Công tác quản lý hoạt động đầu tư của Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Lạng Sơn Thực trạng và giải pháp - Pdf 12

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Lạng Sơn là tỉnh nằm ở cửa ngõ phía đông bắc của Tổ quốc, điểm đầu của
con đường huyết mạch ( quốc lộ 1A) nối Việt Nam với nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa và từ đó đến với các nước châu Âu, đồng thời cũng là con đường quan
trọng nối Trung Quốc với các nước ASEAN. Với vị trí địa lý thuận lợi về kinh tế và
vô cùng quan trọng về an ninh - quốc phòng, Lạng Sơn trở thành đầu mối quan trọng
trong giao lưu kinh tế, văn hoá – xã hội và hợp tác kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó,
Lạng Sơn tự hào có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, nhiều địa danh đã đi vào
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, có truyền thống văn hoá mang đậm bản
sắc của dân tộc.
Trong mấy năm vừa qua bằng quyết tâm của mình, nhân dân các dân tộc
Lạng Sơn đã vượt qua được những chặng đường khó khăn, thách thức đã tạo được
những chuyển biến vượt bậc đưa nền kinh tế - xã hội phát triển giữ vững ổn định an
ninh chính trị; từng bước chuyển dịch nền kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển lĩnh
vực thương mại dụch vụ, chú trọng đầu tư phát triển các ngành công nghiệp nhất là
công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, hoạt động đầu tư ngày càng phát triển
tạo ra môi trường đầu tư công khai và minh bạch, ngày càng thu hút được nhà đầu
tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài góp phần năng cáo chất lượng đời
sống của ngưòi dân, thúc đẩy nền kinh tế của Tỉnh cũng như của cả nước ngày càng
phát triển lên một tầm cao mới.
Để đạt được những thành tựu ấy, không thể không kể đến vai trò hết sức qua
trọng của Sở Kế hoạch và đầu tư. Nhằm xem xét và đánh giá công tác quản lý hoạt
động đầu tư của Sở kế hoạch và đầu tư Tỉnh lạng sơn, em đã nghiên cứu và viết đề
tài “ Công tác quản lý hoạt động đầu tư của Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Lạng Sơn:
Thực trạng và giải pháp”. Đề tài đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp thu thập và phân tích số liệu, phương pháp xử lý số liệu thứ cấp và
phương pháp so sánh. Kết cấu đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm ba chương
sau:
Chương I: khái quát về hoạt động quản lý đầu tư. Chương này nhằm nêu
khái niệm, nội dung, phương pháp và công cụ quản lý đầu tư.

I. Khái niệm, mục tiêu về nguyên tắc quản lý đầu tư
1. Khái niệm quản lý đầu tư
Đầu tư là hoạt động có tính liên ngành. Quản lý đầu tư là công tác phức tạp
nhưng là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Quản lý theo nghĩa
chung là sự tác động có mục đích của chủ thể vào đối tượng quản lý nhằm đạt được
các mục tiêu quản lý đã đề ra . Quản lý đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức định
hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư ( bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện
đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư) và các yếu tố đầu tư,bằng một hệ thống đồng
bộ các biện pháp kinh tế - xã hội, các tổ chức kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm
đạt được kết quả và hiệu quả đầu tư cao nhất , trong điều kiện cụ thể xác định và trên
cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan và những quy luật đặc thù của
đầu tư.
2. Mục tiêu của quản lý đầu tư.
Mục tiêu của quản lý đầu tư trên giác độ vĩ mô
Trên giác độ vĩ mô, quản lý đầu tư nhằm đáp ứng những mục tiêu sau:
- Thực hiện thành công mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội từng
thời kỳ của quốc gia, từng ngành và từng địa phương. Đối với nước ta trong thời kì
hiện nay đầu tư nhằm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng
xã hội chủ nghĩa chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại
hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sông vật chất, tinh thần của
người lao động như đại hội X đã chỉ ra.
- Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, các nguồn tài
lực, vật lực của ngành, địa phương và xã hội. Đầu tư và sử dụng nhiều loại nguồn
vốn trong và ngoài nước, vốn nhà nước và tư nhân, vốn bằng tiền và hiện vật… quản
lý đầu tư là nhằm sử dụng hợp lý, tiết kiệm và khai thác có hiệu quả từng loại nguồn
vốn tài nguyên thiên nhiên đất đai, lao động và các tiềm năng khác. Đồng thời, quản
lý đầu tư gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái chống lại mọi hành vi tham ô lãng
phí trong sử dụng vốn đầu tư và khai thác các kết quả đầu tư.
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
3

