Công tác quản lý hoạt động đầu tư của Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Lạng Sơn Thực trạng và giải pháp - Pdf 91

LỜI MỞ ĐẦU
Lạng Sơn là tỉnh nằm ở cửa ngõ phía đông bắc của Tổ quốc, điểm đầu của
con đường huyết mạch ( quốc lộ 1A) nối Việt Nam với nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa và từ đó đến với các nước châu Âu, đồng thời cũng là con đường quan
trọng nối Trung Quốc với các nước ASEAN. Với vị trí địa lý thuận lợi về kinh tế và
vô cùng quan trọng về an ninh - quốc phòng, Lạng Sơn trở thành đầu mối quan trọng
trong giao lưu kinh tế, văn hoá – xã hội và hợp tác kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó,
Lạng Sơn tự hào có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, nhiều địa danh đã đi vào
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, có truyền thống văn hoá mang đậm bản
sắc của dân tộc.
Trong mấy năm vừa qua bằng quyết tâm của mình, nhân dân các dân tộc
Lạng Sơn đã vượt qua được những chặng đường khó khăn, thách thức đã tạo được
những chuyển biến vượt bậc đưa nền kinh tế - xã hội phát triển giữ vững ổn định an
ninh chính trị; từng bước chuyển dịch nền kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển lĩnh
vực thương mại dụch vụ, chú trọng đầu tư phát triển các ngành công nghiệp nhất là
công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, hoạt động đầu tư ngày càng phát triển
tạo ra môi trường đầu tư công khai và minh bạch, ngày càng thu hút được nhà đầu
tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài góp phần năng cáo chất lượng đời
sống của ngưòi dân, thúc đẩy nền kinh tế của Tỉnh cũng như của cả nước ngày càng
phát triển lên một tầm cao mới.
Để đạt được những thành tựu ấy, không thể không kể đến vai trò hết sức qua
trọng của Sở Kế hoạch và đầu tư. Nhằm xem xét và đánh giá công tác quản lý hoạt
động đầu tư của Sở kế hoạch và đầu tư Tỉnh lạng sơn, em đã nghiên cứu và viết đề
tài “ Công tác quản lý hoạt động đầu tư của Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Lạng
Sơn: Thực trạng và giải pháp”. Đề tài đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
như: Phương pháp thu thập và phân tích số liệu, phương pháp xử lý số liệu thứ cấp
và phương pháp so sánh. Kết cấu đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm ba
chương sau:
Chương I: khái quát về hoạt động quản lý đầu tư. Chương này nhằm nêu
khái niệm, nội dung, phương pháp và công cụ quản lý đầu tư.
Chương II:: Thực trạngcông tác quản lý đầu tư tỉnh Lạng Sơn giai đoạn

lực, vật lực của ngành, địa phương và xã hội. Đầu tư và sử dụng nhiều loại nguồn
vốn trong và ngoài nước, vốn nhà nước và tư nhân, vốn bằng tiền và hiện vật… quản
lý đầu tư là nhằm sử dụng hợp lý, tiết kiệm và khai thác có hiệu quả từng loại nguồn
vốn tài nguyên thiên nhiên đất đai, lao động và các tiềm năng khác. Đồng thời, quản
lý đầu tư gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái chống lại mọi hành vi tham ô lãng
phí trong sử dụng vốn đầu tư và khai thác các kết quả đầu tư.
- Thực hiện đúng những quy định pháp luật và yêu cầu kinh tế - kỹ thuật trong
lĩnh vực đầu tư: quản lý vĩ mô đối với hoạt động đầu tư nhằm đảm bảo cho quá trình
thực hiện đầu tư, xây dựng công trình theo đúng thiết kế được duyệt đảm bảo sự bền
vững và mỹ quan, áp dụng công nghệ tiên tiến đảm bảo chất lượng và thời hạn xây
dựng với chi phí hợp lý.
