hàng thường được hình thành một cách khách quan do quan hệ cung- cầu trên thị
trường quyết định. Do đó doanh nghiệp khó có thể tự tăng giá bán cao hơn các mặt
hàng khác cùng loại trên thị trường mà vẫn thu được lợi nhuận.
- Công tác tổ chức bán hàng: đây cũng là một khâu quan trọng ảnh hưởng
đến kết quả doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Trong công tác này, có 2 nhân tố chính
cần xem xét:
+ Hình thức bán hàng: Hình thức bán hàng của các doanh nghiệp rất đa dạng
như bán buôn , bán lẻ, đại lý… Vì vậy, nếu biết kết hợp linh hoạt các hình thức bán
hàng và làm tốt công tác quảng cao, giới thiệu sản phẩm thì doanh nghiệp sẽ nâng
cao được khối lượng tiêu thụ, từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận.
+ Phương thức thanh toán: Nếu khối lượng tiêu thụ hàng hoá lớn, thì doanh
nghiệp không chỉ thanh toán bằng tiền mặt mà còn áp dụng nhiều hình thức thanh
toán khác nhau như chuyển khoản, séc, ngân phiếu… Ngoài ra, để khuyến khích
khách hàng mua khối lượng lớn. Nhờ đó, tạo nên một cơ chế thanh toán mềm dẻo,
13
linh hoạt, thúc đẩy doanh số bán ra, vì vậy doanh nghiệp phải tăng doanh thu và lợi
nhuận.
- Nhân tố thị trường tiêu thụ: Thị trường vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm, vừa là
nơi cung cấp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho doanh
nghiệp là phải làm tốt công tác nghiên cứu thị trường, từ đó nêu ra các điều kiện
tăng doanh thu và lợi nhuận.
- Đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành nghề: đây cũng là nhân tố
khách quan, có ảnh hưởng lớn đến công tác tiêu thụ sản phẩm. Vì các ngành có đặc
điểm sản xuất kinh doanh khác nhau nên quá trình tiêu thụ sản phẩm cũng khác
nhau. Như vậy đối với ngành xây lắp, sản phẩm có tính đơn chiếc và việc tiêu thụ
tuỳ thuộc vào phương thức bàn giao công trình.
1.3.1.2. Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm hàng hoá tiêu thụ:

nghiệp: Trong nhiều trường hợp, điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của
từng doanh nghiệp khó khăn hay thuận lợi cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
tiết kiệm chi phí , hạ giá thành.
Chẳng hạn đối với các doanh nghiệp khai thác, nguồn tài nguyên cũng như
điều kiện khai thác có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá
thành. Nguồn tài nguyên phong phú, điều kiện khai thác thuận lợi thì chi phí khai
thác sẽ thấp và ngược lại.
Các doanh nghiệp mới thành lập, chưa có kinh nghiệm kinh doanh, sản xuất
chưa ổn định… sẽ khó khăn hơn trong việc hạ giá thành. Hoặc trong điều kiện sản
xuất cạnh tranh, các doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư nhiều hơn trong đổi mới
kỹ thuật, công nghệ sản xuất, đào tạo lao động, quảng cáo, tiếp thị… Vì vậy cũng
có thể làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường việc tăng giá bán là rất khó, bởi thế các doanh
nghiệp cần phải tính toán làm sao tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành làm tăng
khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Đây phải là vấn đề then chốt của
doanh nghiệp, nó phản ánh trình độ quản lý sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn
trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố tới chi phí sẽ thấy được hướng
đi, và biện pháp thiết thực có hiệu quả để phấn đấu tăng lợi nhuận nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh.
15
1.3.2. Một số phương hướng và biện pháp cơ bản để nâng cao lợi nhuận
của doanh nghiệp.
1.3.2.1. Nâng cao doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
Có thể nói rằng tiêu thụ là khâu quan trọng cuối cùng của quá trình sản xuất.
Kết quả của việc tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng và số lượng
hàng hoá bán ra. Chỉ khi quá trình tiêu thụ sản phẩm kết thúc thì doanh nghiệp mới
có thể xác định được lợi nhuận. Do đó tăng chất lượng sản phẩm cũng là phương
hướng, biện pháp chủ yêú để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Muốn nâng cao chất lượng sản phẩm doanh nghiệp cần tiến hành thăm dò thị