yêu cầu phát huy nội lực và tăng cường hợp tác quốc tế trong đầu tư .
Đối với các cơ sở , nguyên tắc đòi hỏi phỉ đảm bảo quyền lợi cho người lao
động, doanh lợi cho cơ sở, đồng thời phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà
nước và xã hội .
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
4
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tập trung dân chủ
Quản lý hoạt động đầu tư vừa phải đảm bảo nguyên tắc tập trung lại vừa đảm
bảo yêu cầu dân chủ. Nguyên tắc tập trung đòi hòi công tác quản lý đầu tư cần tuân
theo sự lãnh đạo thống nhất từ một trung tâm, đồng thời phát huy cao tính chủ động
sáng tạo của địa phương , các ngành và của các cơ sở. Nguyên tắc tập trung dân chủ
đòi hỏi khi giải quyết bất cứ một vấn đề gì phát sinh trong quản lý đầu tư , một mặt
phải dựa vào ý kiến, nguyện vọng, lực lượng và tinh thần chủ động sáng tạo của các
đối tượng quản lý ( các cơ sở các bộ phận ), mặt khác đòi hỏi phải có một trung tâm
quản lý tập trung thống nhất với mức độ phù hợp để không xảy ra tình trạng vô chủ
trong quản lý nhưng cũng đảm bảo không ôm đồm, quan liêu cửa quyền.
Vấn đề đặt ra là phải xác định rõ nội dung, mức độ và hình thức tập trung và
phân cấp quản lý. Trong nền kinh tế thị trường XHCN nước ta, sự can thiệp của nhà
nuớc nhằm điều chỉnh tính tự phát của thị trường, đảm bảo định hướng XHCN. Nhà
nước tập trung thống nhất quản lý một số lĩnh vực kinh tế then chốt nhằm thực hiện
thắng lợi mục tiêu kinh tế xã hội mà đại hội Đảng X đề ra. Mặt khác, quan tâm đến
lợi ích người lao động là những động lực quan trọng đảm bảo cho sự thành công của
các hoạt động kinh tế xã hội. Trong hoạt động đầu tư, nguyên tắc tập trung dân chủ
được vận dụng hầu hết các khâu công việc, từ lập kế hoạch đến thực hiện kế họạch, ở
việc phân cấp quản lý và phân công trách nhiệm, ở cơ cấu bộ máy tổ chức với chế độ
một thủ trưởng chịu trách nhiệm và sự lãnh đạo tập thể, ở quá trình ra quyết định đầu
tư….
Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ
Chuyên môn hóa theo ngành và phân bố sản xuất theo vùng lãnh thổ là yêu

của xã hội mà đại diện là nhà nước với lợi ích của các cá nhân và tập thể người lao
động, giữa lợi ích của chủ đầu tư, nhà thầu các cơ quan thiết kế, tư vấn dịch vụ đầu
tư và người hưởng lợi. Sự kết hợp này được đảm bằng các chính sách của nhà nước,
sự thỏa thuận theo hợp đồng giữa các đối tượng tham gia quá trình đầu tư cạnh tranh
của thị trường thông qua luật định.Tuy nhiên, đối với một số hoạt động đầu tư và
trong những môi trường nhất định, giữa lợi ích của nhà nước và các thành viên tham
gia có thể mâu thuẫn nhau.Lợi ích của nhà nước bị xâm phạm. Do vậy quản lý nhà
nước cần có những quy chế , biện pháp để ngăn chặn mặt tiêu cực . Tiết kiệm và
hiệu quả
Trong đầu tư tiết kiệm và hiệu quả thể hiện ở chỗ: với một lượng vốn đầu tư
nhất định phải đem hiệu quả kinh tế xã hội đã dự kiến với chi phí đầu tư thấp nhất.
Biểu hiện tập trung của nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý hoạt
động đầu tư của các cơ sở là đạt được lợi nhuận cao, đối với xã hội là gia tăng sản
phẩm quốc nội và giá trị gia tăng, tăng thu nhập cho người lao động và nâng cao chất
lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa, giáo dục và gia tăng phúc
lợi công cộng …
II . Nội dung, phương pháp và công cụ quản lý đầu tư
1. Nội dung quản lý đầu tư
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
6
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1 Nội dung quản lý đầu tư của nhà nước
Nhà nước XHCN thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình trong đó có
việc quản lý hoạt động đầu tư. Nhà nước thống nhất quản lý đầu tư với các nội dung
sau đây :
- Nhà nước xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp và những văn bản dưới
luật liên quan đến hoạt động đầu tư. Nhà nước ban hành, sửa đổi bổ sung Luật Đầu
tư và các luật liên quan như : Luật Thuế, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu … và các văn
bản dưới luật nhằm, một mặt khuyến khích hoạt động đầu tư, mặt khác đảm bảo cho
đầu tư hoạt động đúng luật và đạt hiệu quả cao.

