Lợi nhuận và một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận ở Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 - Pdf 29

LỜIMỞĐẦU
Xây dựng cơ bản là một rtong những ngành sản xuất mũi nhọn của nền kinh
tế quốc dân, chiếm vị trí quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoáở
nước ta. Cùng với tiến trình phát sinh chung của đất nước, ngành xây dựng cơ bản
đã vàđang không ngừng khẳng định vị thế của mình ngày một lớn mạnh, làm cho
bộ mặt đất nước thay đổi từng ngày.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang vận hành theo cơ chế
thị trường có sựđiều tiết vĩ mô của Nhà nước, chính sách mở cửa đã tạo ra những
cơ hội mới cũng như những khó khăn mới cho các doanh nghiệp xây lắp trong
nước khi vừa phải cạnh tranh với nhau lại vừa phải cạnh tranh với các doanh
nghiệp xây lắp nước ngoài có tiềm năng tài chính to lớn, trang thiết bị hiện đại và
bề dày kinh nghiệm trong đấu thầu quốc tế. Các doanh nghiệp muốn tồn tại, phát
triển vàđứng vững trên thị trường thì hoạt động sản xuất kinh doanh phải có lãi,
phải mang lại lợi nhuận. Chính vì vậy hiệu quả kinh tế trở thành vấn đề quan tâm
hàng đầu của các doanh nghiệp. Mà hiệu quả kinh tếđược biểu hiện tập trung ở một
trong những đòn bẩy kinh tế có hiệu lực nhất kích thích mạnh mẽ hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, lợi nhuận còn là nguồn tài chính quan
trọng dùng để tái sản xuất mở rộng kinh doanh và nâng cao đời sống người lao
động trong doanh nghiệp .
Xuất phát từ vai trò to lớn của lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh
và trong thực tế hiện nay, thì việc đi sâu tìm hiểu về lợi nhuận và các nhân tốảnh
hưởng tới lợi nhuận để từđó có biện pháp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp là một
việc làm rất thiết thực và hết sức cần thiết. Qua quá trình học tập, nghiên cứu và
tìm hiểu hoạt động Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118, được sự
giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn TS. Bạch Đức Hiển, tập thể anh chị
phòng Tài chính kế toán của Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118.
Em đã tập trung nghiên cứu đề tài:
Lợi nhuận và một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận ở Công ty cổ phần
xây dựng công trình giao thông 118.
1
Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:

để cóđược doanh thu đó.
Lợi nhuận phản ánh toàn bộ hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, chuẩn bị sản xuất
kinh doanh, tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức cung cấp hàng hoá dịch
vụ. Trong một kỳ hoạch toán ( thường là một năm ) lợi nhuận được xác định như
sau:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
1.1.2.Nội dung lợi nhuận của doanh nghiệp
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, mỗi một doanh nghiệp không chỉđơn
thuần thực hiện duy nhất hoạt động sản xuất- kinh doanh mà mở rộng ra thêm
nhiều hoạt động khác. để phục vụ cho quá trình quản lý doanh nghiệp, người ta
thường chia lợi nhuận thành 3 bộ phần đó là Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh
doanh. Lợi nhuận của hoạt động tài chính và Lợi nhuận khác.
3
* Lợi nhuận hoạt động sản xuất- kinh doanh: Là khoản chênh lệch giữa
doanh thu và chi phí của hoạt động kinh doanh.
LN hoạt động = Doanh - Giá vốn - Chi phí - Chi phí quản lý
SXKD thu thuần hàng bán bán hàng doanh nghiệp
Trong đó :
- Doanh thu = Doanh thu tiêu thụ sản phẩm - Các khoản giảm
Thuần hàng hoá trừ
- Các khoản giảm trừ bao gồm các khoản chiết khấu thương mại giảm giá
hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụđặc biệt, thuế GTGT
theo phương pháp trực tiếp.
- Giá vốn hàng bán chính là giá thành sản xuất sản phẩm tiêu thụ.
Giá vốn + Chi phí + Chi phí quản lý = Giá thành toàn bộ
hàng bán bán hàng doanh nghiệp sản phẩm tiêu thụ
*Lợi nhuận của hoạt động tài chính: phản ánh chênh lệch giữa số thu và số
chi của các nghiệp vụ tài chính như cho thuê tài sản, mua bán chứng khoán, ngoại
tệ, lãi tiền gửi ngân hàng thuộc vốn kinh doanh, hoạt động liên doanh.