xuất kéo dài, thành phần chi phí phụ thuộc và từng giai đoạn của quá trình xây
dựng cơ bản, đặc biệt phần lớn chi phí nằm ở công đoạn đầu. Do đó phải có
phương thức quản lý chi phí ở từng giai đoạn một cách thích hợp và rút ngắn được
thời gian thi công. Đối với doanh nghiệp xây lắp cũng như các doanh nghiệp khác
hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường thì lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu.
Và chi phí là nhân tố có tác động trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp, nó đồng
nghĩa với việc ; nếu giảm bớt một đồng chi phí sẽ làm tăng thêm một đồng lợi
nhuận và ngược lại.
Tuy nhiên, vấn đề quản lý chi phí trong doanh nghiệp xây lắp rất phức tạp.
Mặt khác trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các
doanh nghiệp xây lắp trong và ngoài nước, thể hiện rõ nét nhất trong khi tham gia
đấu thầu một công trình thì việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm là
một trong những điều kiện tiên quyết để thắng thầu.
Nhìn chung, ở đa số các doanh nghiệp xây lắp hiện nay trình độ quản lý chi
phí còn chưa cao gây lãng phí dẫn đến việc " đội " giá thành sản phẩm, đòi hỏi các
doanh nghiệp cần phải tăng cường hơn nữa các công tác quản lý tiết kiệm chi phí,
tính đúng và tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm .
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến giá thành xây lắp nhưng ta có thể tập hợp
chúng thành hai nhân tố cơ bản là nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan .
Nhân tố khách quan:
- Các nhân tố về thị trường:
Thị trường ở đây là thị trường các yếu tố đầu vào bao gồm thị trường
nguyên vật liệu, thị trường lao động, thị trường máy thi công. Do đặc điểm là sản
phẩm xây lắp được phân bổ trên các vùng lãnh thổ khác nhau nên thị trường cung
cấp các yếu tố trên để sản xuất sản phẩm xây lắp cũng khác nhau.
17
- Đối vơi thị trường vật liệu:
Nếu công trình nằm gần thị trường vật liệu có giá rẻ thì có khả năng giảm
hao hụt trong khi vận chuyển, hạ chi phí vận chuyển.
- Đối với thị trường lao động:

trong doanh nghiệp.
- Trình độ sử dụng lao động.
- Trình độ tổ chức sản xuất.
- Trình độ quản lý tài chính của doanh nghiệp.
* Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng là mang tính đặc thù, vì vậy để tiết
kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm các doanh nghiệp thường sử dụng các biện
pháp sau:
- Hạ chi phí vật tư:
Đối với doanh nghiệp hoạt động xây lắp thì chi phí vật tư chiếm một tỷ
trọng lớn trong tổng chi phí (khoảng 70-75%), có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành
sản phẩm xây lắp do đó công tác quản lý của chi phí này có một vị trí quan trọng.
Để giảm chi phí vật tư các doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ từng yếu tố cấu
thành nên nó được nêu ra bằng các biện pháp như sau:
+ Biện pháp quản lý giá vật tư: giá vật tư có tính biến động cao nên các
doanh nghiệp phải có những biện pháp để cập nhật thông tin. Để có những quyết
định thu mua hay dự trữ một cách có khoa học, kịp thời trên cơ sở xem xét mối
quan hệ giữa nhu cầu của doanh nghiệp với sự biến động tăng giảm của giá vật tư
trên thị trường.
Các doanh nghiệp cũng có định hướng thiết lập mối quan hệ bán hàng lâu
dài với các nhà cung cấp để đạt được những ưu tiên nhất định trong mua bán (chiết
khấu hay giảm giá).
Bằng chế độ tiền lương và khen thưởng khuyến khích các cán bộ công nhân viên
nghiên cứu và đề xuất tìm kiếm các nguồn vật tư mới có chi phí thấp hơn mà vẫn
đảm bảo chất lượng.
+ Biện pháp quản lý định mức: quản lý chặt chẽ bằng việc dựa vào hồ sơ
thiết kế thi công và nhiệm vụ hạ giá thành của doanh nghiệp lập ra các định mức
xuất dùng cho từng vật tư có tác dụng tránh được việc lãng phí do hao hụt và mất
mát đẩy giá thành lên cao.
19
Tiến hành cơ giới hoá hoạt động sản xuất, với các máy móc hiện đại sẽ sử

