DỊCH TỄ HỌC MỘT SỐ BỆNH KHÔNG LÂY PHỔ BIẾN
MỤC TIấU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này sinh viên có khả năng:
1. Trỡnh bày được tỡnh hỡnh cỏc bệnh khụng lõy nhiễm phổ biến trờn thế giới
và ở Việt Nam
2. Mô tả được các yếu tố nguy cơ chung của một số bệnh khụng lõy nhiễm phổ
biến.
3. Trỡnh bày được nguyên tắc cơ bản của chương trỡnh phũng chống một số
bệnh khụng lõy nhiễm phổ biến.
4. Trỡnh bày được cách thức tổ chức và thực hiện sàng lọc đối với một số bệnh
không lây nhiễm phổ biến.
NỘI DUNG HỌC TẬP
1.
Khỏi niệm
Bệnh khụng lõy nhiễm (BKLN) là tỡnh trạng sức khỏe ốm đau hay bệnh tật mạn
tính không có khả năng lây truyền từ người sang người, thường không xác định
được nguyên nhân gây bệnh cụ thể nhưng có thể xác định được các yếu tố nguy cơ
làm tăng khả năng mắc bệnh. BKLN cú thời gian ủ bệnh lõu dài, tiến triển chậm,
hoặc cú thể gõy ra tử vong nhanh chúng.
Cú rất nhiều BKLN khỏc nhau, tuy nhiờn theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) có
4 nhóm BKLN phổ biến đó là các bệnh về tim mạch, ung thư, đái tháo đường, và
các bệnh đường hô hấp mạn tính. Các bệnh này có nhiều yếu tố nguy cơ chung như
hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, dinh dưỡng không hợp lý, hạn chế vận động thể
lực, và cú thể phũng ngừa được thông qua các biện pháp can thiệp có hiệu quả.
Hiện nay cũn tồn tại một số quan niệm sai lầm phổ biến về BKLN, cho rằng
BKLN là bệnh của các nước phát triển hay bệnh của người giàu có thu nhập cao.
Thực tế số liệu cho thấy 4/5 trường hợp tử vong trên thế giới xảy ra ở nước có thu
đáng kể cỏc ca tử vong trong thập kỷ tới. Từ năm 2010 đến 2020, số trường hợp tử
vong do BKLN dự kiến sẽ tăng 15% trờn toàn cầu (44 triệu). Chõu Phi, Đông Nam
Á và Đông Địa Trung Hải là các khu vực sẽ có sự gia tăng lớn nhất trờn 20%.
Trong khi đó, khu vực châu Âu không có sự gia tăng. Ở khu vực chõu Phi, BKLN
sẽ gõy ra khoảng 3.9 triệu người chết vào năm 2020. Cỏc khu vực dự kiến cú số
trường hợp tử vong cao nhất do BKLN vào năm 2020 là Đông Nam Á (10.4 triệu)
và Tõy Thỏi Bỡnh Dương (12.3 triệu).
Ngoại trừ chõu Phi, tử vong do BKLN ở cỏc khu vực khỏc vượt quá số tử vong do
cỏc BLN, bệnh lý bà mẹ, trẻ sơ sinh và dinh dưỡng kết hợp lại. Đối với nam giới ở
chõu Âu, tử vong do BKLN được ước tính cao hơn 13 lần so với cỏc nguyờn nhõn
khỏc cộng lại, ở khu vực Tõy Thỏi Bỡnh Dương con số này cao hơn 8 lần.
Trong năm 2008, tỷ lệ tử vong chuẩn hóa theo tuổi của các BKLN ở các nước cú
thu nhập thấp và trung bỡnh là 756/100,000 dõn đối với nam và 565/100,000 dõn
đối với nữ, tương ứng với 65% và 85% cao hơn so với nam và nữ ở cỏc quốc gia
cú thu nhập cao. Tỷ lệ tử vong chuẩn húa theo tuổi của cỏc BKLN cao nhất ở khu
vực chõu Phi (nam 844/100,000 dõn, nữ 724/100,000 dõn). Cỏc nguyên nhân hàng
đầu gây tử vong do BKLN trong năm 2008 là: cỏc bệnh tim mạch (17.0 triệu,
chiếm 48% các trường hợp tử vong do BKLN), ung thư (7.6 triệu, chiếm 21% các
trường hợp tử vong do BKLN), cỏc bệnh đường hô hấp trong đó bao gồm cả bệnh
hen suyễn và bệnh tắc nghẽn phổi mạn tớnh (COPD) (4.2 triệu), và bệnh tiểu
đường (1.3 triệu).