Do đó có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi cách có nội dung kinh
tế khác nhau, tuỳ theo yêu cầu của người phân tích. Sau đây là một cách tính tỷ
suất lợi nhuận.
1.1.3.1.Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh (doanh lợi vốn)
Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận trước hoặc sau thuếđạt được với số vốn sử
dụng bình quân trong kỳ (cả vốn cốđịnh, vốn lưu động hay vốn chủ sở hữu).
Công thức xác định:
P
T
sv
= x100%
V
bq
Trong đó : T
sv
:Tỷ suất lợi nhuận vốn
P : Lợi nhuận trước (sau thuế) đạt được trong kỳ
V
bq
: Tổng số vốn sử dụng bình quan trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận vốn phản ánh cứ một đồng vốn sản xuất bỏ ra trong kỳ sẽ
tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Vì vậy, tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất
của doanh nghiệp, đồng thời nói lên trình độ sử dụng tài sản, vật tư tiền vốn của
doanh nghiệp, qua đó kích thích doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả hơn.
5
* Tỷ suất lợi nhuận giá thành: Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ với
giá thành toàn bộ của sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ.
Công thức xác định :
P

st
: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu tiêu thụ
P : Lợi nuận trước hoặc sau thuế sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
V
bq
: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Đay là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết cứ một động doanh thu thì thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Nếu ta đem so sánh tỷ suất này với tỷ suất chung của toàn ngành mà kết quả
thấp hơn, chứng tỏ doanh nghiệp đã bán hàng với giá thấp hơn hoặc giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp cao hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành. Qua đó
6
doanh nghiệp cần có biện pháp điều chỉnh giá một cách hợp lýđể nâng cao hơn nữa
mức lợi nhuận thu được trong doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng
với vốn chủ sở hữu (vốn tự có) của doanh nghiệp.
Công thức xác định :
P
r
T
svc
= x 100%
V
sh
Trong đó:
T
svc
:Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
P

tiêu tiên quyết và việc phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp là thực sự cần
thiết.
1.2.Ý nghĩa về lợi nhuận của doanh nghiệp
Vì lợi nhận là biểu hiện của giá trị thặng dư do lao động tạo ra sau một thời
kỳ tổ chức hoạt đống sản xuất kinh doanh nên nó cóý nghĩa rất quan trọng không
chỉ với doanh nghiệp, người lao động mà còn cóý nghĩa quan trọng với nền sản
xuất xã hội.
- Đối với nền sản xuất xã hội.
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội bởi sự tham gia
của các doanh nghiệo vào ngân sách nhà nước để quản lý và phát triển xã hội
thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp. Đó cũng là cơ sở tăng thu nhập
quốc dân, thu nhập quốc dân càng tăng thì khả năng tái sản xuất và phát triển kinh
tế xã hội càng nhiều. Hơn nữa lợi nhuận còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp
thực hiện các hoạt động từ thiện, nhân đạo.
- Đối với người lao động
Sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế sẽđược trích lập các
quỹ trong đó có quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng, phúc lợi.
Lợi nhuận sau thuế càng nhiều, các quỹ này càng lớn, điều đó cũng đồng nghĩa với
việc doanh nghiệp tạo ra điều kiện sống về vật chất và từđó kích thích tinh thần
hăng say lao động và tạo được môi trường làm việc ổn định cho người lao động.
8
- Đối với doanh nghiệp
* Lợi nhuận cóý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Việc kinh doanh của doanh nghiệp đem lại lợi nhuận cũng có nghĩa là dựán đầu
tưđã chọn phù hợp với nhu cầu thị trường, chứng tỏ doanh nghiệp đã biết được thời
cơ. Hơn nữa, điều đó cũng cho doanh nghiệp nhận thấy hoạt động kinh doanh có
hiệu quả. Như vậy doanh nghiệp có ddieeuf kiện mở rộng sản xuất kinh doanh
thông qua việc trích lập các quỹ làm tăng nguồn vốn kinh doanh quỹđầu tư phát
triển nhằm phục vụ cho nhu cầu tài sản tăng thêm ở những kỳ sau. Đặc biệt doanh
nghiệp có thể cải tiến trang bị thêm tài sản cốđịnh để nâng cao năng lực sản xuất