Mục tiêu quản lý đầu tư của từng cơ sở
Mục tiêu quản lý đầu tư ở từng cơ sở là nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu
hoạt động, chiến lược của đơn vị mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, nâng cao năng
xuất lao động, đổi mới công nghệ và tiết kiệm chi phí…
Mục tiêu quản lý đối với từng dự án
Đối với từng dự án đầu tư, quản lý đầu tư là nhằm thực hiện đúng mục tiêu
của dự án, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của đầu tư trên cơ sở thực hiện đúng tiến
độ thời gian đã định, trong phạm vi chi phí được duyệt với tiêu chuẩn hoàn thiện cao
nhất.
3. Các nguyên tắc quản lý hoạt động đầu tư
Nguyên tắc quản lý hoạt động đầu tư tuân theo những nguyên tắc của quản lý
kinh tế nói chung và được vận dụng với quản lý đầu tư ở tầm vĩ mô và vi mô. Dưới
đây trình bày một số nguyên tắc chính :
Thống nhất chính trị và kinh tế, kết hợp hài hòa giữa hai mặt kinh tế và xã hội
Thống nhất chính trị và kinh tế, kết hợp giữa kinh tế và xã hội là một đòi hỏi
khách quan vì kinh tế quyết định chính trị và chính trị là biểu hiện tập trung của kinh
tế, có tác trở lại đối với sự phát triển của kinh tế.
Trên giác độ quản lý vĩ mô hoạt động đầu tư, nguyên tắc “Thống nhất giữa

Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ
Chuyên môn hóa theo ngành và phân bố sản xuất theo vùng lãnh thổ là yêu
cầu khách quan của nguyên tắc quản lý đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ. Đầu tư là
một cơ sở quản lý kinh tế kỹ thuật của cả cơ quan chủ quản (ngành) và của cả địa
phương. Các cơ quan bộ và ngành hay kỹ thuật của ngành hay tổng cục của Trung
ương chịu trách nhiệm quản lý chủ yếu những vấn đề kỹ thuật của ngành mình cũng
như quản lý của nhà nước về mặt kinh tế đối với hoạt động đầu tư thuộc ngành theo
sự phân công và phân cấp của nhà nước. Mặt khác các cơ quan địa phương chịu
trách nhiệm quản lý về mặt hành chính và xã hội cũng như thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về kinh tế đối với các hoạt động đầu tư diễn ra ở địa phương theo mức
độ được nhà nước phân cấp.
Trong hoạt động đầu tư, để thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành
và lãnh thổ phải giải quyết hàng loạt như: xây dựng các kế hoạch quy hoạch và định
hướng, xác định cơ cấu đầu tư hợp lý theo ngành và vùng lãnh thổ, giữa các hoạt
động đầu tư của các bộ, ngành và địa phương… việc kết hợp quản lý đầu tư theo địa
phương và ngành cho phép tiết kiệm hợp lý chi phí vận chuyển góp phần năng cao
hiệu quả đầu tư xã hội.
Kết hợp hài hòa giữa các lợi ích trong đầu tư
Đầu tư tạo ra lợi ích. Có nhiều lợi ích như lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội, lợi
ích nhà nước tập thể và cá nhân, lợi ích trực tiếp và gián tiếp, lợi ích trước mắt và lâu
dài … thực tiễn hoạt động kinh tế cho thấy, lợi ích kinh tế là động lực quan trọng
thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế. Tuy nhiên lợi ích kinh tế của các đối tưọng khác
nhau, vừa có tính thống nhất vừa có mâu thuẫn. Do đó kết hợp hài hòa lợi ích của
mọi đối tượng trong hoạt động kinh tế nói chung, đầu tư nói riêng sẽ tạo động lực và
những điều kiện làm cho nền kinh tế phát triển vững chắc và ổn định
Trên giác độ nền kinh tế, sự kết hợp này được thực hiện thông qua các chương
trình định hướng phát triển kinh – xã hội, chính sách đòn bẩy kinh tế, các chính sách
đối với người lao động …
Trong hoạt động đầu tư, kết hợp hài hòa các lợi ích thể hiện sự kết giữa lợi ích
của xã hội mà đại diện là nhà nước với lợi ích của các cá nhân và tập thể người lao

các dự án ưu tiên.
