ĐẶT VẤN ĐỀ
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, mô hình bệnh tật của Việt
Nam song song tồn tại các bện lây nhiễm và bệnh không lây nhiễm (BKLN).
Nhiều bệnh lây nhiễm đang dần được khống chế và đẩy lùi, một số BKLN
như tim mạch, đái tháo đường, ung thư, tâm thần ngày càng gia tăng. Tỷ lệ
mắc bệnh tăng huyết áp từ 0,96 – 2,52% năm 1990 tăng lên 2,7 – 4,4% năm
202,… BKLN, nhất là các bẹnh tim mạch đã trở thành những nguyên nhân
hàng đầu gây tử vong tại các bệnh viện. Ngoài ra, những bệnh này còn có thể
để lại di chứng nặng nề, gây tàn phế, giảm chất lượng cuộc sống của người
bệnh như liệt nửa người, mù lòa, loét chi phải cắt cụt… chi phí điều trị BKLN
rất lớn do phải điều trị dài ngày (hầu như trong suốt quãng đời còn lại), thuốc
và phương tiện kỹ thuật đắt tiền, ngoài ra còn phải kể đến chi phí gián tiếp do
người nhà phải theo nuôi…BKLN không những ảnh hưởng đến tới sức khỏe
của người bệnh mà còn ảnh hưởng tới kinh tế xã hội.
Được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, sự phối hợp, ủng hộ của các
Bộ, Ngành, trong thời gian qua Ngành Y tế đã chủ động và có nhiều cố gắng
trong công tác phòng chống BKLN (gai đoạn 2002 -2010). Với mục tiêu
chung la giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm biến chứng và giảm tỷ lệ tử vong do bệnh
tim mạch, đái tháo đường, ung thư, tâm thần, các hoạt động phòng chống
bệnh BKLN đã được triển khai mạnh mẽ và bước đầu thu được kết quả tốt,
như xây dựng chính sách và văn bản pháp quy về phòng chống BKLN. Thiết
lập hệ thống giám sát, tổ chức chiến dịch vận động thực hiện lối sống lành
mạnh, triển khai thí điểm mô hình kiểm soát BKLN như đái tháo đường, tâm
thần, tăng huyết áp, ung thư…
Qua những kiến thực em đã được học tại học phần Dịch tễ bệnh không
lây và cũng để có cái nhìn tổng quát về tình hình BKLN ở Việt Nam và Trên
thế giới, em tiến hành viết chuyên đề: “Dịch tễ học một số bệnh không lây
nhiễm ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay”
1
Chương 1
TỔNG QUAN
quan trọng trong phát sinh bệnh. Ví dụ hút thuốc lá có nguy cư ung thư
phổi, miệng…, gây tăng huyết áp và các bệnh tim mạch khác, gây đái
tháo đường… chính vì vậy BKLN còn được gọi bệnh của lối sống.
• Yếu tố về môi trường: môi trường: Môi trường vật chất, môi trường
chính trị, văn hóa xã hội.
• Yếu tố không thể thay đổi được: tuổi, giới tính, chủng tộc… Khi tuổi
cao thì nguy cơ bị BKLN cũng càng cao vì đã bị phơi nhiễm với các
yếu tố nguy cơ trong thời gian dài, đồng thời các cơ quan trong cơ thể
đã bị lão hóa, hệ thống miễn dịch suy giảm. Tỷ lệ mắc BKLN khác
nhau giữa nam và nữ, giữa các chủng tộc.
Các yếu tố nguy
cơ hành vi
- Hút thuốc lá
- Uống rượu
- Dinh dưỡng
không hợp lý
- Ít vận động
3
Các yếu tố nguy cơ
của môi trường
- Văn hóa, xã hội
- Chính trị
- Kinh tế
- Tự nhiên
Các yếu tố nguy cơ
không thể thay đổi
- Tuổi
- Gới
- Chủng tộc
- Gen
tử vong do các tình trạng bệnh lý bà mẹ- trẻ em, suy dinh dưỡng chỉ chiếm
30% (tương đương với 17 triệu trường hợp).