nguyên tác tiết kiệm mà hiệu quả.
20
1.3.2.3. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh:
Sử dụng vốn sản xuất kinh doanh không phải là một hoạt động đơn thuần về
mặt thu, chi tài chính mà thực chất là một nghệ thuật trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nghĩa là phải sử dụng vốn sản xuất để có
hiệu quả cao nhất. Vốn sản xuất kinh doanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động.
- Đối với vốn cố định:
Cần tận dụng tối đa năng lực sản xuất của máy móc, thiết bị , làm cho chi
phí về khấu hao máy móc, thiết bị tính cho một đơn vị sản phẩm giảm, qua đó hạ
giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận. Đồng thời sử dụng tốt tài sản cố định sẽ tránh
được hao mòn vô hình, máy móc, thiết bị được khấu hao nhanh, vốn quay vòng
nhanh, tranh thủ được tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ tạo điều kiện nâng cao
năng suất lao động, hạ giá thành.
- Đối với vốn lưu động:
Cần phải tìm biện pháp tăng nhanh vòng quay của vốn. Cần tránh để vốn vật
tư, hàng hoá thành phẩm thành ứ đọng, tránh tình trạng mất mát, hư hỏng... nhằm
tiết kiệm được chi phí lưu kho, chi phí quản lý, chi phí lãi tiền vay vốn kinh
doanh... Từ đó góp phần hạ giá thành sản phẩm dẫn đến tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
Trên đâý là một số phương hướng và biện pháp thông thường, căn bản mà
các doanh nghiệp thường áp dụng nhằm nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp
mình. tuy nhiên, ngoài những biện pháp này các doanh nghiệp còn có thể xem xét
các biện pháp khác nữa để từ đó có thể tìm ra cho doanh nghiệp mình những biện
pháp riêng, khả thi nhất, nhằm đạt được hiệu quả mong muốn.
Cũng như mọi đơn vị kinh doanh khác, Công ty cổ phần xây dựng công trình
giao thông 118 là một Công ty cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xây
dựng nên mục tiêu kinh doanh là phải có lợi nhuận và không ngừng tăng lợi nhuận
của mình.
Để nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết về vấn đề lợi nhuận và một số

lệ:10.000.000.000đ (do cổ đông sáng lập). Tỷ lệ vốn Nhà nước: 28,0%, tỷ lệ vốn
cổ đông trong và ngoài doanh nghiệp: 72%.
Trụ sở chính của Công ty đóng tại: Cầu Diễn- Từ Liêm- Hà Nội.
Hiện nay Công ty đã và đang thi công đồng thời các dự án lớn trong cả nước
như:
22
+ Dự án mở rộng Quốc lộ 1A (Thi công chọn gói)
- Đoạn từ KM 547 - KM 570 (HĐ2) Dự án Vinh - Đông Hà: 48 tỷ VNĐ
- Đoạn từ KM 766 - KM 788 (HĐ1) Dự án Đông Hà - Quảng Ngãi: 69 tỷ
VNĐ
- Dự án 3 cầu, 10 cầu đoạn Hà Nội - Lạng Sơn.
+ Dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh (Cầu + đường) Đoạn Hương Sơn -