- Ban hành kịp thời các chính sách chủ trương đầu tư. Nhà nước ban hành các
chính sách, chủ trương quan trọng như chính sách tài chính tiền tệ, tín dụng linh hoạt,
chính sách ưu đãi đầu tư… nhằm cải thiện môi trường và thủ tục đầu tư; Nhà nước đề
ra các giải pháp nhằm huy động tối đa và pháp huy có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu
tư đặc biệt vốn trong dân và vốn đầu tư nước ngoài; trên cơ sở đó phân tích đánh giá
hiệu quả của hoạt động đầu tư, kịp thời điều chỉnh bổ sung những bất hợp lý, chưa
phù hợp trong cơ chế, chính sách.
- Ban hành các biện pháp - kỹ thuật, các chuẩn mực đầu tư. Nhà nước mà đại
diện là ngành thống nhất quản lý các định mức kinh tế - kỹ thuật liên quan đến ngành
mình như ban hành những quy định về yêu cầu thiết kế thi công, tiêu chuẩn chất
lượng môi trường…
- Xây dựng chính sách cán bộ thuộc lĩnh vực đầu tư. Nhà nước xây dựng
chính sách cán bộ, đào tạo huấn luyện đội ngũ cán bộ chuyên môn chuyên sâu cho
từng lĩnh vực của hoạt đông đầu tư.
- Đề ra chủ chương và chính sách hợp tác đầu tư với nước ngoài để chuẩn bị
các nguồn lực tài chính, vật chất và nhân lực để hợp tác có hiệu quả cao.
- Thực hiện chức năng kiểm tra giám sát. Các cơ quan quản lý nhà nước thực
hiện chức năng quản lý việc tuân thủ pháp luật của các chủ đầu tư , xử lý những vi
phạm pháp luật, quy định của nhà nước cam kết của chủ đầu tư ( như chuyển
nhượng, bổ sung hoạt động tăng vốn để đầu tư chiều sâu, gia hạn thời gian hoạt động
giải thể … )
- Quản lý trực tiếp nguồn vốn nhà nước. Nhà nước đề ra các giải pháp để quản
lý và sử dụng nguồn vốn nhà nước từ khâu xác định chủ trương đầu tư. Phân phối
vốn đến việc thi công xây dựng và vận hành công trình. Đối với các dự án đầu tư
nhóm A sử dụng vốn ngân sách nhà nước thủ tướng chính phủ ra quyết định đầu tư
hoặc ủy quyền quyền quyết định đầu tư, thẩm định dự án.
1.2 Nội dung quản lý đầu tư bộ ngành và địa phương
- Các Bộ, Ngành, địa phương xây dựng chiến lược, quy hoạch đầu tư cho Bộ,
Ngành và địa phương mình.

Phương pháp hành chính là phương pháp quản lý được sử dụng cả trong lĩnh
vực xã hội và kinh tế. Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của
chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng những văn bản, chỉ thị, những quy định
về tổ chức…
Phương pháp hành chính trong quản lý được thể hiện ở hai mặt: Mặt tĩnh và
mặt động
- Mặt tĩnh thể hiện ở những tác động có tính ổn định về mặt tổ chức thông qua
việc thể chế hóa tổ chức ( gồm cơ cấu tổ chức va chức năng quản lý) và tiêu chuẩn
hóa tổ chức(định hướng và tiêu chuẩn tổ chức)
- Mặt động của phương pháp là sự tác động thông qua quá trình điều khiển tức
thời khi xuất hiện những vấn đề cần giả quyết trong quá trình quản lý. Phương pháp
hành chính có ưu điểm là giải quyết trực tiếp và nhanh chóng những vấn đề cụ thể,
nhưng cũng đẫn đến tình trạng quan liêu máy móc, bộ máy hành chính cồng kềnh và
độc đoán.
2.3 Phương pháp giáo dục
Theo lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vật chất quyết định ý thức
nhưng ý thức lại tác động tích cực hay tiêu cực trở lại đối với vật chất.
Trong quản lý, con người là đối tượng trung tâm. Các hành vi kinh tế đều xảy
ra dưới tác động của con người với động cơ là lợi ích vật chất và tinh thần khác nhau,
với mức độ giác ngộ, trách nhiệm công đân và ý thức dân tộc không giống nhau, với
những quan điểm nghề nghiệp và trình độ kiến thức quản lý kinh tế cũng khác nhau.
