MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống y tế Việt Nam, bộ phận y tế công lập có một vị trí chủ
đạo và đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ toàn
dân. Trong những năm qua, hệ thống y tế công lập ở nước ta vẫn tiếp tục phát
triển và giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp các dịch vụ y tế cho nhân dân.
Cùng với sự tăng lên của số lượng Bệnh viện công lập, số giường bệnh cũng
tăng lên qua các năm và hầu như được khai thác tối đa công suất. Bên cạnh
đầu tư cho cơ sở vật chất, kỹ thuật, các bệnh viện cũng rất quan tâm đến việc
nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, y bác sỹ. Các bệnh viện đã tạo điều
kiện thuận lợi nhất hỗ trợ cả về kinh phí lẫn điều kiện công tác cho các cán bộ
đi học để nâng cao trình độ chuyên môn, hiện nay các bác sỹ có trình độ
chuyên khoa I, chuyên khoa II, thạc sỹ và tiến sỹ tăng lên hàng năm, điều này
đánh dấu sự phát triển về chuyên môn phục vụ khám chữa bệnh cho bệnh
nhân để có hiệu quả tốt nhất.
Tuy nhiên với cơ sở vật chất và số lượng y bác sỹ như hiện nay, các
bệnh viện công lập vẫn đang trong tình trạng quá tải do số lượng bệnh nhân
đông và nhu cầu khám chữa bệnh rất cao. Quy mô giưòng bệnh của các
chuyên khoa như tim mạch, chấn thương, chỉnh hình, ung bướu, nội tiết
chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người bệnh, chưa được điều chỉnh kịp thời theo
sự thay đổi của mô hình bệnh tật. Khoa Tim mạch – Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Bắc Ninh cũng nằm trong tình trạng chung của các bệnh viện công lập. Chính
vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài:
“Công tác quản lý hoạt động khám, chữa bệnh ở Khoa Tim mạch –
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh”
làm tiểu luận tốt nghiệp cuối khóa của mình, với mong muốn được
đóng góp một phần công sức vào việc tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu
quả quản lý hoạt động khám, chữa bệnh ở Khoa Tim mạch – Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
1
2. Mục đích nghiên cứu.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
KHÁM, CHỮA BỆNH
1.1.MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
1.1.1- Khái niệm khám bệnh, chữa bệnh
Theo Điều 2 Luật Khám, chữa bệnh năm 2009 thì:
Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực
thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để
chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận.
Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được
công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc,
phục hồi chức năng cho người bệnh.
1.1.2- Quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Được thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định
của Luật này; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của
Bộ trưởng Bộ Y tế được khám sức khỏe định kỳ, khám sức khỏe để lao động,
học tập, làm việc và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả khám sức
khỏe của mình.
- Được từ chối khám bệnh, chữa bệnh nếu trong quá trình khám bệnh,
chữa bệnh mà tiên lượng bệnh vượt quá khả năng hoặc trái phạm vi hoạt động
chuyên môn được ghi trong giấy phép hoạt động nhưng phải giới thiệu người
bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để giải quyết. Trong trường hợp
này, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vẫn phải thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu,
theo dõi, chăm sóc, điều trị cho người bệnh cho đến khi người bệnh được
chuyển đi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.
- Được thu các khoản chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của
pháp luật.
3
- Được hưởng chế độ ưu đãi khi thực hiện các hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
1.1.3- Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Việc thanh toán này được bảo hiểm y tế thanh toán cho các bệnh viện mỗi
quý một lần vào thời điểm cuối quý. Đây là một trong giải pháp tài chính
quan trọng của xã hội hoá công tác chăm sóc sức khoẻ. Bảo hiểm y tế là cơ
chế chi trả tiến bộ, văn minh đã được thế gi ới khẳng định. Đến nay, qua 4 lần
điều chỉnh chính sách và thay đổi mô hình về bảo hiểm y tế, chúng ta cũng đã
đúc kết được nhiều kinh nghiệm.
