TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN&MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG
Đề tài : SA MẠC HÓA
Nhóm sinh viên:
1. ĐÀM XUÂN TẦN MSV:563758
2. ĐÀO NHƯ QUỲNH MSV:563755H
3. LÊ DUY TÂN MSV:563757
4. ĐÀO MINH TÂM MSV:553300
5. BÙI VĂN SANG MSV:563861
Giáo viên hướng dẫn:CAO VIỆT HÀ
HÀ NỘI,2013
Nhóm sinh viên thực hiện:
1
Thứ tự Họ và tên sinh viên Công việc thực hiện
1 ĐÀM XUÂN TẦN Tổng hợp tài liệu và làm phần
đăt vấn đề,kết luận.
2 ĐÀO NHƯ QUỲNH Làm phần sa mạc hóa là
gì,nguyên nhân.
3 LÊ DUY TÂN Làm phần sa mạc hóa ở Việt
Nam.
4 ĐÀO MINH TÂM Làm phần tác động,hiện trạng sa
mạc hóa .
5 BÙI VĂN SANG Làm phần các giải pháp
Nhóm trưởng:ĐÀM XUÂN TẦN
MỤC LỤC:
I, ĐẶT VẤN ĐỀ trang 3
II,TỔNG QUAN VỀ SA MẠC HÓA trang 3
1,SA MẠC HÓA LÀ GÌ? trang 3
2,NGUYÊN NHÂN trang 4
3,CÁC MỨC ĐỘ SA MẠC HÓA trang 7
Hình1:Hình ảnh minh họa
Sa mạc hóa là hiện tượng suy thoái đất đai ở những vùng khô hạn, bán khô hạn, vùng ẩm
nửa khô hạn, gây ra bởi sinh hoạt con người và biến đổi khi hậu.
Hoang mạc hoá là một dạng ở mức độ thấp của sa mạc hoá. Những vùng bị sa mạc hoá sẽ
khô cằn hơn do có nhiệt độ, sự bốc hơi cao hơn; vắng mặt hoặc gần như không có mưa.
Hoang mạc hoá đặc biệt tác động mạnh đối với các vùng đất khô hạn mà về mặt sinh thái
đã bị suy yếu.Hoang mạc hoá gây ra sự suy giảm về sản xuất lương thực, sự nghèo đói.
Hiện nay có tới 70% tổng số các vùng đất khô hạn của thế giới (3,6 tỷ hecta) bị ảnh
hưởng do suy thoái.
2. Nguyên nhân gây ra hiện tượng sa mạc hóa.
2.1. Nguyên nhân tự nhiên.
Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa tác động qua lại và không thể tách rời, tạo nên
những vùng khí hậu khô hanh, tạo nên tiền đề cho sự hình thành sa mạc hóa.
4
2.1.1. Do biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu là biến đổi sinh lý trong tự nhiên, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng do
hoạt động của con người, cụ thể là phát thải khí nhà kình, yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp
đến các vùng đất bị sa mạc hóa như việc nó gây ra căng thẳng với sản xuất nông nghiệp,
lượng mưa thay đổi mà đất bị ngắt đi nguồn bổ sung dinh dưỡng, làm giảm đa dạng sinh
học và làm gián đoạn chu kỳ Nitơ.Có hoặc không có các khu vực định cư của con người,
các khu vực khô cằn hoặc bán khô cằn được đặc trưng bởi lượng mưa biến đổi cao.
Kết quả của hạn hán kéo dài đó là đất màu mỡ trở nên trơ, dễ bị tổn thương, cùng với sự
biến đổi lượng mưa dữ dội và xấu đi do thiếu chất hữu cơ và tài nguyên nước đã gây ra sa
mạc hóa.
2.1.2. Do gió.
Xói mòn do gió cũng làm mất tính năng sản xuất của đất, ảnh hưởng đến thực vật bề mặt,
là một trong những yếu tố chính gây sa mạc hóa, xảy ra bất kỳ lúc nào khi đất bị
khô,trống hoặc gần trống trọc, và tốc độ gió vượt quá tốc độ ngưỡng thì bắt đầu có sự di
chuyển các hạt cát. Lyles (1974) mô tả 3 phương thức di chuyển của đất: trườn trên bề
mặt, di chuyển đột ngột và di chuyển lơ lửng. Dưới tác dụng của gió,các hạt đất nặng
và biến đổi khí hậu toàn cầu đã góp sức làm sa mạc hóa nhiều vùng trên trái đất.