Do đó, để đạt mục tiêu và yêu cầu quản lý, phương pháp giáo dục cần được
coi trọng. Phải giáo dục, hướng các cá nhân phát triển theo hướng có lợi cho sự phát
triển chung của toàn xã hội. Ngoài ra, phương pháp giáo dục trong hệ thống các
phương pháp giáo dục trong hệ thống các phuơng pháp quản lý nền kinh tế thị trưòng
XHCN còn nhằm mục đích xây dựng con người mới XHCN Việt Nam.
Nội dung các phương pháp giáo dục trong quản lý bao gồm giáo dục về thái
độ đối với lao động, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, khuyến khích
phát huy sáng kiến, giữ gìn uy tín đối với chủ đầu tư, khách hàng và người tiêu
dùng

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA SỞ
KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
I. Tình hình hoạt động đầu tư của tỉnh Lạng Sơn
1. Giới thiệu tổng quan điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội tỉnh lạng sơn
1.1.Về vị trí địa lý
Lạng Sơn nằm ở điểm nút giao lưu kinh tế quan trọng với các điểm phía tây là
Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái nguyên. Phía đông là Quảng Ninh, Hải Phòng. Phía nam là
Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội. Phía bắc tiếp giáp với khu tự trị dân tộc Choang,
Quảng Tây, Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị,
đường sắt Đồng Đăng, 2 cửa khẩu quốc gia là Bình Nghi và Chi Ma và 7 điểm chợ
biên giới. Tại hầu hết các khu vực cửa khẩu đã được đầu tư cơ sở hạ tầng thuận lợi
cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa và xuất nhập cảnh khách du lịch. Tỉnh Lạng Sơn
có hệ thống giao thông rất thuận lợi, có các đường quốc lộ đi qua là 1A, 1B, 4A, 4B,
3B, 279 và đường sắt liên vận quốc tế nối các nước Đông, Bắc Âu- Trung Quốc- Việt
Nam- các nước ASEAN. Theo quy hoạch phát triển tuyến hành lang kinh tế: Lạng
Sơn- Hải Phòng- Quảng Ninh, Lạng sơn là trung tâm đầu mối của tuyến hành lang
kinh tế và trong tương lai sẽ là một đỉnh của tứ giác phát triển trọng điểm vùng Bắc
bộ là: Lạng Sơn- Hải Phòng- Quảng Ninh.
Với vị trí đặc biệt thuận lợi, để phát huy lợi thế so sánh trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế, ngày 14/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số
138/2008/QĐ-TTg về việc thành lập và ban hành quy chế hoạt động của khu kinh tế
cửa khẩu Đồng Đăng- Lạng Sơn với các chính sách đầu tư rộng mở, cơ chế quản lý
đặc thù sẽ là nhân tố đột phá thúc đẩy kinh tế Lạng Sơn phát triển.
1.2. Về phát triển kinh tế
Phát triển nông lâm nghiệp
Tiềm năng đất đai của Lạng Sơn còn rất lớn, Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
là 883.124 ha, trong đó đất có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp là 717.202 ha,
chiếm 86%; cơ cấu đất nông lâm nghiệp như sau:
- Đất nông lâm nghiệp đang sử dụng: 68.958 ha
- Đất rừng tự nhiên: 199.236 ha

ha, khu công nghiệp Na Dương quy mô 350 ha, cụm công nghiệp Hợp Thành trên
200 ha, khu gia công Khơ Đa – Ma Mèo quy mô 150 ha, cụm công nghiệp Hữu Lũng
quy mô trên 300 ha. Quy đất dàn cho phát triển các khu cụm công nghiệp đạt 1.500
ha trở lên . Hiện nay khu công nghiệp Đồng Bành đã có quyết định thành lập và hoàn
thành quy hoạch chi tiết, đang thực hiên vận động dự án đầu tư, cụm công nghiệp
Hợp Thành và cụm công nghiệp Hữu Lũng đã hoàn thành quy hoạch chi tiết, các khu
cụm công nghiệp khác đang xây dựng quy hoạch. Các ngành nghề ưu tiên khuyến
khích đầu tư gia công, tái chế hàng nhập khẩu; công nghiệp cơ khí, điện tử; khai thác,
chế biến khoáng sản; sản xuất vật liệu xây dựng; thủy điện; nhiệt điện …
Phát triển dịch vụ
Tỉnh Lạng Sơn là tỉnh biên giới có nhiều cửa khẩu , là vùng đất có nhiều di chỉ
văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc như: di chỉ văn hóa Bắc Sơn, di chỉ văn hóa Mai Pha,
các làn điệu dân ca như: Then, Lượn, Sli..., có các danh lam thắng cảnh như: động
Tam Thanh, Nhị Thanh, Thành Nhà Mạc, Núi Tô Thị, Giếng Tiên, các di tích lịch sử
như: Chi Lăng, Bắc Sơn, Đường 4…Những đặc điểm trên đã tạo lợi thế về phát triển
du lịch.