1.2.2- Khám, chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, bệnh nhân nghèo:
Đây là hình thức khám, chữa bệnh dành cho các đối tượng bệnh nhân là
gia đình chính sách (gia đình thương binh liệt sỹ, có công với cách mạng),
người nghèo, người cận nghèo, người tàn tật, người cao tuổi, trẻ em, người
dân ở vùng miền núi, các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa. Người bệnh
thuộc diện khám, chữa bệnh này sẽ được hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ kinh
phí khám chữa bệnh . Đây là hình thức thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước đối với các đối tượng đặc biệt và là một hình thức khám, chữa bệnh
mang tính nhân văn cao.
1.2.3-Khám, chữa bệnh dịch vụ:
Là hình thức khám, chữa bệnh mà người bệnh phải chi trả toàn bộ các
chi phí cho việc khám, chữa bệnh theo đơn giá thu của bệnh viện. Hiện nay,
đơn giá thu này được các bệnh viện tự tính toán và xác định, và thường cao
hơn so với hình thức khám, chữa bệnh thông thường. Chính vì vậy, người
bệnh sẽ được hưởng chất lượng dịch vụ cao hơn. Trường hợp bệnh nhân có
thẻ bảo hiểm y tế có nguyện vọng được khám, chữa bệnh theo hình thức dịch
vụ thì người bệnh sẽ chỉ phải trả cho bệnh viện phần chênh lệch giữa giá thu
5
khám, chữa bệnh theo yêu cầu với giá khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế , phần
còn lại bảo hiểm y tế sẽ tiến hành quyết toán và chi trả cho các bệnh viện vào
cuối mỗi quý.
1.3- CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ.
Theo quy định của Bộ Y tế các Bệnh viện tỉnh có các chức năng, nhiệm
vụ cơ bản sau:
ngày. Dịch vụ này nhằm phục vụ cho các bệnh nhân ở xa và những người có
ít thời gian, giúp họ sắp xếp được công việc của họ một cách hợp lý và không
mất quá nhiều thời gian cho việc chờ đợi để được khám bệnh.
1.4.2- Khám, chữa bệnh Thứ 7, Chủ nhật:
Phục vụ cho các đối tượng không có điều kiện khám, chữa bệnh trong
những ngày làm việc trong tuần.
1.4.3- Khám, chữa bệnh yêu cầu chọn bác sĩ, chọn phòng bệnh:
Hiện nay bên cạnh những đối tượng bệnh nhân có khả năng chi trả
thấp, thì vẫn có đối tượng bệnh nhân có điều kiện chi trả cho các loại hình
dịch vụ theo yêu cầu: như chọn bác sỹ, chọn phòng nằm điều trị Để đáp ứng
nhu cầu của các đối tượng này các bệnh viện đã triển khai khu điều trị yêu cầu
trên nguyên tắc khác nhau về dịch vụ cung cấp nhưng chuyên môn hoàn toàn
thực hiện công bằng giữa các bệnh nhân. Điều này đảm bảo mọi bệnh nhân
đều được hưởng lợi ích y tế công bằng như nhau.
1.4.4- Khám, chữa bệnh trái tuyến theo yêu cầu:
Hoạt động khám, chữa bệnh dịch vụ, phục vụ cho các đối tượng bệnh
nhân đi không đúng với tuyến khám, chữa bệnh theo quy định. Được xem là
một hoạt động kinh doanh dịch vụ trên cơ sở tận dụng cơ sở vật chất, kỹ thuật
và năng lực lao động sẵn có của các bệnh viện nhằm hỗ trợ cho hoạt động
chuyên môn và góp phần cải thiện, nâng cao đời sống cho cán bộ, y bác sỹ.