• Chăn thả gia súc
Việc chăn thả gia súc cũng gây nên hiện tượng sa mạc hóa. Móng guốc của loài mục súc
thường nện chặt các tầng đất, làm giảm lượng nước thấm xuống các mạch nước
ngầm.Những lớp đất trên thì chóng khô, dễ bị gió mưa xói mòn.Các loài gia súc gặm cỏ
làm hư lớp rễ thảo mộc vốn quyện lớp đất xuống.Đất vì đó dễ tơi lên, chóng bị khô và
biến thành bụi.Thêm vào đó việc chăn thả gia súc vượt quá khả năng chịu tải của môi
trường trong thời gian dài cũng gây nên hiện tượng sa mạc hóa do gia súc sử dụng hết
nguồn cỏ làm thức ăn, làm mất đi lớp thực vật che phủ bề mặt cho đất, làm đất dễ bị xói
mòn và rửa trôi.
Vào thập niên 1930 tại Hoa Kỳ, vì quá tải chăn nuôi mục súc và canh nông ở vùng Đại
Bình Nguyên Bắc Mỹ cùng với cơn hạn hán kéo dài, kết quả là trận "Dust Bowl" vĩ đại
làm hư hại đất canh nông và hàng chục nghìn người phải siêu tán. Sau đó với nhiều cải
tiến về lối canh tác đất và sử dụng nước con người đã phản ứng kịp thời nên vấn nạn Dust
Bowl không còn tái diễn. Tuy vậy ở những quốc gia đang phát triển nạn sa mạc hóa vẫn
tiến hành, ảnh hưởng đến hàng chục triệu người.
• Nạn phá rừng.
Việc phá rừng làm nương rẫy hay do đô thị hóa và gia tăng trong nông nghiệp, các khu
rừng được cắt giảm trên quy mô lớn cho các mục đích cơ sở hạ tầng và nhiên liệu, làm
mất đi thảm thực vật tự nhiên dẫn đến xói mòn đất thông qua gió và nước. Trong khi đó,
các chất dinh dưỡng từ đất cũng bị mất, làm cho nó vô dụng.
7
Hình 3:Hậu quả của nạn quá rừng
• Kỹ thuật nông nghiệp lạc hậu
Những người nông dân ở các vùng kém phát triển sử dụng kỹ thuật tưới tiêu không chính
xác và lỗi thời, như thủy lợi kênh, vì khan hiếm nước. Điều này dẫn đến nhiễm mặn
(muối tích tụ quá mức) của đất, dẫn đến sa mạc hóa.
Vùng khô cằn cũng có thể canh tác được nhưng khi áp lực của con người làm hư hại
lượng thảo mộc thiên nhiên thì đất khô dễ bị gió biến thành bụi. Thiếu bóng rợp, nước
trong lòng đất mau bốc hơi, lưu lại chất muối làm tăng độ thổ diêm (soil salinity).Quá
về chủng loại động, thực vật nói cách khác đa dạng sinh học ở mức thấp.
Sự đa dạng về loài của động – thực vật có liên quan rất mật thiết với nhau và
lien quan trực tiếp tới lượng mưa. Dưới gốc độ sinh thái học, lượng mưa là yếu
tố rất quan trọng vì nó quyết định đến năng xuất cây trồng và sự phong phú, đa
dạng của sinh vật. Nhiều tài liệu về năng suất của cây trồng cho thấy ở sa mạc
lượng sinh khối trung bình thường ở mức 0,02 – 0,7 kg chất khô/m
2
so với 45
kg/m
2
ở vùng nhiệt đới và 30 kg/m
2
ở vùng ôn đới.
9
Ở vùng bị sa mạc hoá chỉ có những thực vật có tính thích nghi cao mới có khả
năng tồn tại điển hình như xương rồng, các cây bụi, cây có gai,… nhưng năng
xuất sinh khối của chúng rất thấp.