Trên thực tế lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh hàng
năm đạt mức tăng trưởng trung bình trên 20%. Các loại dịch vụ phát triển nhanh như
viễn thông , tài chính tín dụng ngân hàng. Trên địa bàn tỉnh hệ thống chợ và hệ thống
bán lẻ tương đối phát triển gồm các chợ đầu mối và các chợ cửa khẩu; hiện có một số
trung tâm thương mại đang triển khai như: Trung tâm phân phối, bán sỉ và kho vận
tải tại thành phố Lạng Sơn với quy mô trên 11ha; 02 khách sạn 5 sao và 01 sân golf
18 lỗ …các tuyến du lịch hoạt động khá sôi động như : Lạng sơn- Hà Nội- Hải
Phòng- Quảng Ninh và ngược lại; Hà Nội- Lạng Sơn- Bằng Tường, Côn Minh, Bắc
Hải, Quảng Châu …( Trung Quốc); mấy năm gần đây trung bình Lạng sơn đón 1,0
triệu lượt khách và đạt tốc dộ tăng trưởng trên 18%.
Trong thời gian tới tỉnh sẽ đặc biệt ưu tiên phát triển lĩnh vực dịch vụ . Trong
triển khai thực hiện xây dựng khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng- Lạng Sơn, sẽ chú
trọng thu hút đầu tư và hình thành các khu, trung tâm trung chuyển hàng hóa lớn
( gắn với khu phi thuế quan), làm cầu nối giữa Trung Quốc- Việt Namvà các nước

Bảng 1 : Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh giai đoạn (2001- 2009)
Năm Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
TổngVĐT Tỷ đồng
1381 1744 2023 2256 1766 1953 2860 3830 4750
Tốc độ tăng
VĐT định gốc
%
26.29 16.00 11.52 -21.72 10.59 46.44 33.92 24,02
Tốc độ tăng vốn
đầu tư định gốc
%
26.29 46.49 63.63 27.88 41.42 107.1 177.3 243,95
Nguồn: UBND tỉnh Lạng Sơn – Báo cáo tình hình đầu tư xã hội và đầu tư từ
Nhà nước giai đoạn 2001-2009 và định hướng đầu tư trong giai đoạn tới
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh có sự biến động qua các năm,
nhìn chung là năm sau cao hơn năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển của Lạng Sơn
giai đoạn 2001-2009 đạt 22.563 tỷ đổng. Vốn đầu tư qua các năm có sự gia tăng
không đồng đều. Nếu năm 2001 vốn đầu tư đạt 1.381 tỷ đồng thì năm 2002 tăng gấp
1,26 lần, năm 2003 tăng gấp 1,16 lần năm 2002, năm 2004 tiếp tục tăng và gấp 1,11
lần năm 2003, như vậy từ năm 2001 đến năm 2004 vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh liên
tục gia tăng về giá trị tuyệt đối nhưng tỉ lệ gia tăng có xu hướng giảm dần. Đến năm
2005, vốn đầu tư sụt giảm khá nhiều, chỉ bằng 78,7% so với năm 2004. Nguyên nhân
là do trong năm này tỉnh tập trung ưu tiên giải quyết nợ xây dựng cơ bản tồn đọng từ
những năm trước do đầu tư dàn trải lên đến 347,21 tỷ đồng tính đến hết năm 2005
( từ năm 2004 trở về trước là 220,5 tỷ đồng ). Năm 2005 cũng là năm mà Chính phủ
lựa chọn là năm điểm để đấu tranh khắc phục thất thoát và đầu tư dàn trải và kiên
quyết giải quyết tình trạng nợ đọng trong xây dựng đồng thời các địa phương từ năm
2004 trở đi phải dùng một phần ngân sách địa phương được cấp để giải quyết nợ
đọng xây dựng từ những năm trước. Trong những năm tiếp theo ( từ năm 2006 đến
năm 2009 ), tỉnh tiếp tục giành một phần vốn trong kế hoạch mỗi năm để thanh toán

gồm 3 nguồn chủ yếu là : nguồn trong tỉnh, nguồn ngoài tỉnh và nguồn nước ngoài.
