1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu với thế
mạnh là các ngành trồng trọt và chăn nuôi, bên cạnh vấn đề về tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp cũng như định hướng lớn của nhà nước về phát triển chăn
nuôi thì ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi đóng một vị trí quan
trọng. Thức ăn chăn nuôi là sản phẩm gắn liền và không thể thiếu với hoạt
động chăn nuôi của hộ nông dân Việt Nam, trang trại, xí nghiệp… Ngành chế
biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam phát triển nhanh và mạnh từ đầu thập kỷ
90 đặc biệt từ năm 1994 đến nay. Do tác động tích cực của chính sách đổi
mới, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước nên các nhà kinh doanh đã
phát triển mạnh vào ngành công nghiệp này. Chất lượng sản phẩm được các
công ty chế biến thức ăn đặt lên hàng đầu. Để đạt được điều này các nhà
doanh nghiệp cần quan tâm không chỉ đến chất lượng máy móc, quy trình sản
xuất cải tiến mà còn phải quan tâm tới người lao động. Các nhà máy sản xuất
thức ăn chăn nuôi cần cải thiện cả môi trường làm việc tốt, đảm bảo sức khỏe
cho công nhân làm việc.
Công ty Cổ phần Việt Pháp sản xuất thức ăn Gia Súc Proconco là liên
doanh đầu tiên giữa Cộng hoà Pháp và Việt Nam đầu tư vào Việt Nam trong
lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, nông nghiệp vào năm 1991, với sản lượng ngày
càng tăng trưởng và tiến lên dẫn đầu thị trường thức ăn chăn nuôi tại Việt
Nam. Thế mạnh của các nhà máy sản xuất thức ăn gia súc Con Cò là đều nằm
bên các dòng sông lớn, rất thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu thông hàng hoá
và nguyên liệu. Nhà máy Đình Vũ, Hải Phòng cũng là một trong những nhà
máy như vậy. Nhà máy được đặt bên dòng sông Cấm – Thành Phố Hải
Phòng, với công suất đạt được hơn 250.000 tấn/năm cung ứng cho thị trường
thức ăn gia súc các tỉnh miền Bắc từ Hà Tĩnh trở ra. Với công suất tiêu thụ
sản phẩm như vậy, thực trạng môi trường làm việc cũng như sức khỏe của
2
người lao động tại nhà máy này ra sao, có được các nhà lãnh đạo quan tâm
hay không, đã đáp ứng đủ nhu cầu của người lao động hay chưa? Hiện tại vấn
hình thức chăn nuôi công nghiệp được coi trọng hàng đầu và là một bước thay
đổi tất yếu. Với xu hướng trên, sự phát triển đồng bộ của ngành sản xuất thức
ăn chăn nuôi là một điều kiện không thể thiếu đối với tiêu chí phát triển ngành
nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất chăn nuôi nói riêng. Bởi sản phẩm
thức ăn công nghiệp là nguyên liệu cho sản xuất chính của ngành chăn nuôi,
ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm chăn nuôi và hiệu quả kinh tế
của người chăn nuôi.
4
1.1.1. Đặc điểm thức ăn chăn nuôi
Thoạt đầu ngành chăn nuôi xuất hiện và phát triển một cách tự phát,
sản phẩm dùng cho chăn nuôi chủ yếu là tận dụng từ phụ phẩm của ngành sản
xuất nông nghiệp và các vi sinh vật tự nhiên sẵn có. Đến đầu thế kỷ 20 khoa
học chế biến thức ăn chăn nuôi mới hình thành mà phát triển một cách nhanh
chóng cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật. Mục tiêu
của quá trình sản xuất là tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đầy đủ dinh
dưỡng cho vật nuôi mà thức ăn đơn không thể đáp ứng được. Mặt khác mỗi
loại vật nuôi trong từng giai đoạn phát triển sinh lý có những nhu cầu dinh
dưỡng khác nhau, chính vì thế mà ngành chế biến thức ăn chăn nuôi phải tạo
ra được nhiều sản phẩm phù hợp cho từng loại gia súc, phù hợp với từng thời
kỳ sinh lý của vật nuôi.