Sự nghèo nàn của thực vật làm cho động vật không có điều kiện để phát triển.
Một số loài động vật đặc trưng như chuột, một số loài bò sát, đà điểu,…có cuộc
sống gắn liền với lượng sinh khối thực vật là các trảng cỏ, cây than bụi,…thì có
khả năng tồn tại nhưng tình trạng sinh học vẫn rất nghèo nàn. Các loài động vật
ở sa mạc cần có những khả năng thích nghi cao để có thể tồn tại trong điều kiện
khí hậu khắc nghiệt.
Ngoài ra, ở những vùng bị sa mạc hoá dữ dội thì tiểu khí hậu thay đổi theo
chiều hướng khắc nghiệt hơn trạng thái ban đầu, hạn hán liên tiếp xảy ra tác
động xấu đến chức ngăn giá đỡ của đất, tạo ra một sự du nhập giống loài mới
có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu mới.
• Tác động của sa mạc hoá đến xã hội và đời sống con người:
- Sa mạc hoá kéo theo sự thiếu hụt trầm trọng lương thực, thực phẩm.
Thực tế tốc độ sản xuất lương thực, thực phẩm cao là nhờ vào công nghệ
(mưa cát bụi) ở Anh. Thông thường thì một cơn bão bụi mang theo từ 20 - 30 triệu tấn
bụi và gây ra nhiều loại bệnh cho con người khi nó đi qua như gây ra nhiễm trùng mắt
cùng các vấn đề về hô hấp và dị ứng.
Do đó, việc tăng cường trồng rừng để kiềm chế tác hại của các cơn bão bụi là vô
cùng cấp bách. Những nỗ lực ở nhiều khu vực Châu Mĩ, Ôxtrâylia, và Trung Quốc
trong thời gian qua đã làm giảm tình trạng sa mạc hoá và hậu quả của bão bụi sa mạc.
5. Hiện trạng sa mạc hóa trên thế giới.
11
Ngày 15/6/2004, Liên Hợp Quốc (LHQ) cảnh báo Thế Giới đang phải đối mặt với tình
trạng sa mạc hoá đang diễn ra với tốc độ đáng báo động , ảnh hưởng đến cuộc sống hàng
triệu người và vấn đề này dường như đang tăng với tốc độ gấp đôi kể từ những năm 1970.
Liên Hợp Quốc cho hay năm 1990, chỉ 110 nước bị ảnh hưởng bởi sa mạc hóa. Thế mà
đến nay tình trạng sa mạc hóa đã tấn công 168 nước, gây thiệt hại kinh tế tới 490 tỷ mỗi
năm và làm mất một diện tích đất gấp ba lần diện tích đất nước Thụy Sĩ.
Công ước Chống sa mạc hoá của Liên Hợp Quốc được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh về
môi trường và phát triển tại Rio de Janeiro, Brazin vào tháng 6 năm 1992. Trong thông
báo nhân kỉ niệm 10 năm ban hành Công ước chống sa mạc hoá, LHQ cảnh báo 1/3 diện
tích đất trồng trọt trên Thế Giới có nguy cơ bị sa mạc hoá.
Theo đánh giá của UNEP thì diện tích sa mạc hoá đã lên tới 39,4 triệu km2, chiếm 26,3%
diện tích đất tự nhiên của Thế Giới và hơn 1 tỷ người trên 100 quốc gia đang phải đối mặt
với tình trạng này.
Việc suy thoái nghiêm trọng đất đai và có nhiều vùng khô hạn đang đe doạ hơn 900 triệu
người dân ở khoảng 100 nước, chiếm 25 % diện tích đất đai của hành tinh chúng ta.
Theo tính toán, đến năm 2025 sẽ có 2/3 diện tích canh tác ở Châu Phi, 1/3 diện tích canh
tác ở Châu Á và 1/5 diện tích canh tác ở Nam Mỹ không còn sử dụng được.