của doanh nghiệp.
1.3.1. Các nhân tốảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chúng ta đã biết, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể thu được từ nhiều hoạt
động khác nhau (hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động khác). Tuy nhiên,
trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh là chủ yếu, quyết định đến sự tồn tại và
tăng trưởng của doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc tập trung nghiên cứu các nhân
tốảnh hưởng tới lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh là hết sức cần thiết.
1.3.1.1. Nhóm nhân tốảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoáđược xác định bằng công thức :
T =

=
n
i 1
Sli x gi
Trong đó:DT : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Sli :Sản lượng tiêu thụ của sản phẩm i
gi :Giá bán sản phẩm loại i
Như vậy, doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng hay giảm phụ thuộc vào rất
nhiều nhân tốkhác nhau, các nhân tố chủ yếu là:
- Nhân tố khối lượng sản phẩm tiêu thụ: đây là nhân tốảnh hưởng chủ quan.
Trong trường hợp giá bán, giá thành , chất lượng , thuế suất, thuế gián thu không
đổi thì lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ sẽ tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm sản xuất
và tiêu thụ trong kỳ. Khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ phản ánh mặt cố
gắng chủ quan của doanh nghiệp trong công tác quản lý kinh doanh nói chung và
quản lý tài chính nói riêng.
- Nhân tố chất lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong kỳ: chất lượng sản
xuất kinh doanh nói chung và chất lượng sản phẩm nói riêng là vấn đề quan trọng
của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện này. chất lượng sản phẩm càng cao thì
sản phẩm càng có uy tín, tạo ra sức cạnh tranh lớn để doanh nghiệp chiếm lĩnh

nghiệp không chỉ thanh toán bằng tiền mặt mà còn áp dụng nhiều hình thức thanh
toán khác nhau như chuyển khoản, séc, ngân phiếu… Ngoài ra, để khuyến khích
khách hàng mua khối lượng lớn. Nhờđó, tạo nên một cơ chế thanh toán mềm dẻo,
linh hoạt, thúc đẩy doanh số bán ra, vì vậy doanh nghiệp phải tăng doanh thu và lợi
nhuận.
11
- Nhân tố thị trường tiêu thụ: Thị trường vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm, vừa là
nơi cung cấp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đềđặt ra cho doanh
nghiệp là phải làm tốt công tác nghiên cứu thị trường, từđó nêu ra các điều kiện
tăng doanh thu và lợi nhuận.
- Đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành nghề: đây cũng là nhân tố
khách quan, cóảnh hưởng lớn đến công tác tiêu thụ sản phẩm. Vì các ngành cóđặc
điểm sản xuất kinh doanh khác nhau nên quá trình tiêu thụ sản phẩm cũng khác
nhau. Như vậy đối với ngành xây lắp, sản phẩm có tính đơn chiếc và việc tiêu thụ
tuỳ thuộc vào phương thức bàn giao công trình.
1.3.1.2.Nhóm nhân tốảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm hàng hoá tiêu thụ:
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hay thấp phụ
thuộc vào nhiều nhân tố. Song có thể chia thành 3 nhân tố chủ yếu:
- Các nhân tố về mặt kỹ thuật, công nghệ sản xuất: Trong điều kiện hiện nay,
với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, các
máy móc, thiết bị công nghệ hiện đại được sử dụng trong sản xuất ngày càng
nhiều, tạo khả năng lớn cho việc tiết kiệm hao phí lao động sống và lao động vật
hoá trong quá trình sản xuất. Chính vì vậy, các doanh nghiệp nào nắm bắt vàứng
dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽđược nhiều
lợi thế trong cạnh tranh, tiết kiệm được chi phí sản xuất, hạ giá thành và nâng cao
chất lượng sản phẩm.
- Các nhân tố về mặt tổ chức quản lý sản xuất, quản lý tài chính
doanhnghiệp: Thực tế cho thấy tổ chức quản lý sản xuất, quản lý tài chính khoa
học hợp lý có tác động mạnh mẽđến việc tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành

nghiệp cần phải tính toán làm sao tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành làm tăng
khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Đây phải là vấn đề then chốt của
doanh nghiệp, nó phản ánh trình độ quản lý sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn
trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố tới chi phí sẽ thấy được hướng
đi, và biện pháp thiết thực có hiệu quảđể phấn đấu tăng lợi nhuận nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh.
1.3.2. Một số phương hướng và biện pháp cơ bản để nâng cao lợi nhuận
của doanh nghiệp.
1.3.2.1. Nâng cao doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
13
Có thể nói rằng tiêu thụ là khâu quan trọng cuối cùng của quá trình sản xuất.
Kết quả của việc tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng và số lượng
hàng hoá bán ra. Chỉ khi quá trình tiêu thụ sản phẩm kết thúc thì doanh nghiệp mới
có thể xác định được lợi nhuận. Do đó tăng chất lượng sản phẩm cũng là phương
hướng, biện pháp chủ yêúđể tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Muốn nâng cao chất lượng sản phẩm doanh nghiệp cần tiến hành thăm dò
thị trường, tăng cường kiểm tra các khâu trong quá trình sản xuất, liên tục nâng cao
tay nghề cho công nhân … và khi sản phẩm được tiêu thụ tốt với một giá bán thích
hợp thì chứng tỏ nóđãđược chấp nhận về chất lượng. Mặt khác, doanh nghiệp cũng
cần phải linh hoạt trong các phương thức thành toán (như bán buôn, bán lẻ, bán trả
góp…) để tiêu thụ sản phẩm với số lượng nhiều nhất đem lại hiệu quả cao nhất cho
doanh nghiệp.
Để tăng số lượng sản phẩm sản xuất, doanh nghiệp cần phải có các biện
pháp quản lý và tổ chức lao động một cách thích hợp, cần phải có một đội ngũ lao
động với trình độ tay nghề giỏi, đảm bảo tận dụng mọi khả năng của người lao
động cũng như của máy móc, thiết bị … Như vậy, doanh nghiệp cần phải đầu tư
theo chiều rộng bằng cách mua thêm máy móc, thiết bị, tuyển thêm lao động để mở
rộng quy mô sản xuất vàđầu tư chiều sau như hiện đại hoá các máy móc, thiết bị,
áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Nhìn chung, ởđa số các doanh nghiệp xây lắp hiện nay trình độ quản lý chi
phí còn chưa cao gây lãng phí dẫn đến việc " đội " giá thành sản phẩm, đòi hỏi các
doanh nghiệp cần phải tăng cường hơn nữa các công tác quản lý tiết kiệm chi phí,
tính đúng và tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm .
Có nhiều nhân tốảnh hưởng đến giá thành xây lắp nhưng ta có thể tập hợp
chúng thành hai nhân tố cơ bản là nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan .
Nhân tố khách quan:
- Các nhân tố về thị trường:
Thị trường ởđây là thị trường các yếu tốđầu vào bao gồm thị trường nguyên
vật liệu, thị trường lao động, thị trường máy thi công. Do đặc điểm là sản phẩm
xây lắp được phân bổ trên các vùng lãnh thổ khác nhau nên thị trường cung cấp
các yếu tố trên để sản xuất sản phẩm xây lắp cũng khác nhau.
- Đối vơi thị trường vật liệu:
Nếu công trình nằm gần thị trường vật liệu có giá rẻ thì có khả năng giảm
hao hụt trong khi vận chuyển, hạ chi phí vận chuyển.
- Đối với thị trường lao động:
15
Khi xem xét nhân tố này ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm xây lắp người ta
xem xét các khả năng cung cấp số lượng lao động và chất lượng lao động ởđịa
điểm này, chi phí tuyển mộ lao động và di chuyển lao động đến địa điểm thi công,
đơn gía tiền lương bình quan một ngày công ở thị trường.
- Đối với thị trường máy thi công:
Khi xem xét nhân tố này ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm xây lắp ta xem
xét khả năng cung cấp máy móc xây dựng trên công trường từ thị trường, chi phí di
chuyển máy thi công đến công trình, giá thuê máy và các chi phí kèm theo.
- Nhân tốđiều kiện tự nhiên:
Mối công trình xây dựng nằm trên một điều kiện địa hình, thuỷ văn và khí
tượng khác nhau, do đóđể tránh những sự cố xảy ra phải lập các biện pháp thi công
thích hợp, đồng thời dự phòng nguồn tài chính thích hợp để xử lý khi có sự cố xảy
ra. Việc áp dụng các biện pháp trên làm cho giá thành sản phẩm xây lắp cũng biến