Biểu đồ 1. Các nguyên nhân chủ yếu gây tử vong trên thế giới năm 2005
2.1.2. Gánh nặng BKLN: Ngoài gây tử vong cao, BKLN còn gây tàn tật.
Hiện nay để đánh giá gánh nặng bệnh tật thường hay dùng chỉ số Daily
4
(Disability Adjusted life year- Năm sống được điều chỉnh theo tàn tật) chỉ số
này tính số năm sống khỏe bị mất đi do mắc bệnh, tử vong. Một DALY được
coi là một năm sống khỏe bị mất đi.
Biểu đồ 2: Một số nguyên nhân cơ bản của gánh nặng bệnh tật thế giới
năm 2005.
2.1.3. Phân bố tử vong và gánh nặng bệnh tật của BKLN theo tuổi và giới:
Bảng 1. Phân bố tử vong của BKLN theo tuổi và giới.
Nhóm
tuổi
Số tử vong (triệu người) Tỷ lệ tử vong trên 100 000 dân
Nam Nữ Chung Nam Nữ Chung
0-29 0,8 0,8 1,6 48 47 48
30-59 4 3 7 372 251 311
60-69 4 3 7 2328 1533 1911
70+ 9 11 20 6981 6102 6467
Cộng 18 17 35 556 543 549
5
Bảng 2. Phân bố gánh nặng bệnh tật theo DALY của KLN theo tuổi và
giới.
Nhóm
tuổi
DALY ( triệu người) DALY trên 100 000 dân
Nam Nữ Chung Nam Nữ Chung
0-29 112 108 220 6 263 6 380 6 320
Biểu đồ 6: Tử vong do BKLN so với các bệnh khác
Trong 10 bệnh có chỉ số DAILY cao năm 2002 năm 2002 cũng có sự góp mặt
của nhiều BKLN theo như bảng dưới đây:
8
Bảng 3: Mười loại bệnh có chỉ số DALY cao nhất năm 2002.
Xếp hạng Tên bệnh % Tổng DALY
1 Bệnh tim và đột quỵ 7.8%
2 Bệnh lý trẻ sơ sinh 5.7%
3 Trầm cảm 5.5%
4 Tai nạn giao thông 2.9%
5 Nhiễm khuẩn đường hoo hấp dưới 2.9%
6 Lao 2.9%
7 Giảm thính lực (người trưởng thành) 2.8%
8 Tiêu chảy 2.7%
9 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 2.4%
10 Tật bẩm sinh 2.2%
2.1.2. Tình hình bệnh tim mạch
Theo thống kê, bệnh tim- mạch là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong tại các
bệnh viện. Trong các bệnh tim mạch thì tăng huyết áp (THA) là phổ biến nhất
và gia tăng nhanh nhất. Các số liệu điều tra dịch tễ về THA cho thấy tình hình
mắc bệnh này đang gia tăng mạnh mẽ:
Năm 1960: Tỷ lệ THA là 2% ở các tỉnh miền Bắc.
Năm 1992: Tỷ lệ THA là 11,7% trên toàn quốc.
Năm 1992: Tại Hà Nội, tỷ lệ THA là 16,05%.
Năm 2002: Tại Hà Nội, tỷ lệ THA là 23,3%, tỷ lệ THA chung cho 4 tỉnh và
thành phố phía Bắc Việt Nam ( Hà Nội, Nghệ An, Thái Bình, Thái Nguyên) là
16,3%.
9
Biểu đồ 7: Tỷ lệ THA tại một số tỉnh/thành phố
Kết quả điều tra năm 2002 cũng cho thấy trong số người THA thì tỷ lệ
động kinh chiếm 0,05%. Theo kết quả điều tra cua chương trình Quốc gia
chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng ở 8 vùng sinh thái, tỷ lệ trầm cảm
là 2,8% dân số. Một thống kê tại Trung tâm Hồi sức cấp cứu Bạch Mai thì số
người có hành vi tự sát phải đưa đến cấp cứu có tới 20% do rối loạn trầm
cảm. Như vậy, số bệnh nhân bị rối loạn trầm cảm trong cộng đồng chiếm tỷ lệ
khá cao.