lý và sử dụng nguồn vốn nhà nước từ khâu xác định chủ trương đầu tư. Phân phối
vốn đến việc thi công xây dựng và vận hành công trình. Đối với các dự án đầu tư
nhóm A sử dụng vốn ngân sách nhà nước thủ tướng chính phủ ra quyết định đầu tư
hoặc ủy quyền quyền quyết định đầu tư, thẩm định dự án.
1.2 Nội dung quản lý đầu tư bộ ngành và địa phương
- Các Bộ, Ngành, địa phương xây dựng chiến lược, quy hoạch đầu tư cho Bộ,
Ngành và địa phương mình.
- Xác định danh mục các dự án đầu tư của ngành địa phương
- Xây dựng các kế hoạch huy động vốn.
- Hướng dẫn các nhà đầu tư thuộc ngành, địa phương mình lập dự án tiền khả
thi và khả thi.
- Ban hành những văn bản quản lý thuộc ngành mình địa phương mình liên
quan đến đầu tư.
- Lựa chọn đối tác, đàm phán ký hợp đồng liên doanh liên kết trong hợp tác
đầu tư với nước ngoài .
- Trực tiếp kiểm tra giám sát quá trình hoạt động của các dự án thuộc ngành,
địa phương theo chức năng nhiệm vụ được phân cấp quản lý.
- Hỗ trợ và trực tiếp xử lý những vấn đề pháp sinh trong quá trình đầu tư như
cấp đất, giải phóng mặt bằng, thuê và tuyển dụng lao động, xây dựng công trình …
- Kiến nghị với cấp trên điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung những bất hợp lý trong
cơ chế chính sách, quy định dưới luật …nhằm năng cao hiệu quả quản lý nhà
nước và hiệu quả kinh tế xã hội của đầu tư.
2. Phương pháp quản lý hoạt động đầu tư
Cũng như các hoạt động kinh tế khác, quản lý hoạt động đầu tư cũng bao gồm
các phương pháp như phương pháp kinh tế, giáo dục, hành chính các phương pháp
toán thống kê…
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
8
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1 Phương pháp kinh tế

Trong quản lý, con người là đối tượng trung tâm. Các hành vi kinh tế đều xảy
ra dưới tác động của con người với động cơ là lợi ích vật chất và tinh thần khác nhau,
với mức độ giác ngộ, trách nhiệm công đân và ý thức dân tộc không giống nhau, với
những quan điểm nghề nghiệp và trình độ kiến thức quản lý kinh tế cũng khác nhau.
Do đó, để đạt mục tiêu và yêu cầu quản lý, phương pháp giáo dục cần được
coi trọng. Phải giáo dục, hướng các cá nhân phát triển theo hướng có lợi cho sự phát
triển chung của toàn xã hội. Ngoài ra, phương pháp giáo dục trong hệ thống các
phương pháp giáo dục trong hệ thống các phuơng pháp quản lý nền kinh tế thị trưòng
XHCN còn nhằm mục đích xây dựng con người mới XHCN Việt Nam.
Nội dung các phương pháp giáo dục trong quản lý bao gồm giáo dục về thái
độ đối với lao động, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, khuyến khích
phát huy sáng kiến, giữ gìn uy tín đối với chủ đầu tư, khách hàng và người tiêu
dùng
. Khác với nhiều lĩnh vực khác, những nội dung này đặc biệt quan trọng
trong quản lý đầu tư vì lao động xây dựng có đặc thù là đòi hỏi chuyên môn
cao, đa nghề lại di chuyển thường xuyên theo địa điểm thực hiện dự án và đòi
hỏi tính tự giác cao Giáo dục ý thức và trách nhiệm phải luôn đi đôi với việc
khuyến khích lợi ích vật chất.
3.Các công cụ quản lý hoạt động đầu tư
Có nhiều công cụ quản lý hoạt động đầu tư. Dưới dây là những công cụ quản
lý chủ yếu:
Các quy hoạch tổng thể và chi tiết . Các quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi
tiết của ngành và địa phương về đầu tư và xây dựng là những công cụ quan trọng
được sử dụng để quản lý hoạt động đầu tư.
Các kế hoạch: các kế hoạch định hướng và một số kế hoạch trực tiếp về đầu
tư của ngành và đơn vị.
Hệ thống luật pháp: hệ thống luật pháp liên quan và thường được áp dụng để
quản lý hoạt động đầu tư như: Luật Đầu tư, Luật Công ty, Luật Xây dựng, Luật Đất
đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Lao động, Luật Bảo hiểm, Luật Thuế, Luật Phá
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B

cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa và xuất nhập cảnh khách du lịch. Tỉnh Lạng Sơn
có hệ thống giao thông rất thuận lợi, có các đường quốc lộ đi qua là 1A, 1B, 4A, 4B,
3B, 279 và đường sắt liên vận quốc tế nối các nước Đông, Bắc Âu- Trung Quốc- Việt
Nam- các nước ASEAN. Theo quy hoạch phát triển tuyến hành lang kinh tế: Lạng
Sơn- Hải Phòng- Quảng Ninh, Lạng sơn là trung tâm đầu mối của tuyến hành lang
kinh tế và trong tương lai sẽ là một đỉnh của tứ giác phát triển trọng điểm vùng Bắc
bộ là: Lạng Sơn- Hải Phòng- Quảng Ninh.
Với vị trí đặc biệt thuận lợi, để phát huy lợi thế so sánh trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế, ngày 14/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số
138/2008/QĐ-TTg về việc thành lập và ban hành quy chế hoạt động của khu kinh tế
cửa khẩu Đồng Đăng- Lạng Sơn với các chính sách đầu tư rộng mở, cơ chế quản lý
đặc thù sẽ là nhân tố đột phá thúc đẩy kinh tế Lạng Sơn phát triển.
1.2. Về phát triển kinh tế
Phát triển nông lâm nghiệp
Tiềm năng đất đai của Lạng Sơn còn rất lớn, Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
là 883.124 ha, trong đó đất có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp là 717.202 ha,
chiếm 86%; cơ cấu đất nông lâm nghiệp như sau:
- Đất nông lâm nghiệp đang sử dụng: 68.958 ha
- Đất rừng tự nhiên: 199.236 ha
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
12
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Đất chưa có rừng: 302.057 ha 9 trong đó qy hoạch trông rừng sản xuất
250.000 ha)
Đất đai trên địa bàn chủ yếu là đất Feranit nâu đỏ, hoặc màu vàng phát triển
trên đá vôi và bồn địa phù sa; với đặc điểm của các vùng địa lý thổ nhưỡng đa dạng
nên đất đai Lạng Sơn rất phù hợp với các cây trồng như: Lúa, chè, ngô, thuốc lá, đậu
đỏ các loại, gừng…các cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao
có sản lượng lớn, ổn định như: cây hồng, cây quýt. Thảm thực vật ở Lạng Sơn rất
phong phú về chủng loại có khoảng 65 họ với 297 loài, Trong đó có các loại đặc