2.2. Ở Việt Nam
Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác trong khu vực đang phải đối mặt
với sự thay đổi về mô hỡnh bệnh tật - gỏnh nặng bệnh tật kộp. Theo số liệu niờn
giỏm thống kờ của Bộ Y tế (Hỡnh 1 và 2), tỷ lệ mắc và tử vong do BKLN cú xu
hướng ngày càng tăng (khoảng 43% năm 1976 lên tới gần 70 % năm 2009 đối với
tỷ lệ mắc, và khoảng 45% năm 1976 lên tới 64% năm 2009 đối với tỷ lệ tử vong),
trong khi đó tỷ lệ mắc và tử vong do BLN đang có xu hướng giảm nhanh (khoảng
Các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm
Tất cả các khu vực địa lý và mọi lứa tuổi đều có nguy cơ mắc BKLN. BKLN
thường có sự kết hợp với tuổi già nhưng bằng chứng cho thấy 25% (9 triệu) tổng
số tử vong do BKLN chết trước tuổi 60, và 90% số trường hợp tử vong sớm trước
tuổi 60 xuất hiện ở các nước có thu nhập thấp và trung bỡnh. Trẻ em, người trưởng
thành và người già đều có thể bị tác động bởi các yếu tố nguy cơ chung của BKLN
như phơi nhiễm với khói thuốc lá, chế độ ăn uống không hợp lý, lạm dụng rượu
bia, hay tác động có hại của việc ít vận động thể lực.
3.1. Hỳt thuốc
Hút thuốc là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu (có thể phũng
trỏnh được) ở trên thế giới và Việt Nam. Hút thuốc không những ảnh hưởng đến
sức khỏe người hút mà cũn ảnh hưởng tới sức khỏe của người xung quanh. Theo
TCYTTG, mỗi năm trên thế giới có khoảng 6 triệu người tử vong do hút thuốc,
trong đó 5.1 triệu là do tác động trực tiếp, 600,000 trường hợp là do phơi nhiễm
thụ động với khói thuốc lá. Ở Việt Nam, có khoảng 15 triệu người hút thuốc lá mỗi
ngày, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới tuổi từ 25-64 chiếm 56.4% (theo số liệu điều tra
quốc gia 2009-2010). Con số đáng báo động này đang có xu hướng ngày càng tăng
nhanh và có nguy cơ trẻ hóa ngày một cao. Mỗi giờ ở nước ta có 5 ca tử vong và
mỗi năm có khoảng 40,000 người chết vỡ cỏc bệnh liờn quan tới tỏc hại của thuốc
lỏ, gấp 4 lần số người chết vỡ tai nạn giao thụng hàng năm.
a) Bệnh ung thư và các bệnh đường hô hấp mạn tính
Bài 14: Dịch tễ học một số bệnh không lây phổ biến
Mối liên quan giữa hút thuốc và bệnh ung thư đó được biết vào năm 1964, khi báo
cáo đầu tiên của Surgeon General về thuốc lá và sức khỏe được công bố. Vào thời
điểm đó, những số liệu hiện có chỉ cho thấy mối liên quan giữa hút thuốc lá với hai
về tim mạch. Mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá và bệnh tim mạch không chỉ
thấy ở cả hai giới, trong lớp trẻ và người già mà cũn thấy ở tất cả cỏc chủng tộc.
Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2-3 lần. Mặt khác thuốc lá
cũn tương tác với các yếu tố khác làm tăng nguy cơ lên gấp nhiều lần. Người hút
thuốc có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch như: xơ vữa động mạch, bệnh mạch
vành, đột quỵ, rối loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim, phỡnh động mạch chủ. Trong số
đó, bệnh mạch vành là quan trọng nhất, ước tính chiếm khoảng hơn một nửa
trường hợp tử vong vỡ bệnh tim do hỳt thuốc. Bờn cạnh đó, những người đang hút
thuốc có nguy cơ bị bệnh mạch máu ngoại vi cao gấp 16 lần so với người chưa hút
bao giờ. Ở những người đó cai thuốc thỡ nguy cơ này cao gấp 7 lần so nhóm chưa
hút bao giờ. Khoảng 76% bệnh nhân bị mạch máu ngoại vi là do hút thuốc.
Theo một cụng trỡnh nghiờn cứu ở Paris vào năm 1977, do Richard J.L và cộng sự
tiến hành, theo dừi trong một thời gian 7 năm trên 7,640 người nghiện thuốc lá, hút
trung bỡnh từ 15-16 điếu thuốc trong một ngày, đó đưa ra những kết luận như sau:
• Đối với những người không hút thuốc, tỷ lệ xuất hiện bệnh động mạch vành
hàng năm là 3.4/1,000.