7
Quá trình hạch toán hoạt động dịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu phải
chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước, Bộ y tế về nội dung,
phạm vi hoạt động, chế độ tài chính kế toán…
Các khoa khám, chữa bệnh theo yêu cầu tại một số bệnh viện được
thành lập theo mô hình khép kín, bao gồm cả khám bệnh ngoại trú, xét
nghiệm sinh hoá, huyết học, thăm dò chức năng với những trang thiết bị y tế
hiện đại, và đội ngũ các thầy thuốc giỏi. Các khoa này có đủ khả năng cung
cấp các dịch vụ khám, chữa bệnh với chất lượng cao, chăm sóc toàn diện. So
với Khoa khám, chữa bệnh thông thường, các khoa khám, chữa bệnh theo yêu
chống tiêu cực trong khám bệnh, chữa bệnh; không gây phiền hà và để người
bệnh chờ đợi lâu; có đủ giường nằm cho người bệnh.
Do sự phát triển của xã hội nên bệnh Tim mạch có xu thế ngày càng
tăng theo qui luật chung của xã hội, đòi hỏi tập thể khoa Tim mạch phải cố
gắng không ngừng cập nhật kiến thức mới, hoàn thiện và phát triển trên các
lĩnh vực thuộc chuyên khoa Tim mạch, nâng cao kỹ thuật và trình độ chuyên
môn để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho bệnh nhân. Dựa trên kết qủa
các công trình nghiên cứu thực hiện trên chính đối tượng bệnh nhân Tim
mạch Lão khoa đễ đưa ra hướng phát triển phù hợp cho khoa: Chẩn đoán
9
sớm, có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu và áp dụng các phương pháp điều trị
chuyên khoa sâu bệnh lý Tim mạch.
Khoa có đội ngũ Y Bác sĩ được đào tạo chính qui, một số đã được đào
tạo sau đại học, đào tạo theo nhu cầu chuyên khoa sâu và có nhiều năm công
tác, có nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc, điều trị bệnh Tim mạch.
Cơ cấu nguồn nhân nhân lực của khoa
Giới tính Trình độ Độ tuổi
Nam Nữ Chuyên khoa 1 1 Dưới 30 11
Thạc sỹ 1 Từ 30-40 10
12 19 Bác sỹ 11 Từ 40-50 6
Y tá 19 Từ 50-60 4
Hộ lý 1
Hàng năm khoa luôn có kế hoạch đào tạo liên tục cho các bác sỹ về các
chương trình sau đại học và gửi đi đào tạo các kỹ thuật chuyên khoa sâu phục vụ
chuyên môn. Hiện tại đội ngũ cán bộ của khoa là 31 cán bộ, trong đó: 12 nam và
19 nữ, số bác sỹ là 12 người chiếm 38% tổng số cán bộ, tỷ lệ cán bộ trên 40 tuổi
là 10 người. Ngoài công tác khám, điều trị, cấp cứu các bệnh lý tim mạch thì đa
số bác sĩ còn biết làm siêu âm tim, Holter huyết áp và điện tim
Tổng số giường bệnh: 65; đầu số thuốc được cấp phát: khoảng 150
danh mục thuốc.
phức không đáng có phát sinh từ thủ tục hành chính. Hằng năm Bệnh viện và
khoa đều có kế hoạch nâng cấp phần mềm tin học, trang thiết bị để đáp ứng
yêu cầu công việc ngày càng cao và lượng bệnh càng đông tại Khoa Tim
mạch. Bệnh viện đã thực hiện khám chữa bệnh theo quy trình 1 cửa và có
nhiều điểm mới, chất lượng hơn so với trước đó. Cụ thể như Bệnh viện đã
11
tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng phần mềm tin học, từ
khâu lấy số, xếp hàng, khám chữa bệnh, thanh toán viện phí, cấp phát thuốc
bảo hiểm y tế Người bệnh chỉ nhận số thứ tự và đợi đến lượt khám mà
không phải xếp hàng hay sợ bị chen ngang, mất lượt, tạo tâm lý thoải mái và
yên tâm cho người đến khám bệnh. Qua đó công tác khám chữa bệnh đã được
cải thiện và chất lượng quản lý cũng được nâng cao. Bệnh viện có các hướng
dẫn, quy định, nội quy, sơ đồ, biển báo dễ thấy, dễ đọc, dễ hiểu. Đã niêm yết
quy trình khám chữa bệnh theo tiêu chuẩn ISO 9001-2008 tại phòng khám
cấp cứu. Tổ chức bộ phận tiếp đón, thông tin, hướng dẫn người bệnh các thủ
tục đến khám, nhập viện hoặc phải chuyển viện sau khi khám bệnh.