Phải nói rằng thức ăn chăn nuôi công nghiệp là một tiến bộ kỹ thuật của
ngành chăn nuôi bởi chúng đáp ứng tốt nhất nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi
giúp tăng trưởng nhanh chóng, thức ăn được sử dụng tiết kiệm và bảo quản
tốt hơn từ đó có thể rút ngắn chu kỳ trong chăn nuôi, tạo điều kiện phát triển
chăn nuôi với qui mô lớn và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp là sản phẩm đã qua chế biến từ thức ăn,
động vật, vi sinh vật, hóa chất, khoáng chất cung cấp cho vật nuôi các chất
dinh dưỡng để đảm bảo hoạt động sống, sinh trưởng, phát triển và sinh sản.
Người ta thường phân chia thức ăn công nghiệp thành 2 loại chính như sau
1.1.1.1. Thức ăn đậm đặc
- Các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi phải chịu trách nhiệm
quản lý nhà nước đối với sản phẩm hàng hóa do mình sản xuất, trong đó Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn và cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý
toàn bộ hoạt động của ngành từ khâu phân cấp phép kinh doanh đến khâu
quản lý chất lượng, phân phối và tiêu thụ sản phẩm.
6
- Ngành chế biến thức ăn chăn nuôi là ngành công nghiệp hỗ trợ cho
ngành chăn nuôi, nguồn nguyên liệu chủ yếu là sản phẩm từ ngành sản xuất
nông nghiệp, ngành thủy sản, dược phẩm do vậy nó chịu ảnh hưởng rất lớn từ
các ngành sản xuất khác nhau. Chính vì thế mà ngành chế biến thức ăn chăn
nuôi phát triển gắn liền với việc phát triển công nghiệp và kinh tế của các
ngành sản xuất khác.
- Công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất
luôn được các doanh nghiệp và Nhà nước thực hiện một cách đồng bộ trong
mối quan hệ tương hỗ. Đối với các doanh nghiệp quá trình nghiên cứu khoa
học, nghiên cứu các công thức pha trộn và sản xuất thức ăn nhằm tạo ra các bí
quyết riêng trong việc đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng, hạ giá thành
tạo sự khác biệt và lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cùng ngành. Đối với
Nhà nước quá trình nghiên cứu khoa học về dinh dưỡng và công nghệ chế
biến thức ăn chăn nuôi nhằm giúp các doanh nghiệp trong nước bắt kịp xu
hướng thế giới tiếp cận khoa học hiện đại. Đưa ra các giải pháp khoa học phát
triển chăn nuôi trong mối quan hệ phát triển bền vững. Với các ngành khác
nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm, giảm bớt các di hại do ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi gây
nên. Từ đó nghiên cứu cơ chế, chính sách phát triển chăn nuôi phù hợp xu thế
hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế.
1.1.3. Vai trò chủ yếu của ngành chế biến thức ăn chăn nuôi
Là một nước nông nghiệp (> 70% dân số sản xuất nông nghiệp) nước ta
có nguồn nhân lực dồi dào, nguồn nguyên liệu phong phú, thời tiết khí hậu
thuận lợi cho phát triển ngành chăn nuôi. Xuất phát từ những thuận lợi trên
nuôi công nghiệp ngày càng phổ biến. Điều đó cho thấy ngành chế biến thức
ăn chăn nuôi đang là ngành công nghiệp tiềm năng và có sức hút lớn đối với
các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đòi hỏi nhà nước phải có chính sách
quản lý vĩ mô phù hợp đáp ứng nhu cầu phát triển ngành và đồng bộ với tiến
trình phát triển tổng thể nền kinh tế quốc gia.
8
Thứ tư: sự phát triển ngành chế biến thức ăn chăn nuôi còn ảnh hưởng
tới môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Đi đôi với mục tiêu phát triển
ngành chăn nuôi trong tương lai, ngành công nghiệp chế biến thức ăn đóng
vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu Công nghiệp hóa -
Hiện đại hóa. Ngoài ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các doanh
nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi còn là nhân tố ảnh hưởng tới môi trường
sinh thái, vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khỏe người sử dụng chăn nuôi.
Chính vì thế đòi hỏi Nhà nước có chính sách hợp lý cho công tác nghiên cứu
và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. phải có cơ chế quản lý vĩ mô
phù hợp đảm bảo ngành chế biến thức ăn chăn nuôi phát triển một cách bền
vững phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Với vai trò vô cùng quan trọng như vậy ngành chế biến thức ăn chăn nuôi
được coi là một ngành mũi nhọn trong sự nghiệp phát triển kinh tế. Bên cạnh các
chính sách quản lý và phát triển thì việc quan tâm nâng cao sức khỏe cho công
nhân ngành chế biến thức ăn chăn nuôi là một việc không thể thiếu đối với mỗi
doanh nghiệp, bởi đó là nhân tố trực tiếp tác động tới quá trình sản xuất.