Sa mạc hoá đã trở thành dạng thiên tai phổ biến trong những thập niên gần đây. Các vùng
hạn hán trên Thế Giới phần lớn nằm dọc theo vùng chí tuyến Nam, Bắc bán cầu. Các sa
mạc lớn trên Thế Giới hiện nay là sa mạc Sahara, Namip (Châu Phi); Gôbi (Trung Quốc),
Arabi (ở Tây Á), và các sa mạc ở Ôxtrâylia… Liên Hợp Quốc đã đưa ra những báo động
về quá trình sa mạc hoá như sau:
và Tây Sahara, với tổng diện tích hơn 9.000.000km2, xấp xỉ diện tích của Hoa
Kỳ và Trung Quốc, chiếm 30% cả lục địa châu Phi và có tới 2,5 triệu năm tuổi.
Sa mạc Sahara cả năm chịu sự khống chế của vùng khí hậu áp nhiệt đới cao và vùng gió
mùa đông bắc. Gió đông bắc làm giảm khí lưu và gió từ lục địa đến, hơi nước ngưng tụ
nên khí hậu ở đây cực kỳ khô hạn.Lượng mưa trung bình hàng năm của khu vực này dưới
25 mm, có nơi thậm chí không có một giọt mưa trong nhiều năm. Do lượng mưa ít, lại
thêm việc chăn thả và khai khẩn quá độ, sa mạc Sahara không ngừng mở rộng về phía
nam. Khoảng nửa thế kỷ trở lại đây, Sahara đã mở rộng gần bằng với diện tích của
Afghakistan (652.000 km
2
).
Khu vực sa mạc khô hạn, ít mây, ánh sáng mặt trời chói chang, quanh năm sóng nhiệt
cuồn cuộn, hơi nóng khô người. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25°C trở lên, nhiệt độ
bình quân của tháng cao nhất trong năm (tháng 7) là 35-37°C và thời gian duy trì mức
nhiệt độ này rất dài. Ở sa mạc, ban ngày mặt trời đỏ rực như thiêu như đốt.Nhưng đến
đêm, gió lạnh cắt da cắt thịt.Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban đêm và ban ngày là 15-35°C,
cao nhất có thể lên tới 38,2°C. Trong sa mạc còn có bão cát và gió bụi dữ dội, những cơn
gió có thể dạt tới vận tốc 100km/h, mang theo lượng cát lớn, làm xói mòn đá và giảm tầm
nhìn nghiêm trọng. Một lượng lớn cát bụi được đem đến khu vực phía nam Sahara, thậm
chí đến cả Đại Tây Dương. Ở khu vực thủ đô Novakchott của Mauritania thường xảy ra
hiện tượng mưa cát.
Sahara không chỉ là một sa mạc điển hình với nhiều đồi cát lớn mà còn có một diện tích
lớn nham thạch lộ thiên hoặc chỉ có một lớp mỏng nham thạch vụn (hoang mạc đá) cùng
với các bãi đá cuội và sỏi (sa mạc).
• Khu vực Sahel (Châu Phi):
Vành đai Sahel chạy qua Senagal, Mauritania, Mali, Burkina Faso, Niger, Nigeria, Char,
Sudan, Cape Verde,và Eritrea.
14
Khoảng 12.500 năm trước, dải sahel là một phần của sa mạc Sahara và bị các cồn cát bồi
lấp với cảnh quan tương tự như ngày nay. Trung bình dải sahel nhận được khoảng 150–
Phụ ẩm ướt
5,8
20,0
1,2
0
0
2,4
6,9
7,7
0,7
0,5
0
3,0
5,3
3,8
3,7
0
0
3,0
0
0
8,2
29,9
17,3
4,5
4,2
Tổng 27,0 18,2 15,8 3,0 64,0
Nguồn: Ayoup, Ali Taha, 1998.
15
Bảng 1 nêu tác động tiêu cực của xói mòn gió so với những tác nhân gây thoái hoá đất
đứng hàng thứ 15 về kích thước trong số các sa mạc lớn nhất không ở vùng cực của thế
giới. Nó bao phủ một diện tích 270.000 km
2
của lòng chảo Tarim, dài khoảng 1.000 km và
rộng khoảng 400 km. Ở rìa phía bắc và phía nam của sa mạc này là hai nhánh của Con
đường tơ lụa do các lữ khách đã tìm kiếm ra để tránh vùng đất hoang khô cằn.