Tĩnh: 15 tỷ VNĐ.
+ Dự án vành đai 3 Hà Nội đoạn: KM 18 + 700 - KM 21 + 40: 55 tỷ VNĐ.
+ Các hạng mục hạ tầng Nhà máy lọc dầu và khu công nghiệp Dung Quất:20
tỷ VNĐ.
+ Hệ thống đường vào nhà máy Thuỷ điện Đại Ninh - Bình thuận (Cầu +
đường): 41 tỷ VNĐ.
+ Cầu Rạch Bàng, Cầu An Lập - TPHCM: 30 tỷ VNĐ.
+ Cầu Cái Tư (Cần Thơ): 50 tỷ VNĐ.
+ Hạ công các khu đô thị mới Hà Nội: Định Công, Linh Đàm… Làng văn
hoá Đồng Mô và hàng loạt các công trình giao thông ở các địa phương trong cả
nước.
Tất cả các công trình Công ty thi công đều đạt chất lượng cao, hoàn thành
đúng tiến độ, đẹp về mỹ thuật, được các chủ đầu tư và Bộ GTVT đánh giá tốt.
Đồng thời Công ty đang xúc tiến đấu thầu và nhận thi công hàng loạt các dự án có
giá trị lớn thuộc các lĩnh vực xây dựng Cầu, Đừng, Bến cảng theo nhiều hình thức
và nguồn vốn BT, BOT. Nhằm tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, chủ động hoà nhập trong
nền kinh tế thị trường trong nước và khu vực. Với định hướng chiến lược đa dạng

lượng lao động, Công ty có một chi nhánh phía nam (TPHCM). Cả chi nhánh lẫn
Công ty đã tổ chức hạch toán riêng, còn các đội xây dựng Công ty không có tổ
chức kế toán riêng.
- Hình thức sở hữu vốn: Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông
118 có hình thức sở hữu vốn theo vốn cổ phiếu. Và có hình thức hoạt động theo
một Công ty cổ phần.
24
- Lĩnh vực kinh doanh: Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông
118 xây dựng các công trình giao thông, sản xuất các vật liệu xây dựng , suất
chung gia công cơ khí.
- Công ty có tổng cộng công nhân 535 người; trong đó nhân viên quản lý
172 người.
Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 là Công ty có quy mô
lớn, địa bàn hoạt động rộng, phân tán trên nhiều vùng của đất nước cho nên việc
tổ chức lực lượng thi công có tổ chức hạch toán riêng như trên, giúp cho Công ty
trong việc quản lý lao động và phân công lao động thành nhiều điểm thi công khác
nhaumột cách có hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu suất công tác kế toán phù hợp
với đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty.
Đối với chi nhánh, mọi công việc kế toán từ xử lý chứng từ ban đầu đến lập
báo cáo kế toán gửi lên Công ty đều do phòng kế toán của chi nhánh thực hiện.
Trên cơ sở đó phòng kế toán Công ty lập báo cáo chung toàn Công ty. Chi nhánh
tiến hành kinh doanh lãi hưởng, lỗ chịu và quan hệ với Công ty thông qua việc
Công ty giao vốn, tài sản, đồng thời chi nhánh phải nộp cho Công ty những khoản
như: phí, lệ phí sử dụng vốn, các loại thuế do Nhà nước hoặc được sử dụng uỷ
quyền của Công ty để vay vốn ngân hàng. Chi nhánh có tổ chức kế toán riêng
nhưng không có tư cách pháp nhân.
2.1.3.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý.
Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và đặc điểm của sản phẩm xây
dựng là có tính đơn chiếc, kết cấu của từng công trình khác nhau, thời gian thi
công dài, mục đích sử dụng của từng công trình cũng khác nhau nên việc tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status