1.1.4. Thiết bị và dây chuyền công nghệ trong sản xuất thức ăn chăn nuôi
Chế biến thức ăn chăn nuôi là một ngành công nghiệp phức tạp mức độ
ứng dụng khoa học kỹ thuật cao và luôn được cải tiến. Sản phẩm thức ăn chăn
nuôi đa dạng đòi hỏi phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất
lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Chính vì thế thiết bị và dây chuyền sản
xuất phải đáp ứng một số tiêu chuẩn kỹ thuật quy định. Hiện ngành chế biến
thức ăn chăn nuôi có hai dây chuyền công nghệ sản xuất chính: dây chuyền
sản xuất thức ăn dạng viên và dây chuyền sản xuất thức ăn dạng bột. Tuy
chuyền sản xuất thức ăn dạng viên, sau khi qua công đoạn nghiền trộn sản
phẩm phải được pha chế với chất kết dính tạo sự liên kết và ép thành viên mới
10
chuyển qua công đoạn đóng gói. Chính vì thế dây chuyền sản xuất sản phẩm
dạng viên phải trang bị thêm hệ thống máy ép viên.
1.1.5. Vài nét về nguồn nhân lực trong ngành chế biến thức ăn chăn nuôi
Cũng như các ngành sản xuất khác, công nhân lao động trực tiếp,
chuyên viên kỹ thuật chuyên ngành, cán bộ quản lý điều hành doanh nghiệp,
đội ngũ nhân viên lao động gián tiếp là lực lượng không thể thiếu trong ngành
sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên mỗi ngành khác nhau đòi hỏi nguồn nhân lực
khác nhau tương ứng với tính chất đặc thù của mỗi ngành. Đối với ngành chế
biến thức ăn chăn nuôi nguồn nhân lực có một số đặc điểm sau:
- Lực lượng lao động là công nhân sản xuất trực tiếp: đây là lực lượng
lao động đông nhất trong cơ cấu tại các doanh nghiệp, được công ty tuyển
trực tiếp phục vụ cho các công đoạn sản xuất trực tiếp. Hầu hết đội ngũ lao
động trực tiếp là công nhân lao động phổ thông và chưa được đào tạo chính
quy. Do vậy tùy thuộc vị trí công việc mà mỗi doanh nghiệp có hình thức
tuyển dụng và đào tạo tay nghề phù hợp với yêu cầu sản xuất tại đơn vị.
- Lực lượng lao động là đội ngũ nhân viên lao động gián tiếp: là các
cán bộ công nhân viên thuộc các ban phòng chức năng, phục vụ công tác quản
lý điều hành doanh nghiệp, đội ngũ nhân viên bán hàng marketing. Lực lượng
này được công ty trực tiếp tuyển dụng cho từng vị trí công tác theo đúng
chuyên môn nghiệp
- Lực lượng lao động là các chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư nông nghiệp,
kỹ sư chăn nuôi: đây là lực lượng lao động được đào tạo chuyên ngành về
chăn nuôi hoặc dinh dưỡng. Đòi hỏi phải có đủ năng lực tiếp thu về khoa học
dinh dưỡng, có năng lực thực hiện công việc thí nghiệm và kiểm tra các quy
trình sản xuất đảm bảo nguyên liệu mua vào đạt chất lượng. Lập khẩu phần
vào công thức thức ăn đảm bảo đủ dinh dưỡng và giá thành thấp nhất.
- Lực lượng lao động là các chuyên gia đầu ngành về nghiên cứu dinh
12
Các yếu tố nguy hiểm và có hại: trong một ĐKLĐ cụ thể, bao giờ cũng
xuất hiện những yếu tố vật chất ở một mức độ nhất định (vượt giới hạn cho
phép) có ảnh hưởng xấu, có hại và nguy hiểm, có nguy cơ gây ra TNLĐ hoặc
BNN cho NLĐ. Chúng ta gọi các yếu tố đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại.