Đã thực hiện phát phiếu khám, số khám cho từng người bệnh và thông
báo phiếu khám, số khám qua loa đài và thông báo trên bảng điện tử. Tiến đến
áp dụng quy trình phát số khám tự động có kiểm soát.
Đảm bảo phối kết hợp tốt tất cả các khâu từ đón tiếp bệnh nhân, khám
cấp cứu, vào viện hay chuyển viện để thuận lợi cho bệnh nhân. Đặc biệt các
bệnh nhân chuyển viện là các bệnh nhân nặng cần phải chuyển tới các bệnh
viện tim mạch chuyên ngành ở Hà Nội, Khoa đã giải quyết các thủ tục nhanh
chóng trong vòng 1-2 tiếng đồng hồ để bệnh nhân được cấp cứu kịp thời. Số
bệnh nhân chuyển viện năm 2010 là 12 bệnh nhân, năm 2011 là 15 bệnh nhân
và 2012 là 16 bệnh nhân.
2.2.1.2. Về quản lý hoạt động khám, chữa bệnh
Trong giai đoạn vừa qua Khoa đã tích cực tham gia công tác tuyến theo
chỉ đạo của Ban giám đốc: cùng kết hợp với Phòng chỉ đạo tuyến và Ban bảo
vệ chăm sóc sức khoẻ cán bộ Trung cao cấp của tỉnh để khám – kết luận sức
vậy lượng người đến khám bệnh ngày càng đông.
13
Khoa bố trí bàn khám cho người bệnh có Bảo hiểm y tế ở vị trí thuận
lợi, số bàn khám Bảo hiểm y tế phù hợp với số lượng thẻ bảo hiểm y tế, người
bệnh Bảo hiểm y tế đến khám. Bảo đảm chất lượng khám bệnh, tư vấn và
khám hết người bệnh trong ngày. Bố trí đủ ghế ngồi, che nắng, che mưa,
thoáng mát, hợp vệ sinh cho người đến chờ khám bệnh, kết hợp tuyên truyền
giáo dục sức khỏe tại khu vực khám bệnh bằng hệ thống vô tuyến truyền hình,
tờ rơi tuyên truyền, tranh ảnh.
Bác sỹ tại phòng khám luân phiên nhau đi làm sớm hơn giờ quy định
chung (trước 30 phút vào buổi sáng) và về trễ hơn 15-30 phút vào cuối buổi
để giải quyết hết bệnh nhân đã đăng ký khám chữa bệnh. Việc cấp phát thuốc
cho người bệnh cũng được khoa cùng với bệnh viện quan tâm đổi mới. Ví dụ
như đối với bệnh nhân ngoại trú, bệnh viện đã tăng cường thêm nhân viên ở
quầy thuốc, liên thông với phòng khám và thu viện phí để nhằm giảm bớt việc
đi lại qua nhiều khâu cho bệnh nhân.
Tại khoa cũng có nơi hướng dẫn, giải đáp thắc mắc cho bệnh nhân và
thân nhân khi làm các thủ tục nhập viện, xuất viện. Giảm các thủ tục hành
chính gây phiền hà đối với người bệnh nhập viện. Tổ chức đón tiếp tốt, phổ
biến các quy định cần thiết, thăm khám và thực hiện sớm, đầy đủ các y lệnh
khi người bệnh nhập khoa điều trị. Thực hiện tốt các quy trình chuyên môn,
kỹ thuật, y lệnh điều trị.