+Biện pháp quản lý giá vật tư: giá vật tư có tính biến động cao nên các
doanh nghiệp phải có những biện pháp để cập nhật thông tin. Để có những quyết
định thu mua hay dự trữ một cách có khoa học, kịp thời trên cơ sở xem xét mối
quan hệ giữa nhu cầu của doanh nghiệp với sự biến động tăng giảm của giá vật tư
trên thị trường.
Các doanh nghiệp cũng cóđịnh hướng thiết lập mối quan hệ bán hàng lâu dài
với các nhà cung cấp đểđạt được những ưu tiên nhất định trong mua bán (chiết
khấu hay giảm giá).
Bằng chếđộ tiền lương và khen thưởng khuyến khích các cán bộ công nhân viên
nghiên cứu vàđề xuất tìm kiếm các nguồn vật tư mới có chi phí thấp hơn mà vẫn
đảm bảo chất lượng.
+Biện pháp quản lýđịnh mức: quản lý chặt chẽ bằng việc dựa vào hồ sơ thiết
kế thi công và nhiệm vụ hạ giá thành của doanh nghiệp lập ra các định mức xuất
dùng cho từng vật tư có tác dụng tránh được việc lãng phí do hao hụt và mất mát
đẩy giá thành lên cao.
Tiến hành cơ giới hoá hoạt động sản xuất, với các máy móc hiện đại sẽ sử
dụng vật tư tiết kiệm hơn và tránh được các hao hụt thường xảy ra khi tiến hành
bằng phương thức thủ công, đồng thời nâng cao chất lượng của các công việc.
Đồng thời, thường xuyên đôn tốc, giám sát kiểm tra các đơn vị thi công để tránh
những sai sót trong kỹ thuật gây lãng phí vật tư.
- Hạ chi phí lao động:
17
Do sản xuất trong ngành xây lắp cóđặc điểm phân tán, tính lưu động cao,
điều kiện sản xuất nặng nhọc, chủ yếu tiến hành ngoài trời, không có cơ giới hoá
100%… nên các doanh nghiệp xây lắp phải đề ra biện pháp tổ chức lao động thích
hợp, sử dụng lao động hiệu quả, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản
phẩm.
Phòng dựán, phòng kỹ thuật và phòng tổ chức lao động cần có sự phối hợp
chặt chẽ, dựa vào thiết kế kỹ thuật và tiến bộđược duyệt phân tích nhu cầu nhân
lực cho từng phần việc, từng hạng mục, từng giai đoạn thi công tránh tình trạng sử