Các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất thường đa
dạng và nhiều loại. Đó có thể là:
- Các yếu tố vật lý ( tiếng ồn, nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc gió, ánh sáng,
phóng xạ )
- Các yếu tố hoá học (hơi khí độc, bụi, hoá chất )
- Các yếu tố sinh vật (vi khuẩn, nấm mốc, bào tử )
- Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động (cường độ, nhịp điệu lao động,
mang vác nặng, vươn với ngoài tầm tay )
Bên cạnh đó còn có một yếu tố nữa mà người lao động phải đối mặt
là các tai nạn lao động. Đây là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, công
tác do kết quả của sự tác động đột ngột từ bên ngoài, làm chết người hoặc
làm tổn thương hoặc phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một bộ
phận nào đó của cơ thể.
Công nhân ngành công nghiệp chế biến thức ăn gia súc là đối tượng có
nguy cơ lớn phải tiếp xúc với các hóa chất chất độc hại, là nhân lực trực tiếp
sản xuất các sản phẩm phục vụ ngành chăn nuôi gia súc trong cả nước và xuất
khẩu ra nước ngoài. Ô nhiễm môi trường lao động hiện đang là nguyên nhân
chính dẫn đến tình trạng gia tăng bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động tại đối
với công nhân làm việc tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất.
Trong đó, chiếm tỉ lệ cao nhất là các bệnh có liên quan đến tình trạng ô nhiễm
môi trường như viêm mũi, viêm xoang, viêm phế quản, viêm phổi. Ngoài ra,
việc NLĐ bị đột ngột chuyển từ lao động giản đơn sang phức tạp do quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, cũng làm phát sinh nhiều bệnh
nghề nghiệp khác.
13
thêm. Vi khí hậu lạnh và khô làm cho rối loạn vận mạch thêm trầm trọng, gây
khô niêm mạc, nứt nẻ da. Vi khí hậu nóng ẩm làm giảm khả năng bay hơi của
mồ hôi, gây rối loạn thăng bằng nhiệt, làm cho mệt mỏi xuất hiện sớm, nó còn
tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển bên ngoài gây bệnh về da .
14
Kustov (1988), nghiên cứu vi khí hậu nóng ở mức thấp (mức độ tối đa
cho phép) thì tính nhạy cảm đó sẽ tăng lên khi vi khí hậu nóng ở mức cao
(trên mức tối đa cho phép). Tác giả đã đề nghị phải xét lại tiêu chuẩn tối đa
cho phép của các hơi khó độc trong công nghiệp trong trường hợp có tác động
phối hợp của khí hậu nóng .
1.2.2.2. Tiếng ồn
Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số khác nhau
kết hợp một cách lộn xộn, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, cản trở con
người làm việc và nghỉ ngơi . Tác hại của tiếng ồn trong môi trường phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, không chỉ bản chất của tiếng ồn và các yếu tố cộng
hưởng mà còn là cơ địa của bệnh nhân .
- Các đặc tính của âm thanh:
+ Tần số: số lần giao động đầy đủ trong một giây. Đơn vị hertz (Hz)
+ Biên độ (cường độ âm thanh). Đơn vị Bel.
+ Cảm giác tiếp nhận âm thanh: phụ thuộc vào tần số và biên độ.
- Các yếu tố quyết định tác hại của tiếng ồn.
+ Tác dụng phối hợp với các yếu tố khác: nhiệt độ cao của hơi khí độc…
+ Thời gian tiếp xúc: thời gian tiếp xúc càng dài, càng có hại, thời gian
tối thiểu để tiếng ồn gây ra bệnh điếc nghề nghiệp là 3 tháng. Nếu dưới 3
tháng mà tiếng ồn đã gây hại thì coi là tai nạn lao động do tiếng ồn.
+ Tính cảm thụ cá nhân: tùy tính cảm thụ của từng cá nhân trong từng
thời điểm khác nhau mà tiếng ồn gây hại nhiều hay ít.
+ Tiêu chuẩn giới hạn tối đa cho phép với tiếng ồn tại nơi sản xuất ≤ 85dB.
- Tác hại của tiếng ồn
+ Định nghĩa điếc nghề nghiệp: là một vi chấn thương âm do tiếng ồn ở
chỗ trong môi trường lao động, môi trường sống .
Phân loại bụi theo nguồn gốc gồm có bụi hữu cơ: từ lông động vật, từ
thực vật như bông, đay, gỗ, ngũ cốc… và bụi vô cơ: kim loại (đồng, chì, kẽm,
sắt, mangan…), khoáng chất (thạch anh, cát, than, chì, amiang…), ngoài ra
còn có bụi hỗn hợp nguồn gốc từ nhiều nơi .