Bố trí đủ nhân lực chăm sóc người bệnh theo quy định. Hạn chế tối đa
người bệnh nằm ghép, cải thiện chất lượng các dịch vụ, tăng cường việc đáp
ứng những nhu cầu tối thiểu cho người bệnh: bảo đảm dinh dưỡng hợp lý,
cung cấp nước sạch, điều kiện vệ sinh, đảm bảo vệ sinh môi trường buồng
bệnh và bệnh viện, tạo môi trường thân thiện và an toàn đối với người bệnh
và nhân viên y tế.
14
Ứng dụng công nghệ thông tin, điều dưỡng của khoa có thể ước tính
“cầm tay, chỉ việc” ở tuyến tỉnh và trung ương. Những yếu tố trên đã giúp
Khoa hoàn thành tốt nhiệm vụ khám, chữa bệnh cho người dân.
2.2.1.3. Về quản lý hoạt động dịch vụ khám, chữa bệnh tại khoa Tim mạch
Với sự đầu tư cả về chiều rộng và chiều sâu, chất lượng chuyên môn
của Khoa Tim Mạch ngày càng được khẳng định, uy tín của Khoa được nâng
cao. Số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị ngày càng tăng. Bên cạnh hoạt
động chuyên môn, công tác xã hội và từ thiện cũng được bệnh viện đặc biệt
quan tâm. Hàng năm, bệnh viện tổ chức khám miễn phí cho hàng trăm lượt
bệnh nhân nghèo trong tỉnh.
Khoa Tim Mạch luôn làm tốt công tác chăm sóc, điều trị bệnh nhân
mắc bệnh tim mạch. Bác sỹ của Khoa đã làm chủ và thực hiện thuần thục
chẩn đoán và điều trị nội khoa, xử trí bước đầu tốt các bệnh về mạch máu
nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực, suy tim cấp, phù phổi cấp, bệnh tim hậu
thấp tim, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, các rối loạn nhịp tim từ đơn
giản đến phức tạp
Số bệnh nhân đến khám, điều trị tại khoa Tim mạch ngày một đông.
Trung bình trong giai đoạn 2010-2012 mỗi năm có hơn 3.000 lượt bệnh nhân đến
khám và điều trị nội trú, bệnh nhân ngoại trú khoảng 1.500 lượt bệnh nhân, thực
hiện 200 lượt siêu âm tim mỗi tháng, vượt từ 10-12% so với kế hoạch đề ra. Dự
kiến năm 2013, các chỉ tiêu chuyên môn của khoa tăng 120 - 1500%.
Số lượng bệnh nhân bệnh nhân vào khám chữa bệnh tại khoa bình
quân của khoa là:
- Số khám tại phòng khám chuyên khoa tim mạch: 500 lượt BN/ tháng
- Số nằm điều trị: 250 lượt bệnh nhân nằm điều trị nội trú /tháng
- Số bệnh nhân điều trị ngoại trú các bệnh tim mạch: 1500 lượt bệnh
nhân/tháng .
16
Các bệnh nhân điều trị tại Khoa đều có tiến triển tốt chỉ sau một thời
gian ngắn. Không chỉ trực tiếp khám, chữa bệnh tại Khoa, các bác sỹ còn liên
tục xuống cơ sở khám, chữa bệnh cho người dân. Khoa chú ý đến việc hợp
Cơ cấu tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ chưa đạt theo quy định. Thiếu nhân lực
khám, chữa bệnh; thiếu bác sĩ; thiếu cán bộ có trình độ chuyên sâu. Năng lực
của một số cán bộ so với nhu cầu xã hội còn chưa cao, nhất là trong việc chẩn
đoán, điều trị và khai thác sử dụng các thiết bị hiện đại; các biện pháp tự đào
tạo còn ít được thực hiện hoặc hiệu quả thấp, dẫn đến chất lượng khám chữa
bệnh chậm chuyển biến so với yêu cầu; việc thực hiện các quy chế chuyên
môn một số mặt chưa chặt chẽ, chưa thường xuyên.