11
Chương 3.
NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ GIA TĂNG BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM
VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG.
3.1. Nguyên nhân sự gia tăng BKLN
Mặc dù hoàn toàn có thể phòng chống được nhưng hiện nay đang có
khuynh hướng gia tăng tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết non do các BKLN trên toàn thế
giới cũng như ở Việt Nam do sự thay đổi lối sống, sự gia tăng tuổi thọ.
* Thay đổi lối sống: Nhiều yếu tố góp phần thay đổi lối sống
Đô thi hóa: Quá trình đô thị hóa mang lại nhiều lợi ích, tuy nhiên cũng mang
lại những tác động có hại cho sức khỏe. Ví dụ như lạm dụng thuận tiện của
cuộc sống hiện đại như thức ăn nhiều năng lượng và chất béo, phương tiện
giao thông cơ giới… từ đó dẫn đến dinh dưỡng không hợp lý và ít vận động.
Do toàn cầu hóa: Việc buôn bán các sản phẩm trong đó có thực phẩm, thuốc
lá, rượu gia tăng mạnh mẽ. Hơn các giải pháp khống chế thuốc lá, rượu chưa
có hiệu quả cao dẫn đến việc tiêu thụ tràn lan các sản phẩm này.
Gia tăng tuổi tho: Tuổi thọ người Việt Nam cung như các nước khác ngày
càng gia tăng do đó có nhiều người mắc bệnh mạn tính hơn.
Ngoài ra còn có một nguyên nhân nữa: Công tác phòng chống BKLN triển
khai nhưng chưa có hiệu quả cao.
3.2. Phòng chống một số bệnh không lây nhiễm
3.2.1. Tập chung vào yếu tố nguy cơ (YTNC).
* Tập trung vào YTNC để phòng chống một số BKLN
Một số BKLN như: Tim mạch, đái tháo đường, ung thư, bệnh phổi tắc
điều trị trong thời gian dài, có thể suốt quang đời còn lại; thuốc điều trị đắt
tiền) và một số loại BKLN hiệu quả của điều trị không cao, ví dụ như ung
thư, tai biến mạch máu não…
3.2.2. Các hoạt động cần tập trung vào YTNC.
Truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức, thái độ thực hành
của cộng đồng về thay đổi hành vi lối sống: Hoạt động này chủ yếu do cơ
quan thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu thực hiện. Các Viện/Bệnh viện
13
đầu ngành cũng thực hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe nhưng cần
tập trung vào các bệnh cụ thể cho đối tượng có nguy cơ cao hoặc đã mắc
bệnh.
Xây dựng môi trường hỗ trợ thay đổi hành vi: chủ yếu là xây dựng chính
sách, quy định, môi trường vật chất, văn hóa, xã hội.
3.2.3. Phòng chống BKLN cần phải dựa vào 3 cấp độ dự phòng.
* Phòng bệnh
Chủ yếu là phòng chống YTNC do các đơn vị làm công tác chăm sóc sức
khỏe ban đầu thực hiện.
* Phát hiện bệnh sớm
Tuyên truyền cho người dân tự phát hiện bệnh sớm; Nâng cao khả năng
phát hiện bệnh sớm của cơ sở y tế tuyến huyện, xã.
Tổ chức điều tra, sàng lọc các đối tượng có nguy cơ cao đối với một số bệnh
cụ thể.
* Chẩn đoán và điều trị
Tăng cường hoạt động điều trị; Quản lý bệnh nhân sau điều trị ổn định.
Mỗi bệnh nhân phải có hình thức quản lý riêng, ví dụ THA có thể quản lý tại
xã, ĐTĐ quản lý tại tuyến huyện, tỉnh…
3.2.4. Phòng chống BKLN cần phải đa ngành.
Trong các yếu tố nguy cơ BKLN có các yếu tố về môi trường như: chính
sách, kinh tế xã hội, môi trường tự nhiên… do đó cần phải sử dụng các giải
pháp khác ngoài các giải pháp y tế như: chính sách, luật pháp, kinh tế, văn