16
Nói về tác hại của bụi, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy
bụi chủ yếu gây ra các vấn đề về đường hô hấp như viêm mũi, viêm xoang,
viêm phế quản mạn tính, đặc biệt bụi amiăng là một trong những yếu tố gây
nguy cơ ung thư phổi, ngoài ra còn gây ra một số bệnh về mắt, tiêu hóa…
Khí CO
2
thường phát sinh tròng nhiều ngành nghề sản xuất công nghiệp
(cơ khí, rượu bia, thức ăn gia súc…) và xuất hiện ở những nơi làm việc kín gió,
đông người, trong hang sâu, dưới giếng. Nó là chất khí không màu, không mùi
và có cảm giác tê ở nồng độ thấp gây các triệu chứng nhức đầu, chóng mặt,
buồn ngủ, mệt mỏi và có thể gây ngất ngay. Nồng độ tiêu chuẩn trong không
khí là ≤ 1800mg/m
3
. Ngoài ra còn các khí khác như CO, SO
2
… cũng phát sinh
trong quá trình sản xuất và gây độc hại cho người lao động.
1.2.2.5. Ergonomie
Ergonomie trong sản xuất có thể hiểu như là một công cụ thiết kế các
phương tiện, vị trí lao động phù hợp với con người hơn là làm cho con
người thich hợp với phương tiện, vị trí lao động ấy .
Nguyên tắc cơ bản của ergonomie là tất cả mọi hoạt động trong quá
trình lao động phải thoải mái, an toàn và đảm bảo sức khỏe cho người lao
động. Nếu mọi hoạt động trong quá trình lao động không thoải mái, gò bó,
Tiêu chuẩn phân loại sức khỏe cho khám tuyển và khám định kỳ cho
người lao động được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành trong quyết định số 1613
của Bộ Y tế. Đối tượng áp dụng là công dân Việt Nam trên 15 tuổi và không
mắc các bệnh mãn tính. Trong đó có 5 mức phân loại gồm:
- Loại I: rất khỏe
- Loại II: khỏe
- Loại III: trung bình
- Loại IV: yếu
- Loại V: rất yếu.
18
Đối tượng được phép lao động là đối tượng từ loại I đến III. Một số đối
tượng đặc biệt ở loại IV được bố trí vào những công việc phù hợp. Loại V
khuyến cáo không được lao động.
Tiêu chuẩn phân loại sức khỏe dựa vào các tiêu chí:
- Thể lực chung: chiều cao, cân nặng, căn cứ để tính BMI nếu cần thiết
và chỉ số vòng ngực.
Bệnh tật: các bệnh tật liên quan đến mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt,
tâm thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục, hệ vận động, da
liễu, nội tiết, u các loại.
Bác sĩ khám sẽ phân loại sức khỏe riêng lẻ cho từng mục của thể lực
chung và bệnh tật. Sau đó đưa ra kết luận về tình trạng sức khỏe dưa trên
tổng hợp chung.
1.3.3. Bệnh nghề nghiệp
Từ ngày 15/1/2012, thông tư số 43 của Bộ Y tế bổ sung thêm 3 bệnh
nghề nghiệp nâng số bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm y tế chi trả lên thành
28 bệnh. Tuy vẫn chỉ bằng 1/3 trung bình số bệnh của các nước phát triển
nhưng đây là nỗ lực lớn của ngành và cả xã hội trong chăm sóc sức khỏe
người lao động.
Phân loại 28 bệnh nghề nghiệp bao gồm:
- Nhóm 1: các bệnh bụi phổi và bụi phế quản: bệnh bụi phổi – Silic
Đức Bảo (1962), hơi hóa chất độc gây phù nề niêm mạc đường hô hấp và
niêm mạc miệng làm tăng tỷ lệ viêm họng, viêm mũi xoang, viêm lợi của
công nhân .
- Nguyễn Ngọc Ngà phân tích một số dây chuyền nhập từ nước ngoài
không phù hợp với dáng vóc của người Việt, cho thấy công nhân phải làm
việc với tư thế bất lợi gây ra rối loạn cơ xương
20
-Theo Nguyễn Bát Can, Đặng Đức Bảo (1962), hơi hóa chất độc gây
phù nề niêm mạc đường hô hấp và niêm mạc miệng làm tăng tỷ lệ viêm họng,
viêm mũi xoang, viêm lợi của công nhân .