Hợp Thành và cụm công nghiệp Hữu Lũng đã hoàn thành quy hoạch chi tiết, các khu
cụm công nghiệp khác đang xây dựng quy hoạch. Các ngành nghề ưu tiên khuyến
khích đầu tư gia công, tái chế hàng nhập khẩu; công nghiệp cơ khí, điện tử; khai thác,
chế biến khoáng sản; sản xuất vật liệu xây dựng; thủy điện; nhiệt điện …
Phát triển dịch vụ
Tỉnh Lạng Sơn là tỉnh biên giới có nhiều cửa khẩu , là vùng đất có nhiều di chỉ
văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc như: di chỉ văn hóa Bắc Sơn, di chỉ văn hóa Mai Pha,
các làn điệu dân ca như: Then, Lượn, Sli..., có các danh lam thắng cảnh như: động
Tam Thanh, Nhị Thanh, Thành Nhà Mạc, Núi Tô Thị, Giếng Tiên, các di tích lịch sử
như: Chi Lăng, Bắc Sơn, Đường 4…Những đặc điểm trên đã tạo lợi thế về phát triển
du lịch.
Trên thực tế lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh hàng
năm đạt mức tăng trưởng trung bình trên 20%. Các loại dịch vụ phát triển nhanh như
viễn thông , tài chính tín dụng ngân hàng. Trên địa bàn tỉnh hệ thống chợ và hệ thống
bán lẻ tương đối phát triển gồm các chợ đầu mối và các chợ cửa khẩu; hiện có một số
trung tâm thương mại đang triển khai như: Trung tâm phân phối, bán sỉ và kho vận
tải tại thành phố Lạng Sơn với quy mô trên 11ha; 02 khách sạn 5 sao và 01 sân golf
18 lỗ …các tuyến du lịch hoạt động khá sôi động như : Lạng sơn- Hà Nội- Hải
Phòng- Quảng Ninh và ngược lại; Hà Nội- Lạng Sơn- Bằng Tường, Côn Minh, Bắc
Hải, Quảng Châu …( Trung Quốc); mấy năm gần đây trung bình Lạng sơn đón 1,0
triệu lượt khách và đạt tốc dộ tăng trưởng trên 18%.
Trong thời gian tới tỉnh sẽ đặc biệt ưu tiên phát triển lĩnh vực dịch vụ . Trong
triển khai thực hiện xây dựng khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng- Lạng Sơn, sẽ chú
trọng thu hút đầu tư và hình thành các khu, trung tâm trung chuyển hàng hóa lớn
( gắn với khu phi thuế quan), làm cầu nối giữa Trung Quốc- Việt Namvà các nước
ASEAN. Khuyến khích các nhà đầu tư tiếp tục đầu tư các Trung tâm thương mại,
trung tâm hội trợ triển lãm quốc tế và hệ thống khách sạn cao cấp, các khu nghỉ mát
sinh thái.
Với lợi thế gần thủ đô Hà Nội, nằm sát vùng kinh tế trọng điểm phía bắc có
tuyến đường cao tốc nối sang Nam Ninh ( thủ phủ của Quảng Tây), đường thông ra

TổngVĐT Tỷ đồng
1381 1744 2023 2256 1766 1953 2860 3830 4750
Tốc độ tăng
VĐT định gốc
%
26.29 16.00 11.52 -21.72 10.59 46.44 33.92 24,02
Tốc độ tăng vốn
đầu tư định gốc
%
26.29 46.49 63.63 27.88 41.42 107.1 177.3 243,95
Nguồn: UBND tỉnh Lạng Sơn – Báo cáo tình hình đầu tư xã hội và đầu tư từ
Nhà nước giai đoạn 2001-2009 và định hướng đầu tư trong giai đoạn tới
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
15
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh có sự biến động qua các năm,
nhìn chung là năm sau cao hơn năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển của Lạng Sơn
giai đoạn 2001-2009 đạt 22.563 tỷ đổng. Vốn đầu tư qua các năm có sự gia tăng
không đồng đều. Nếu năm 2001 vốn đầu tư đạt 1.381 tỷ đồng thì năm 2002 tăng gấp
1,26 lần, năm 2003 tăng gấp 1,16 lần năm 2002, năm 2004 tiếp tục tăng và gấp 1,11
lần năm 2003, như vậy từ năm 2001 đến năm 2004 vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh liên
tục gia tăng về giá trị tuyệt đối nhưng tỉ lệ gia tăng có xu hướng giảm dần. Đến năm
2005, vốn đầu tư sụt giảm khá nhiều, chỉ bằng 78,7% so với năm 2004. Nguyên nhân
là do trong năm này tỉnh tập trung ưu tiên giải quyết nợ xây dựng cơ bản tồn đọng từ
những năm trước do đầu tư dàn trải lên đến 347,21 tỷ đồng tính đến hết năm 2005
( từ năm 2004 trở về trước là 220,5 tỷ đồng ). Năm 2005 cũng là năm mà Chính phủ
lựa chọn là năm điểm để đấu tranh khắc phục thất thoát và đầu tư dàn trải và kiên
quyết giải quyết tình trạng nợ đọng trong xây dựng đồng thời các địa phương từ năm
2004 trở đi phải dùng một phần ngân sách địa phương được cấp để giải quyết nợ
đọng xây dựng từ những năm trước. Trong những năm tiếp theo ( từ năm 2006 đến