2.3.3. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế
2.3.3.1. Nguyên nhân của ưu điểm:
Những năm qua nhờ sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, sự phối
hợp của khoa và Ban giám đốc bệnh viện, công tác khám chữa, bệnh của
Khoa Tim mạch có nhiều thuận lợi, từng bước đáp ứng nhu cầu khám chữa
bệnh của nhân dân trong tỉnh.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân trong điều
kiện còn nhiều khó khăn là nhờ Khoa Tim mạch và Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Bắc Ninh đã thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống
tốt đẹp của ngành y cho từng cán bộ. Qua đó giúp cho mỗi cán bộ xác định
được vai trò, trách nhiệm của mình, luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ
chuyên môn được giao.
Mỗi cán bộ trong đơn vị cũng nghiêm túc quán triệt và thực hiện 12
điều y đức và quy tắc ứng xử của Bộ Y tế ban hành, do đó với người bệnh
ngay từ khi bước vào viện đã được hướng dẫn khám, chữa bệnh và đón tiếp
chu đáo với thái độ ứng xử nhã nhặn, tạo tâm lý, tư tưởng thoải mái cho người
bệnh, giúp họ quên đi những khó khăn, đau đớn trong quá trình điều trị.
18
2.3.3.2. Nguyên nhân hạn chế:
Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị chưa được đầu tư đồng bộ làm giảm khả
năng điều trị cho bệnh nhân. Việc phòng bệnh kém làm gia tăng tình trạng
quá tải bệnh nhân, cơ sở hạ tầng bệnh viện xuống cấp, thầy thuốc phải làm
việc quá sức
đột phá làm chuyển biến mạnh mẽ tình hình, chất lượng công tác của đội ngũ
cán bộ các cấp; thực hiện chặt chẽ, có nền nếp công tác cán bộ, nhất là trong
20
quản lý, sử dụng, đào tạo và điều động, bổ nhiệm; thường xuyên nâng cao
năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của các cấp ủy, chi bộ thông qua việc bồi
dưỡng năng lực hoạt động công tác đảng cho đội ngũ bí thư, cấp ủy viên, chú
trọng kiến thức và kinh nghiệm thực tế; hướng dẫn các tổ chức đảng xây dựng
quy chế và vận hành theo quy chế dân chủ, công khai; đề cao tự phê bình và
phê bình; sâu sát trong quản lý, giáo dục và rèn luyện đảng viên… Kết quả là
tỉ lệ tổ chức đảng đạt Trong sạch vững mạnh trung bình hàng năm luôn đạt
trên 90%; tỉ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ luôn ở mức cao (trên 92%);
tỉ lệ đảng viên chỉ ở mức hoàn thành nhiệm vụ và vi phạm tư cách ngày càng
giảm; năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ các cấp trong Khoa
không ngừng được nâng lên, chất lượng công tác giáo dục, đào tạo, nghiên
cứu khoa học, cấp cứu, điều trị và xây dựng các tổ chức quần chúng vững
mạnh ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực và vững chắc.
Thường vụ Đảng ủy cần tích cực có nhiều cố gắng trong lãnh đạo, chỉ
đạo và triển khai thực hiện, nhằm chuyển biến hơn nữa về văn hóa giao tiếp
và ứng xử với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân. Tích cực thực hiện tốt nội
dung Nghị Quyết Trung ương 4 trong thời gian tới, để việc phê bình và tự phê
bình của các tổ chức đảng trực thuộc có kết quả, Đảng ủy Bệnh viện cần xác
định tăng cường công tác kiểm tra, kiên quyết nhắc nhở, xử lý những tổ chức
đảng thực hiện không đúng hướng dẫn, tổ chức thực hiện qua loa, đại khái.
Đảng uỷ, ban giám đốc bệnh viện cần có nhiều chủ trương tích cực
như: lồng ghép vào Nghị quyết của Đảng uỷ, xây dựng kế hoạch công tác
tháng, quý, năm của bệnh viện và chương trình hoạt động của đoàn thể, có sự
phân giao chỉ tiêu, có bảng điểm cụ thể. Từ đó, tạo được phong trào thi đua
sôi nổi giữa tập thể và các cá nhân, thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Sự
chuyển biến mạnh mẽ đầu tiên đó là ý thức của từng cán bộ, đảng viên cũng
dần thay đổi.
Chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp
nâng cao y đức cho đội ngũ cán bộ y tế, tăng cường công tác xây dựng Đảng
và phát triển Đảng viên. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục y đức
gắn với phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Phối hợp với Bảo hiểm xã hội giải quyết những vướng mắc trong khám, chữa
bệnh bảo hiểm y tế để giảm phiền hà cho các đối tượng có bảo hiểm y tế HYT
khi đến khám. Thời gian tới bệnh viện cần tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
3.2.5- Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất
Việc đạt được hiệu quả khám chữa bệnh không chỉ do trình độ của y,
bác sỹ mà cũng do thiết bị, máy móc. Đầu tư trang thiết bị, tạo điều kiện
thuận lợi cho cán bộ nhân viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, từng
bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ nhân dân.
Việc trang thiết bị được đầu tư hiện đại và đồng bộ sẽ giúp cho quá
trình chẩn đoán và can thiệp được chính xác.
3.2.6. Tăng cường sinh hoạt chuyên môn, hội thảo
Khoa cũng cần tăng cường các buổi hội thảo sinh hoạt chuyên môn để
các y bác sĩ trao đổi thảo luận các ca bệnh khó. Tích cực mời các chuyên gia
đầu ngành về giảng dạy chuyên môn tại Khoa để các cán bộ có cơ hội được
tiếp cận với nhưng kiến thức và chuyên môn cao.
Thông qua các buổi hội thảo thì sẽ thấy được các vấn đề về rèn luyện
tay nghề, nâng cao y đức của cán bộ y tế tại các đơn vị; tích cực rèn luyện
chuyên môn nghiệp vụ vì sức khỏe cộng đồng; sự quan tâm của cấp ủy đảng,
chính quyền đơn vị về giáo dục y đức, đào tạo nâng cao tay nghề cho đội ngũ
bác sĩ, dược sĩ trẻ ngày nay…Từ đó chỉ ra được những yếu kém, cũng như sự
thiếu chuyên nghiệp trong công tác chuyên môn nghiệp vụ của mỗi đơn vị, đề
xuất những giải pháp nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp của đơn vị.
23
3.3. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
3.3.1. Đối với Bộ y tế
nhân ngày càng gần gũi và có trách nhiệm hơn, đảm bảo đời sống cán bộ,
nhân viên ổn định và từng bước đi lên. Khoa Tim mạch đã trở thành một địa
chỉ tin cậy về chăm sóc sức khỏe tim mạch cho nhân dân tỉnh Bắc Ninh, là
chỗ dựa vững chắc của công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Xét một cách toàn diện, chất lượng khám, chữa bệnh tại Khoa Tim
Mạch – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh tuy đã có nhiều chuyển biến tích
cực song so với yêu cầu đặt ra vẫn còn những hạn chế. Năng lực khám chữa
bệnh của Khoa Tim mạch với nhu cầu xã hội còn chưa cao, nhất là trong việc
chẩn đoán, điều trị và khai thác sử dụng các thiết bị hiện đại; các biện pháp tự
đào tạo còn ít được thực hiện hoặc hiệu quả thấp, dẫn đến chất lượng khám
chữa bệnh chậm chuyển biến so với yêu cầu; việc thực hiện các quy chế
chuyên môn một số mặt chưa chặt chẽ, chưa thường xuyên. Để thực hiện tốt
nhiệm vụ các năm tiếp theo thì Khoa cùng với lãnh đạo bệnh viện đánh giá cơ sở
vật chất, trang thiết bị hiện có, ùng trao đổi với các cán bộ làm việc tại khoa
nhằm tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi trong quá trình hoạt động cũng như
các biện pháp khắc phục.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do khả năng và kinh nghiệm nghiên
cứu còn nhiều hạn chế, tiểu luận không tránh khỏi có những sai sót, rất mong
sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn để tiểu luận
của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
25