Trong giai đoạn 2001-2009, tổng vốn đầu tư huy động được trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn là 22.563 tỷ đồng ( bình quân mỗi năm huy động được khoảng 2.507 tỷ đồng ).
Để xét cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn trong giai đoạn này ta chia vốn đầu tư thành
những nguồn cơ bản sau đây:
- Vốn ngân sách Nhà nước
- Vốn doanh nghiệp Nhà nước
- Vốn doanh nghiệp và của dân
- Vốn nước ngoài
Bảng 2: Vốn đầu tư xã hội theo nguồn
( Đơn vị : tỷ đồng)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng cộng 1381 1744 2023 2256 1766 1953 2861 3830 4750
Vốn ngân sách nhà
nước
719 732 581 608 738 564 902 1119 1182
Vốn tín dụng đầu tư
phát triển nhà nước
42 280 665 820 70 265 365 285 131
Vốn doanh nghiệp
nhà nước
28 31 38 40 38 59 40 390 512
Vốn doanh nghiệp và
của dân
550 580 610 650 680 865 1326 1669 2351
Vốn nước ngoài 42 121 129 138 240 200 228 367 574
Bảng 3: Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn
(Đơn vị:%)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng cộng 100 100 100 100 101 100 100 100 100

được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật từng bước được củng
cố và hoàn thiện, góp phần phục vụ phát triển kinh tế xã hội , cải thiện và nâng cao
đời sống vật chất , tinh thần của nhân dân.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước:Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà
nước chiếm tỷ lệ tương đối thấp trong tổng nguồn vốn đầu tư và có xu hướng gia
tăng không đều, có năm ở mức thấp như năm 2001 là 3%, có năm lại lên khá cao như
năm 2004 chiếm 36% tổng đầu tư toàn xã hội.Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà
nước được tỉnh dùng để hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển các thành phần kinh tế
thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác dụng trực
tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. trong
thời gian gần đây nguồn vốn này được tỉnh tập trung đầu tư vào lĩnh vực Nông –
Lâm nghiệp.
Vốn Doanh nghiệp nhà nước: là thành phần kinh tế quan trọng , giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế. Nguồn vốn doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh. Xét
từ năm 2001 đến năm 2007 hầu như không biến động nhiều trong cơ cấu vốn đầu tư,
và con số tuyệt đối thì vẫn tăng qua các năm. Nhưng đến năm 2009 thì vốn DNNN
lại tăng đột biến cả về số tuyệt đối và tỉ lệ trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội ( 512
tỷ và chiếm 11% tổng vốn đầu tư ).