1.4. Địa bàn nghiên cứu
Nhà máy sản xuất thức ăn gia súc Proconco Đình Vũ, Hải Phòng.
Hình 1.1: Nhà máy sản xuất thức ăn gia súc PROCONCO
Đình Vũ, Hải Phòng
1.5. Sơ đồ nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên việc tìm hiểu và phân tích các yếu tố môi trường
lao động ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân lao động tại nhà máy và
những hậu quả về sức khỏe do các yếu tố đó gây ra.
21
Hình 1.2: Sơ đồ nghiên cứu sức khỏe công nhân lao động trong nhà máy
22
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Môi trường lao động
- Vi khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió nơi sản xuất
- Chiếu sáng nơi sản xuất
- Tiếng ồn
- Bụi
- Bức xạ
nhân nhà máy
sản xuất thức
ăn gia súc
Proconco Đình
Vũ, Hải Phòng.
Nhiệt độ Tính giá trị trung bình ± SD
0
C
Độ ẩm Tính giá trị trung bình ± SD %
Tốc độ gió Tính giá trị trung bình ± SD m/s
Tiếng ồn Tính giá trị trung bình ± SD dBA
Ánh sáng Tính giá trị trung bình ± SD Lux
Bụi toàn phần Tính giá trị trung bình ± SD mg/m
3
Bụi hô hấp Tính giá trị trung bình ± SD mg/m
3
Hơi kim loại Tính giá trị trung bình ± SD mg/m
3
Điện TT &PX Tính giá trị trung bình ± SD
Tình hình sức
khỏe bệnh tật
của công nhân
Giới tính Tính tỷ lệ % theo giới Nam/nữ
Phân loại SK Tính tỷ lệ % theo loại sức khỏe I => V
Bệnh tật Tỷ lệ % mắc các bệnh Bệnh
2.2.5. Kỹ thuật thu thập số liệu
2.2.5.1. Môi trường lao động
- Phương pháp và thiết bị đo:
- Phương pháp đo theo thường quy kỹ thuật của Viện Y học lao động
và Vệ sinh môi trường - Bộ Y tế năm 2001 và đánh giá theo tiêu chuẩn Việt
giới, thâm niên nghề nghiệp, phân xưởng làm việc, bệnh tật…
- Đo chiều cao và cân nặng của đối tượng nghiên cứu
+ Cân nặng: sử dụng cân nặng của Trung Quốc có thước đo chiều
cao gắn kèm. Trước khi đo cân phải được ở vị trí ổn định, bằng phẳng và
chỉnh về số 0 và cân thử 3 lần, mỗi lần không được sai số quá 0,1kg và cân
nặng được ghi với một số lẻ. Đối tượng được cân nặng là nam giới chỉ mắc
quần đùi, cởi trần, không đi giày dép, nữ giới mắc quần áo gọn nhất và phải
25
trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả. Người được cân
đứng thẳng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân
bổ đều ở cả hai chân.
+ Đo chiều cao đứng: đối tượng không đi giày, dép, đứng quay lưng
vào thước đo, gót chân, mông, vai và đầu theo một đường thẳng đứng, mắt
nhìn thẳng về phía trước theo đường nằm ngang, hai tay bỏ thõng theo hai bên
mình, dùng thước vuông áp sát vào đỉnh đầu. Đọc và ghi kết quả với số ghi
xăngtimet (cm) và một số lẻ.
+ Khám bệnh: khám bệnh theo thường qui của Bộ Y tế
2.2.6. Công cụ thu thập thông tin
Bệnh án nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở các biến số và mục tiêu
nghiên cứu, đảm bảo thu thập được đầy đủ thông tin cần thiết cho nghiên cứu
từ bệnh án của bệnh viện
2.2.7. Sai số và cách khống chế
- Sai số chọn: chọn đối tượng ngoài danh sách nghiên cứu
- Khống chế: chọn đối tượng 1 cách cẩn thận, đúng người.
- Sai số thông tin
+ Môi trường lao động
Sai số: máy móc chưa chuẩn hóa, mẫu không đạt tiêu chuẩn
Khống chế: kiểm tra máy móc chỉnh đúng, lấy mẫu đạt tiêu chuẩn
+ Khám sức khỏe công nhân:
Sai số: dụng cụ đo không chính xác, sai số do ghi chép