• Đối với những người hút thuốc nhưng không nuốt khói, tỷ lệ này là 4.6/1,000.
Nếu có nuốt khói khi hút thỡ tỷ lệ tăng lên 8.5/1,000, nghĩa là cao gấp 2 lần.
• Những người hút thuốc có nguy cơ nhồi máu cơ tim và tử vong đột ngột cao
hơn người không hút thuốc lần lượt là 4 và 5 lần.
Ngày nay người ta đó biết được các chất độc hại có trong khói thuốc lá tích lũy lâu
ngày làm tổn thương các tế bào nội mô và màng đáy của vách mạch hay nội tâm
mạc, làm cho thành mạch bị xơ vữa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hỡnh thành
cỏc cục mỏu đông, hay các ổ nhồi máu (là các ổ hoại tử do lấp tắc động mạch đôi
khi là tĩnh mạch gây thiếu máu cục bộ).
b) Bệnh Đái tháo đường (týp 2)
Thuốc lá không chỉ là làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư, tim mạch, cỏc bệnh
đường hô hấp mạn tính mà cũn cú mối liờn quan chặt chẽ với bệnh ĐTĐ. Ngày
không hợp lý. Ngày nay nhiều chất sinh ung thư có trong thực phẩm đó được biết,
ví dụ: khẩu phần ăn không hợp lý như ăn nhiều chất béo động vật sẽ làm tăng nguy
cơ mắc ung thư vú và đại trực tràng, ngược lại chế độ ăn nhiều rau xanh, quả chín
có tác dụng bảo vệ chống lại ung thư (giảm tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng). Hoặc
thực phẩm chế biến lâu ngày như dưa khú, thịt cá ướp muối hoặc hun khói chứa
nhiều muối nitrat, nitrit, sau đó chuyển thành muối nitrosamine là chất gây ung thư
thực nghiệm rất mạnh làm tăng nguy cơ mắc ung thư thực quản và dạ dày. Kristin
Anderson và cộng sự thuộc trường Đại học Minnesota (Mỹ) đó nghiờn cứu trờn
62,000 người khỏe mạnh ăn hàng ngày trong 9 năm, kết quả nghiên cứu cho thấy
những người thường xuyên ăn thịt đỏ được nướng, hoặc chiên kỹ làm tăng nguy cơ
mắc ung thư lách cao hơn 60% so với những người ăn thịt này nhưng nướng hoặc
chiên ở nhiệt độ vừa phải, hoặc hoàn toàn không ăn món này. Các nhà khoa học đó
nhấn mạnh vai trũ của hợp chất sinh ung thư hectero cyclinic amines có nhiều
trong thịt được xử lý ở nhiệt độ cao. Ngoài ra, nấm mốc có trong gạo lạc mốc tiết
ra chất độc aflatoxin làm tăng nguy cơ mắc ung thư gan.
Ngày nay nhờ cỏc tiến bộ mới về bảo quản thực phẩm, đặc biệt là bảo quản rau và
thực phẩm tươi sống bằng kế hoạch phân phối và các hầm làm lạnh, gian hàng
lạnh, tủ lạnh, đó làm giảm cỏc thực phẩm cú chứa muối nitrit, nitrat. Tỷ lệ ung thư
dạ dày trên thế giới ngày càng giảm xuống rừ rệt. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ung
thư dạ dày cũn cao ở cả 2 giới (chỉ đứng sau ung thư phổi ở nam và ung thư vú ở
nữ), do đó cần đẩy mạnh công tác dự phũng theo hướng này.
b) Bệnh tim mạch
Chế độ ăn đóng vai trũ rất quan trọng đối với các bệnh tim mạch, đặc biệt các bệnh
liên quan đến xơ vữa động mạch và cao huyết áp. Tăng hàm lượng các chất lipid
(mỡ) trong máu (cholesterol và triglycerid) rất thường gặp và là một trong những
yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được quan trọng bậc nhất của bệnh tim mạch.