Vốn của khu vực dân cư và các thành phần kinh tế khác : bao gồm phần tiết
kiệm của dân cư, phần tiết kiệm của khu vực dân doanh, các hợp tác xã… đây là một
nguồn vốn quan trọng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn đầu tư của toàn tỉnh. Vốn
đầu tư của các doanh nghiệp và trong dân cư là nguồn vốn chiếm tỷ trọng hàng đầu
trong tổng vốn đầu tư lại có xu hướng tăng dần qua các năm ( cả về số tuyệt đối và tỷ
trọng ) và có xu hướng ngày càng chiếm đa số trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của
tỉnh, nếu năm 2001 là 550 tỷ đồng thì đến năm 2009 con số này là 2.351 tỷ đồng ( tức
là gấp 3 lần ). Trong những năm vừa qua nguồn vốn của dân cư và các thành phần
kinh tế khác chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như công nghiệp, thương mại dịch
vụ, khoai thác khoáng sản, trồng rừng…Đặc biệt trong giai đoạn 2007- 2009, khu
vực doanh nghiệp của tỉnh đã mạnh dạn đầu tư vào các dự án hạ tầng đô thị, trung
tâm thượng mại, trồng rừng, khai khoáng thủy điện

thống thủy lợi, thực hiện các chương trình y tế như cung cấp một số trang thiết bị cho
tuyến y tế cấp thôn, xã phường, cho vay tín dụng thông qua Hội phụ nữ quản lý, bảo
vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, kế hoạch hóa gia đình, hướng nghiệp cho
thanh niên…
Tuy nhiên vốn nước ngoài còn chiếm một tỷ lệ khá nhỏ trong cơ cấu vốn đầu
tư ở Lạng Sơn, năm cao nhất là năm 2005 chiếm 14% còn năm thấp nhất là năm 2001
với 3%. Trong những năm gần đây, với nỗ lực của tỉnh con số này có xu hướng tăng
lên, như trong năm 2009 đã tăng cả về tỷ trọng lẫn số tuyệt đối, đây là một tín hiệu
đáng mừng trong việc huy động vốn phục vụ đầu tư phát triển của tỉnh.
2.3 Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành, lĩnh vực
Bảng 4 : Vốn đầu tư toàn xã hội của Lạng Sơn phân theo ngành, lĩnh
vực giai đoạn 2001-2009 ( Đơn vị: Tỷ đồng)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Nông -lâm nghiệp 66 74 79 89 93 109 112 120 130
Công nghiệp và
xây dựng
282 355 1248 685 441 484 776 1350 1872
Dịch vụ- du lịch 1033 1315 696 1482 1232 1360 1972 2360 2748
Tổng VĐT xã hội 1381 1744 2023 2256 1766 1953 2860 3830 4750
Nguồn: Niên giám thống kê Lạng Sơn
Bảng 5: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội của Lạng Sơn phân theo ngành,
lĩnh vực giai đoạn 2001-2009
(Đơn vị: %)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Nông- Lâm
nghiệp
4,78 4,42 3,91 3,95 5,27 5,58 3,92 3,13 2,74
Công nghiệp
và xây dựng
20,42 20,36 61,69 30,36 24,97 24,78 27,13 35,25 39,41

Tốc độ tăng cao nhất thuộc về khu vực Công nghiệp và xây dựng trung bình
tăng 45,6%/năm. Có thể nói giai đoạn 2001-2009 là giai đoạn mà Lạng Sơn đầu tư
nhiều vào xây dựng kết cấu hạ tầng và một số nhà máy công nghiệp. Năm 2003,
lượng vốn đầu tư vào khu vực này tăng đột biến lên đến 251,55 % tuy nhiên tổng
vốn đầu tư toàn xã hội lại không tăng mạnh do đó kéo theo sự sụt giảm của vốn đầu
tư vào khu vực dịch vụ. Đứng thứ hai là khu vực Dịch vụ - du lịch với 18,92%/năm,
đây đồng thời cũng là khu vực chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu vốn đầu tư của
tỉnh. Cuối cùng là khu vực Nông – lâm ngư nghiệp với 7,9%/năm.
Với sự gia tăng của quy mô vốn đầu tư trong giai đoạn ( 2001- 2009), đặc biệt
với sự gia tăng của nguồn vốn khu vực doanh nghiệp và dân cư, vốn đầu tư nước
ngoài. Và sự chuyển biến tích cực nguồn vốn đầu tư đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp,
thương mại dịch vụ của Lạng Sơn trong thời gian vừa qua cho ta thấy hoạt động đầu tư
của Lạng Sơn ngày càng sôi động hơn, thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư trong
và ngoài nước. Đặc biệt với sự nỗ lực của UBND tỉnh Lạng Sơn trong việc xây dựng
các chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư, trong tương lai Lạng
Sơn sẽ là một miền đất hứa đối với nhà đầu tư trong và ngoài nước.