năng suất lao động, hạ giá thành.
- Đối với vốn lưu động:
Cần phải tìm biện pháp tăng nhanh vòng quay của vốn. Cần tránh để vốn vật
tư, hàng hoá thành phẩm thành ứđọng, tránh tình trạng mất mát, hư hỏng... nhằm
tiết kiệm được chi phí lưu kho, chi phí quản lý, chi phí lãi tiền vay vốn kinh
doanh... Từđó góp phần hạ giá thành sản phẩm dẫn đến tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
Trên đâý là một số phương hướng và biện pháp thông thường, căn bản mà
các doanh nghiệp thường áp dụng nhằm nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp
mình. tuy nhiên, ngoài những biện pháp này các doanh nghiệp còn có thể xem xét
các biện pháp khác nữa để từđó có thể tìm ra cho doanh nghiệp mình những biện
pháp riêng, khả thi nhất, nhằm đạt được hiệu quả mong muốn.
Cũng như mọi đơn vị kinh doanh khác, Công ty cổ phần xây dựng công trình
giao thông 118 là một Công ty cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xây
dựng nên mục tiêu kinh doanh là phải có lợi nhuận và không ngừng tăng lợi nhuận
của mình.
Để nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết về vấn đề lợi nhuận và một số
phương hướng tăng lợi nhuận của Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông
118, chúng ta xem xét quá trình thực hiện của Công ty.
CHƯƠNG 2
TÌNHHÌNHHOẠTĐÔNGKINHDOANHVÀTHỰCHIỆN
LỢINHUẬNCỦA CÔNGTYCỔPHẦNXÂYDỰNG
CÔNGTRÌNHGIAOTHÔNG 118
2.1. Khái quát chung về tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty cổ
phần xây dựng công trình giao thông 118
19
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần xây
dựng công trình giao thông 118
Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 là một doanh nghiệp
được chuyển đổi hình thức sở hữu từ một doanh nghiệp Nhà nước, hạch toán độc

Tĩnh: 15 tỷ VNĐ.
+ Dựán vành đai 3 Hà Nội đoạn: KM 18 + 700 - KM 21 + 40: 55 tỷ VNĐ.
+ Các hạng mục hạ tầng Nhà máy lọc dầu và khu công nghiệp Dung Quất:20
tỷ VNĐ.
+ Hệ thống đường vào nhà máy Thuỷđiện Đại Ninh - Bình thuận (Cầu +
đường): 41 tỷ VNĐ.
+ Cầu Rạch Bàng, Cầu An Lập - TPHCM: 30 tỷ VNĐ.
+ Cầu Cái Tư (Cần Thơ): 50 tỷ VNĐ.
+ Hạ công các khu đô thị mới Hà Nội: Định Công, Linh Đàm… Làng văn
hoáĐồng Mô và hàng loạt các công trình giao thông ở các địa phương trong cả
nước.
Tất cả các công trình Công ty thi công đều đạt chất lượng cao, hoàn thành
đúng tiến độ, đẹp về mỹ thuật, được các chủđầu tư và Bộ GTVT đánh giá tốt.
Đồng thời Công ty đang xúc tiến đấu thầu và nhận thi công hàng loạt các dựán có
giá trị lớn thuộc các lĩnh vực xây dựng Cầu, Đừng, Bến cảng theo nhiều hình thức
và nguồn vốn BT, BOT. Nhằm tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, chủđộng hoà nhập trong
nền kinh tế thị trường trong nước và khu vực. Với định hướng chiến lược đa dạng
hoá ngành nghề, mở rộng thêm thị trường lấy việc đầu tư và xây dựng Cầu, Đường
làm trọng tâm, Công ty đã quyết định đầu tư một khách sạn 3 sao tiêu chuẩn quốc
tế tại thị xãĐông Hà, tỉnh Quảng trị dự kiến hoàn thành vàđưa vào khai thác cuối
năm 2004.
2.1.2. Chức năng nhiệm vụ của Công ty cổ phần xây dựng công trình
giao thông 118:
Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 là một doanh nghiệp
được chuyển đổi hình thức sở hữu từ một doanh nghiệp Nhà nước, hạch toán độc
lập, thuộc Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông I Bộ- GTVT, có
giấy phép hành nghề thi công xây lắp các công trình trong phạm vi toàn quốc.
Công ty đang hoạt động trong các ngành nghề kinh doanh sau:
+ Xây dựng các công trình giao thông trong cả nước ( bao gồm: Cầu,
Đường, Sân bay, Bến cảng, San lấp mặt bằng ).