Tổng VĐT
Tổng VĐT
2.2. Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn
Vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tỉnh có được từ nhiều nguồn khác nhau, bao
gồm 3 nguồn chủ yếu là : nguồn trong tỉnh, nguồn ngoài tỉnh và nguồn nước ngoài.
Trong giai đoạn 2001-2009, tổng vốn đầu tư huy động được trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn là 22.563 tỷ đồng ( bình quân mỗi năm huy động được khoảng 2.507 tỷ đồng ).
Để xét cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn trong giai đoạn này ta chia vốn đầu tư thành
những nguồn cơ bản sau đây:
- Vốn ngân sách Nhà nước
- Vốn doanh nghiệp Nhà nước
- Vốn doanh nghiệp và của dân
- Vốn nước ngoài
Bảng 2: Vốn đầu tư xã hội theo nguồn
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
17
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
( Đơn vị : tỷ đồng)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng cộng 1381 1744 2023 2256 1766 1953 2861 3830 4750
Vốn ngân sách nhà
nước
719 732 581 608 738 564 902 1119 1182
Vốn tín dụng đầu tư
phát triển nhà nước
42 280 665 820 70 265 365 285 131
Vốn doanh nghiệp
nhà nước
28 31 38 40 38 59 40 390 512
Vốn doanh nghiệp và

nguồn vốn Ngân sách ở mức thấp nhất trong tổng đầu tư toàn xã hội. Nguồn vốn
ngân sách nhà nước được tỉnh tập trung đầu tư hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, các
chương trình dự án trọng điểm, các khu vực kinh tế, các ngành kinh tế mũi nhọn, các
vùng kinh tế động lực để hỗ trợ các vùng kinh tế khác cùng phát triển.Tổng vốn đầu
tư từ ngân sách Nhà nước năm 2001-2009 do tỉnh quản lý là 7.145 tỷ đồng, trong đó:
- Đầu tư cho lĩnh vực nông lâm nghiệp 778.805 tỷ đồng, chiếm 10,9%
- Đầu tư lĩnh vực công nghiệp xây dựng 4679,975 tỷ đồng, chiếm 65,5%
- Đầu tư cho lĩnh vực dịch vụ 171,48 tỷ đồng, chiếm 2,4%
- Đầu tư cho các lĩnh vực xã hội 1514,74 tỷ đồng, chiếm 21,2%
Sử dụng nguồn vốn ngân sách có trên 871 công trình hạng mục công trình
được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật từng bước được củng
cố và hoàn thiện, góp phần phục vụ phát triển kinh tế xã hội , cải thiện và nâng cao
đời sống vật chất , tinh thần của nhân dân.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước:Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà
nước chiếm tỷ lệ tương đối thấp trong tổng nguồn vốn đầu tư và có xu hướng gia
tăng không đều, có năm ở mức thấp như năm 2001 là 3%, có năm lại lên khá cao như
năm 2004 chiếm 36% tổng đầu tư toàn xã hội.Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà
nước được tỉnh dùng để hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển các thành phần kinh tế
thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác dụng trực
tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. trong
thời gian gần đây nguồn vốn này được tỉnh tập trung đầu tư vào lĩnh vực Nông –
Lâm nghiệp.
Vốn Doanh nghiệp nhà nước: là thành phần kinh tế quan trọng , giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế. Nguồn vốn doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh. Xét
từ năm 2001 đến năm 2007 hầu như không biến động nhiều trong cơ cấu vốn đầu tư,
và con số tuyệt đối thì vẫn tăng qua các năm. Nhưng đến năm 2009 thì vốn DNNN
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
19
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lại tăng đột biến cả về số tuyệt đối và tỉ lệ trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội ( 512