Taklamakan là mô hình của sa mạc lạnh. Do nó gần với các khối khí lạnh lẽo tại Siberi,
nên các nhiệt độ rất thấp đã được ghi nhận trong thời gian mùa đông, đôi khi xuống dưới
-20 °C (-4 °F). Trong các trận bão mùa đông đầu năm 2008 tại Trung Quốc thì sa mạc
Taklamakan được thông báo là lần đầu tiên bị che phủ hoàn toàn bởi một lớp tuyết mỏng
có độ dày 4 cm (1,6 inch) tại một số đài quan sát trong 11 ngày đêm.
Vị trí cực sâu trong nội địa của nó, dường như rất gần với trung tâm của châu Á và xa
hàng nghìn kilômét từ bất kỳ vùng nước rộng lớn nào, nên các đặc trưng lạnh ban đêm
của nó có thể nhận thấy ngay cả trong mùa hè.
Nguyên nhân của quá trình sa mạc hoá ở Trung Quốc chủ yếu do sự thay đổi khí hậu và
những hoạt động của con người, trong đó yếu tố con người là nguyên nhân chủ yếu.Sa
mạc hoá diễn ra nhanh chóng do sự gia tăng dân số, áp lực từ quá trình phát triển kinh tế,
nhận thức kém về tầm quan trọng của việc bảo vệ sinh thái, chăn thả quá mức, khai thác
gỗ làm nhiên liệu và chặt phá rừng quá mức. Sự tàn phá cây trồng trên thảo nguyên, thảo
nguyên sa mạc và bãi chăn thả gia súc, hệ canh tác không thích hợp ở khu vực đất dốc và
suy thoái lớp phủ thực vật.
III. SA MẠC HÓA Ở VIỆT NAM
Tại Việt Nam, sự suy giảm đất canh tác khoảng 16 triệu, sự suy thoái chất lượng đất do
xói mòn, rửa trôi, khô hạn, sạt lở, phèn hoá và sa mạc hoá đang làm cho ha/33 triệu ha đất
tự nhiên (chiếm khỏang 50% đất tự nhiên) của nước ta đang trong tình trạng bị sa mạc
hoá
17
Theo báo cáo đưa ra tại cuộc họp về Công ước chống sa mạc hoá của Liên Hợp Quốc
(UNCCD) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại Hà Nội ngày 4/5/2006,
Việt Nam có sa mạc hoá cục bộ, với khoảng 7,85 triệu ha trong tổng số 9,34 triệu ha dất
cả đất bị đá ong hoá.
7 000 000 Toàn quốc
Đụn cát và bãi cát di động. 400 000 Các tỉnh ven biển Miền Trung
Đất khô hạn theo mùa hoặc vĩnh viễn. 300 000 Nam Trung Bộ (Bình Thuận, Ninh
Thuận và Nam Khánh Hoà)
Đất bị xói mòn. 120 000 Tây Bắc, Tây Nguyên và một số nơi
khác.
Đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn. 30 000 Đồng bằng sông Cửu Long (Tứ giác
Long Xuyên)
Nguồn: (tư liệu) Hội thảo thực hiện Công ước chống sa mạc hoá (UNCCD)
Bảng số liệu trên cho thấy, tổng diện tích đất chịu tác động mạnh bởi sa mạc hóa của
Việt Nam là 7.850.000 ha, chiếm trên 30% tổng diện tích đất canh tác nông, lâm nghiệp của
cả nước. Trong đó chủ yếu là đất trống, đồi trọc thoái hóa mạnh (7.000.000 ha, chiếm 89%
tổng diện tích đất sa mạc hóa). Đó là hậu quả chủ yếu của nạn phá rừng, sử dụng đất không
hợp lý kéo dài nhiều năm.