tổ chức lực lượng thi công có tổ chức hạch toán riêng như trên, giúp cho Công ty
trong việc quản lý lao động và phân công lao động thành nhiều điểm thi công khác
22
nhaumột cách có hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu suất công tác kế toán phù hợp
với đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty.
Đối với chi nhánh, mọi công việc kế toán từ xử lý chứng từ ban đầu đến lập
báo cáo kế toán gửi lên Công ty đều do phòng kế toán của chi nhánh thực hiện.
Trên cơ sởđó phòng kế toán Công ty lập báo cáo chung toàn Công ty. Chi nhánh
tiến hành kinh doanh lãi hưởng, lỗ chịu và quan hệ với Công ty thông qua việc
Công ty giao vốn, tài sản, đồng thời chi nhánh phải nộp cho Công ty những khoản
như: phí, lệ phí sử dụng vốn, các loại thuế do Nhà nước hoặc được sử dụng uỷ
quyền của Công ty để vay vốn ngân hàng. Chi nhánh có tổ chức kế toán riêng
nhưng không có tư cách pháp nhân.
2.1.3.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý.
Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản vàđặc điểm của sản phẩm xây
dựng là có tính đơn chiếc, kết cấu của từng công trình khác nhau, thời gian thi
công dài, mục đích sử dụng của từng công trình cũng khác nhau nên việc tổ chức
sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý cũng có những đặc điểm riêng.
Về công tác quản lý, từ năm 1999 Công ty đãđi đầu trong việc đầu tư trang
thiết bị và con người đểđưa tin học và công tác quản lý vàđiều hành sản xuất: Xây
dựng mạng nội bộ (LAN), xây dựng các phần mềm ứng dụng ở tất cả các khâu
quản lý trong Công ty. Nhờđóđã góp phần đáng kể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh và năng lực cạnh tranh cũng như uy tín của Công ty trong thị trường. Năm
2002 Công ty đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc tế
ISO 9001 - 2000. Phán đấu được cấp chứng chỉ vào giữa năm 2003.
SƠĐỒ 1 - CƠCẤUTỔCHỨCBỘMÁYQUẢNLÝCỦA
CÔNGTYCỔPHẦNXÂYDỰNGCÔNGTRÌNHGIAOTHÔNG 118
23
Phó giám đốc điều hành
BANKIỂMSOÁT

g kỹ
thuật
công
nghệ
Chí
nhánh
phía
Nam
- Đại hội đồng quản trị: là cơ quan có quyền lực cao nhất trong công ty cổ
phần.Đại hội đồng cổđông thường niên do hội đồng quản trị triệu tập họp mỗi năm
một lần để thông qua báo cáo tài chính và thông qua định hướng phát triển của
công ty.
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh
Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty
như quyết định chiến lược phát triển Công ty, quyết định phương án đầu tư… (trừ
những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng).
- Ban kiểm soát: Có chức năng kiểm tra tính hợp lý và hợp pháp trong quản
lý, điều hành hoạt động kinh doanh trong ghi chép sổ kế toán và Báo cáo tài chính,
thường xuyên thông báo với hội đồng quản trị về kết quả hoạt động, tham khảo ý
kiến của Hội đồng quản trị khi trình các báo cáo kết luận và kiến nghị lên Đại hội
đồng cổđông.
- Giám đốc: Là người có quyền điều hành cao nhất trong Công ty, chịu trách
nhiệm chính và có quyền cao nhất về công việc sản xuất kinh doanh. Giám đốc là
chủ tài khoản, thực hiện việc trả lương cho cán bộ công nhân viên. Sự giám sát,
theo dõi, những quyết định của giám đốc dựa trên các báo cáo từ các phòng ban,
màđứng đầu là các trưởng phòng.
- Các phó giám đốcđiều hành phụ trách kế hoạch kinh doanh: Chịu trách
nhiệm trước giám đốc về kế hoạch kinh doanh, được giám đốc uỷ quyền ký kết các
hợp đồng sản xuất kinh doanh với các mặt hàng.
- Các đơn vị sản xuất: Bao gồm xưởng sửa chữa, các đội thi công độc lập,

+Chi nhánh phía nam: Làđại diện cho Công ty, có trụ sở tại Thành Phố Hồ
Chí Minh.
2.1.3.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán.
Để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ vàđặc điểm kinh doanh ởđơn vị mình,
Công ty xây dựng công trình giao thông 118 đã tổ chức bộ máy kế toán theo hình
25

Trích đoạn Phương hướng và nhiệm vụđể phát triển của Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 trong năm Phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm: Tổ chức tốt công tác thanh toán và thu hồi nợ phải thu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status