đã tăng lên vượt bậc, ví dụ như trong 9 tháng đầu năm 2007 ( tức là ngay trong năm
triển khai các kế hoạch thu hút vốn ở trên ) đã có 95 doanh nghiệp được thành lập với
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
20
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tổng số vốn đăng ký đạt 175,2 tỷ đồng và cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 18 dự án,
tổng vốn là 2.448 tỷ đồng, trong đó có một số dự án lớn như: 5 dự án Thuỷ điện; dự
án Trung tâm thương mại và Kho vận; dự án Khách sạn 5 sao tại thành phố Lạng
Sơn; dự án tổ hợp thể thao, giải trí; dự án Khai thác và chế biến quặng Bô xít…
Đối với các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào tỉnh chủ
yếu là các dự án có chủ đầu tư đến từ Trung Quốc, Hồng Kông, Ma cao và Hàn Quốc
tập trung vào khai thác các thế mạnh của tỉnh như: trồng rừng, khai thác và chế biến
khoáng sản, các dịch vụ như bán hàng miễn thuế, trung tâm thương mại…góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, phù hợp với quá trình công nghiệp
hóa hiện đại hóa, tăng thu ngân sách và phát triển kinh tế xã hội.
Đối với các dự án sử dụng vốn ODA đầu tư chủ yếu vào các lĩnh vực hệ
thống thủy lợi, thực hiện các chương trình y tế như cung cấp một số trang thiết bị cho
tuyến y tế cấp thôn, xã phường, cho vay tín dụng thông qua Hội phụ nữ quản lý, bảo
vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, kế hoạch hóa gia đình, hướng nghiệp cho
thanh niên…
Tuy nhiên vốn nước ngoài còn chiếm một tỷ lệ khá nhỏ trong cơ cấu vốn đầu
tư ở Lạng Sơn, năm cao nhất là năm 2005 chiếm 14% còn năm thấp nhất là năm 2001
với 3%. Trong những năm gần đây, với nỗ lực của tỉnh con số này có xu hướng tăng
lên, như trong năm 2009 đã tăng cả về tỷ trọng lẫn số tuyệt đối, đây là một tín hiệu
đáng mừng trong việc huy động vốn phục vụ đầu tư phát triển của tỉnh.
2.3 Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành, lĩnh vực
Bảng 4 : Vốn đầu tư toàn xã hội của Lạng Sơn phân theo ngành, lĩnh
vực giai đoạn 2001-2009 ( Đơn vị: Tỷ đồng)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Nông -lâm nghiệp 66 74 79 89 93 109 112 120 130

về số tuyệt đối. Để có một phân tích kỹ càng hơn, chúng ta hãy xem xét đến tốc độ
tăng vốn đầu tư liên hoàn của từng khu vực
Bảng 6 : Tốc độ tăng vốn đầu tư liên hoàn từng ngành, lĩnh vực của
Lạng Sơn giai đoạn 2001-2009
(Đơn vị: %)
Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Nông –lâm nghiệp 12,12 6,76 12,66 4,49 17,2 2,75 7,14 8,33
Công nghiệp - xây dựng 25,89 251,55 -45,11 -35,62 9,75 60,33 73,96 38,66
Dịch vụ - du lịch 27,3 -47,07 112,93 -16,87 10,39 45 19,68 16,44
Tổng vốn đầu tư 26,29 16 11,52 -21,72 10,59 46,44 33,92 24,02
Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê Lạng Sơn
Điểm nổi bật nhất qua bảng trên đó là sự biến động của vốn đầu tư vào mỗi
ngành qua các năm, và sự biến động đó có liên quan khá chặt chẽ với tốc độ tăng
trưởng liên hoàn của vốn đầu tư toàn xã hội tỉnh Lạng Sơn. Năm 2005 là năm mà
lượng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh sụt giảm rất nhiều so với những năm khác
trong kỳ nghiên cứu, kéo theo sự suy giảm của vốn đầu tư vào hai khu vực Công
nghiệp – xây dựng và Dịch vụ - du lịch. Năm 2007 và 2009 là ba năm mà lượng vốn
đầu tư vào Lạng Sơn tăng trở lại thì đồng thời vốn đầu tư cho hai khu vực trên cũng
tăng trưởng tương đối cao.
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
22
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tốc độ tăng cao nhất thuộc về khu vực Công nghiệp và xây dựng trung bình
tăng 45,6%/năm. Có thể nói giai đoạn 2001-2009 là giai đoạn mà Lạng Sơn đầu tư
nhiều vào xây dựng kết cấu hạ tầng và một số nhà máy công nghiệp. Năm 2003,
lượng vốn đầu tư vào khu vực này tăng đột biến lên đến 251,55 % tuy nhiên tổng
vốn đầu tư toàn xã hội lại không tăng mạnh do đó kéo theo sự sụt giảm của vốn đầu
tư vào khu vực dịch vụ. Đứng thứ hai là khu vực Dịch vụ - du lịch với 18,92%/năm,
đây đồng thời cũng là khu vực chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu vốn đầu tư của
tỉnh. Cuối cùng là khu vực Nông – lâm ngư nghiệp với 7,9%/năm.