Ở nước ta trong những năm gần đây liên tiếp xảy ra các tai biến thiên nhiên, mà điển hình
là xuất hiện và lan rộng quá trình hoang mạc hóa ở vùng Nam Trung Bộ, trong đó 2 tỉnh
có hiện tượng hoang mạc tương đối mạnh là Ninh Thuận và Bình Thuận. 2 tỉnh này nằm
tiếp giáp với biển Đông, có diện tích tự nhiên gần 1 triệu hecta với chiều dài bờ biển gần
300km và diện tích lãnh hải trên 70.000km. Đây là nơi xảy ra các quá trình ngoại sinh rất
mãnh liệt; xói mòn, rửa trôi, lũ lụt, hạn hán, xói lở bờ biển, mặn hóa do triều lấn,… đã
làm cho hiện tượng hoang mạc thể hiện khắc nghiệt nhất ở Việt Nam.
Đại diện là sa mạc hoá ở Ninh Thuận:
19
Hình 4:Cảnh người dân khốn khổ vì sa mạc hóa ở Ninh Thuận
Theo tuyển tập kết quả Khoa học và Công nghệ của Viện Khoa học thuỷ lợi Miền Nam,
tổng số diện tích đất sa mạc ở Ninh Thuận là 41.021 ha, chiếm 12,21 đất tự nhiên toàn
tỉnh. Và cho đến hiện nay, hiện tượng sa mạc hoá tiếp tục có chiều hướng gia tăng. Hằng
năm, vào mùa khô tình trạng hạn hán, thiếu nước thường xuyên xảy ra, làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sản xuất và các hoạt động dân sinh. Một số đợt hạn hán xảy ra liên tục
việc chống sa mạc hoá, nhưng theo đánh giá của Chương trình Môi trường của Liên
Hợp Quốc vào năm 1991 thì vấn đề suy thoái đất ở những vùng khô cằn và khô cằn
cận ẩm ướt trên toàn thế giới đã trở lên rất căn thẳng. Hội nghị của Liên Hợp Quốc về
Môi trường và Phát triển (UNCED) được tổ chức tại Rio de Janeiro năm 1992 đã đề ra
một phương pháp tiếp cận mới mang tính tổng hợp đối với vấn đề này, trong đó tập
trung vào các hành động nhằm khuyến khích phát triển bền vững tại cộng đồng. Trước
đòi hỏi cấp bách đó, tháng 6 năm 1994 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thành lập Uỷ
ban đàm phán liên Chính phủ để soạn thảo Công ước chống sa mạc hoá. Công ước
được thông qua tại Paris vào ngày 17/6/1994, được kí ngày 14 – 15/10/1994 và có
hiệu lực từ ngày 26/12/1996.
Mục tiêu của Công ước là chống sa mạc hoá và giảm thiểu những tác động của hạn
hán ở các nước chịu những trận hạn hán hoặc sa mạc hoá nghiêm trọng, đặc biệt là ở
Châu Phi thong qua hành động có hiệu quả ở các cấp, được hổ trợ bởi hợp tác quốc tế
và quan hệ đối tác, trong khuôn khổ tiếp cận tổng hợp nhất quán với Chương trình
nghị sự 21, với mục tiêu phát triển bền vững ở những vùng chịu tác động.
2. Các biện pháp khắc phục và đề phòng nạn sa mạc hoá.
• Thành lập các vành đai xanh quanh các sa mạc:
21
Đây là một biện pháp rất có giá trị đã được áp dụng rộng rãi để ngăn cản sự mở rộng ngày
càng tăng của sa mạc. Ngoài ra, nó còn có tác dụng bảo vệ đất đai chống lại quá trình rửa
trôi, giữ vững độ phì cho đất.
• Kiểm soát bề mặt che phủ:
Bảo vệ bề mặt đất khỏi sự tác động trực tiếp của các yếu tố khí hậu bất lợi, giảm thiểu sự
rửa trôi và xói mòn đất.
• Những kỹ thuật hiện đại:
Các số liệu thu thập từ vệ tinh có thể dùng để theo dõi các cơn bão vào mùa mưa, nghiên
cứu các quy luật chung và nếu có thể thì dự đoán việc đổi chỗ của chúng.
3. Các giải pháp chính sách kinh tế, kĩ thuật phòng chống sa mạc hoá ở Việt Nam:
• Chính phủ đã thiết lập các khuôn khổ phòng, chống sa mạc hoá và đề ra
Chương trình hành động thực hiện Công ước Liên Hợp Quốc về chống sa mạc