II. Tổng quan về Sở Kế hoạch và Đầu tư Lạng Sơn
1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 31-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nuớc
Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra sắc lệnh số 78-SL thành lập Uỷ ban nghiên cứu kế
hoạch kiến thiết, nhằm nghiên cứu soạn thảo một kế hoạch kiến thiết quốc gia về các
ngành kinh tế, tài chính, xã hội, văn hoá trình Chính phủ. Cùng với sự ra đời ngành
kế hoạch của cả nước, Ban Kế hoạch tỉnh Lạng Sơn cũng được thành lập do một
đồng chí Uỷ viên thuờng trực Uỷ ban nhân dân tỉnh phụ trách, với số lượng ban đầu
có một ít cán bộ nhân viên được điều động ở các ngành về. Ban Kế hoạch được giao
nhiệm vụ xây dựng kế hoạch 3 năm phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
(1955-1957), trong đó tập trung vào kế hoạch phục hồi, củng cố và phát triển nông
nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, văn hoá, giáo dục, y tế, ... vừa củng cố lực
lượng, vừa xây dựng kế hoạnh, đồng thời tiến hành kiểm tra, đôn đốc các đơn vị cơ
sở triển khai thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu đề ra.

nhận các mặt hàng viện trợ phục vụ cho hậu phương và tiền tuyến qua Lạng Sơn,
đảm bảo xây dựng hậu phương vững mạnh về kinh tế để phục vụ tốt cho công tác
quốc phòng.
Kế hoạch 2 năm (1966-1967) đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua với
mục tiêu: Tập trung lực lượng, ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, đảm bảo
lương thực cung cấp đầy đủ cho nhân dân địa phương và có dự trữ phục vụ chiến đấu
chống lại chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ Tập trung xây dựng kế hoạch tổ chức và
cải tiến hợp tác xã, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, mà mũi nhọn hàng
đầu là công tác thuỷ lợi, kế hoạch cung ứng phân bón, giống lúa, ngô, kể cả việc đẩy
mạnh phát tiển lâm nghiệp, trồng rừng, bảo vệ rừng,...
Trong lúc cả nước đang đấu tranh thực hiện kế hoạch khôi phục và phát triển
sau chiến tranh, xây dựng lại đất nước, thì tháng 2/1979 chiến tranh biên giới phía
Bắc xảy ra. Công tác kế hoạch lúc này phải tập trung xây dựng phương án chuyển từ
thời bình sang thời chiến. Nhanh chóng bảo đảm các điều kiện cho việc xây dựng các
cơ sở hạ tầng ở địa phương, bảo đảm an toàn cho nhân dân vùng sát biên giới sơ tán,
bảo đảm các chỉ tiêu cung cấp vật tư, thiết bị,... cho việc xây dựng cơ sở vật chất ở
hậu cứ và bảo đảm cho các lực lượng chiến đấu. Cuộc chiến tranh biên giới tuy diễn
ra trong thời gian ngắn, nhưng toàn bộ cơ sở vật chất như: trường học, bệnh viện, kho
tàng, các công trình cầu đường giao thông, thuỷ lợi, các cơ quan, nhà dân bị tàn phá
nặng nề. Công tác kế hoạch thời kỳ này là tập trung xây dựng lại các cơ sở vật chất
phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và hoạt động trở lại của các cơ quan, đồng thời sẵn
sàng đối phó với các tình huống xấu nhất có thể xảy ra, chỉ trong một thời gian ngắn
các công trình cơ sở hạ tầng và hoạt động của các cơ quan, nhân dân đã được khôi
phục.
Kế hoạch 5 năm (1981- 1985), Uỷ ban kế hoạch tỉnh đã thành lập trung tâm
xây dựng theo hướng cải tiến và phân phối thu nhập quốc dân trên cơ sở hài hoà giữa
3 lợi ích: Nhà nước, tập thể và người lao động. Nhiệm vụ công tác kế hoạch lúc này
là phải tiến hành đổi mới từng bước theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, giao
quyền tự chủ cho doanh nghiệp, không can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh,
tạo hành lang pháp lý và cân đối những yếu tố chủ chốt, xây dựng các chỉ tiêu hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status