vụ thâm canh, tăng vụ; ưu tiên đầu tư phát triển thuỷ lợi, khôi phục các tuyến đường
giao thông phục vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Xây dựng các tổ đổi công
trong sản xuất nông nghiệp tiến tới xây dựng hợp tác xã, xác lập quyền làm chủ của
nhân dân lao động.
Thời kỳ xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965): Sau khi hoàn
thành việc khôi phục và phát triển kinh tế 3 năm 1957- 1960 cùng với ngành kế kế
hoạch cả nước, ngành kế hoạch Lạng Sơn lại tiếp tục xây dựng kế hoạch 5 năm phát
triển kinh tế- xã hội lần thứ nhất của tỉnh Lạng Sơn, tập trung vào sản xuất nông lâm
nghiệp, củng cố quan hệ sản xuất mới, triệt để khai thác mọi khả năng, tiềm lực của
địa phương, xây dựng kế hoạch thu mua nông sản, thực phẩm bước đầu xây dựng các
mặt hàng có khả năng xuất khẩu của địa phương như: tinh dầu hồi, gừng tươi, mặt
hàng sản xuất từ tre, trúc, thêu ren,...chú trọng phát triển công nghiệp địa phương để
phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp, đẩy mạnh công tác tài chính, tiền tệ.
Kế hoạch thời chiến (1965- 1975): chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đã lan
rộng ra miền Bắc, chủ trương của Đảng và Nhà nước là tạm thời đình hoãn xây dựng
các công trình cơ bản lớn, tập trung xây dựng kế hoạch chuyển từ thời bình sang thời
chiến, tập trung xây dựng các công trình giao thông như: cầu, đường hầm, kho tàng
khu hậu cứ, các cô sở sơ tán, trường học, bệnh viện, cơ quan, xí nghiệp, đảm bảo hậu
cần phục vụ cho chiến đấu cung cấp tại chỗ và cho địa phương. Cơ quan kế hoạch lúc
này thực sự là bộ máy tham mưu đắc lực cho Tỉnh uỷ và UBND tỉnh, nắm bắt tình
hình kịp thời, chính xác, bảo đảm vừa xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội
vừa bảo đảm kế hoạch chiến đấu trước mắt và lâu dài. Lạng Sơn được xác định là
cảng nổi của cả nước. Công tác kế hoạch lúc này phải đảm bảo cho nhiệm vụ lãnh
đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh trên các lĩnh vực: kế hoạch sản xuất
thời chiến, kế hoạch tuyển quân, đảm bảo hậu cần, kế hoạch huy động lực lượng, tiếp
nhận các mặt hàng viện trợ phục vụ cho hậu phương và tiền tuyến qua Lạng Sơn,
đảm bảo xây dựng hậu phương vững mạnh về kinh tế để phục vụ tốt cho công tác
quốc phòng.
Kế hoạch 2 năm (1966-1967) đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua với
mục tiêu: Tập trung lực lượng, ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, đảm bảo

lần thứ VI đặt ra nhiệm vụ mới, với cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự
quản lý của nhà nước đã dần đi vào cuộc sống. Trong thời gian này có nhiều ý kiến
trái ngược nhau về công tác kế hoạch hoá, thậm chí còn có ý kiến cho rằng: kinh tế
thị trường không cần kế hoạch hoá nền kinh tế, nhất là sau khi ngành thống kê và kế
hoạch sát nhập làm một đơn vị từ tỉnh đến các huyện, công tác kế hoạch ở cấp huyện
hầu như không còn cán bộ đảm nhiệm, ở tỉnh đội ngũ cán bộ giảm nhiều. Nội dung
xây dựng kế hoạch kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà
SV: Nguyễn Thúy Ngọc Lớp Kinh tế Đầu tư B
25

Trích đoạn Cụng tỏc xõy dựng và bố trớ vốn đầu tư XDCB Cụng tỏc quản lý hoạt động đấu thầu Những khú khăn tồn tại hạn chế Nguyờn nhõn của những hạn chế Đẩy mạnh cụng tỏc xỳc tiến đầu tư:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status