Cholesterol toàn phần bao gồm nhiều dạng cholesterol, trong đó 2 thành phần quan
trọng nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) và cholesterol trọng
Bài 14: Dịch tễ học một số bệnh không lây phổ biến
dinh dưỡng không hợp lý, kết hợp với ít vận động thể lực dẫn đến béo phỡ, cựng
với tuổi tỏc cao cú nhiều nguy cơ khiếm khuyết gen quy định hoạt động của insulin
hoặc của tế bào bê-ta dẫn tới giảm khả năng dung nạp glucose của cơ quan đích (tế
bào cơ, gan, tổ chức mỡ) và hậu quả là tăng glucose huyết và các rối loạn chuyển
hóa đi kèm. Tỡnh trạng tăng glucose huyết trường diễn, tích lũy sợi fibrin trong tế
bào bê-ta, tăng acid béo tự do và giảm số lượng tế bào bê-ta dẫn đến tổn thương và
giảm chức năng tế bào bê-ta của tuyến tụy. Khi cơ thể mất bù trước tỡnh trạng
khỏng insulin hoặc chức năng của tế bào bê-ta suy kiệt thỡ tỡnh trạng đái tháo
đường xuất hiện.
Khoảng 90% người bệnh ĐTĐ típ 2 là thừa cân. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
mắc bệnh đái tháo đường tăng cao ở những người có chế độ ăn nhiều chất béo bóo
hũa (mỡ động vật), nhiều carbonhydrat tinh chế, nhiều tinh bột, ăn ít chất xơ.
Ngoài ra, các chế độ ăn thiếu vitamin, các yếu tố vi lượng góp phần làm thúc đẩy
sự tiến triển bệnh ĐTĐ ở những người trẻ cũng như người cao tuổi. Đặc biệt ở
người già mắc bệnh ĐTĐ, cơ thể có sự tăng sản xuất gốc tự do (là nhân tố làm tăng
quá trỡnh lóo húa cơ thể), do vậy việc bổ sung các chất chống oxy hóa như vitamin
C, E sẽ phần nào giúp cải thiện được hoạt động của insulin và quá trỡnh chuyển
húa. Một số người cao tuổi mắc bệnh ĐTĐ bị thiếu hụt magie và kẽm, thỡ khi
được bổ sung những chất này, quỏ trỡnh chuyển húa glucose đó được cải thiện rất
tích cực.
Những người có nhiều khả năng tăng bất thường lượng mỡ trong máu làm tăng
nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ. Lượng mỡ trong máu cao hơn sẽ là yếu tố nguy cơ cho cả
bệnh ĐTĐ và bệnh tim mạch. VV́ vậy, cần kiểm tra lượng mỡ trong máu định kỳ và
duy tŕ chúng trong giới hạn cho phép. Nếu HDL-C ≤ 35 mg/dl (0.9 mmol/L) và/
hoặc triglicerid > 250 mg/dl (2.82 mmol/L) thỡ nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ sẽ tăng
lên.
3.3. Lạm dụng rượu bia
rượu đó làm tăng lượng HDL-C trong máu (rượu vang đỏ). Hiện tại vẫn chưa có
đầy đủ bằng chứng và sự thống nhất khuyến cáo mọi người uống rượu một cách hệ
thống. Tuy nhiên uống quá nhiều rượu và các đồ uống có cồn khác, nhiều hơn 1
đơn vị uống mỗi ngày lại có thể có hại cho sức khỏe nói chung và các bệnh tim
mạch nói riêng. Lúc đó rượu sẽ làm tăng huyết áp, tăng nguy cơ tổn thương gan và
biến chứng thần kinh trung ương cũng như rất nhiều rối loạn khác, một vài trong số
đó là các rối loạn về tim mạch.
Rượu và đột quỵ: rượu làm gia tăng hoặc giảm nguy cơ đột quỵ phụ thuộc vào mức
độ uống rượu và thể đột quỵ. Phân tích trên 19 công trỡnh nghiờn cứu kiểm chứng
và 16 nghiờn cứu cắt ngang đó xỏc định:
• Nghiện rượu nặng sử dụng nhiều hơn 60g/ngày làm tăng nguy cơ bị đột qụy
• Sử dụng mức độ trung bỡnh 12-24g/ngày làm giảm nguy cơ bị đột quỵ
• Sử dụng rượu ít hơn 12g/ngày thỡ nguy cơ bị đột quỵ thấp nhất, và giảm nguy
cơ bị nhồi máu nóo.
Các nghiên cứu khác cũng đó xỏc nhận sự tương quan giữa sử dụng rượu và nguy
cơ bị đột quỵ: sử dụng rượu ở mức độ trung bỡnh làm giảm nguy cơ mắc xơ vữa
Bài 14: Dịch tễ học một số bệnh không lây phổ biến
động mạch được xác định bằng chụp mạch. Tổng số người say cấp do rượu có thể
gây ra đột quỵ lấp mạch có nguồn gốc từ tim hoặc các động mạch lớn.
Rượu và tăng huyết áp: nhiều nam giới bị tăng huyết áp sẽ giảm được nguy cơ bị
bệnh tim bằng cách uống 1 hoặc 2 cốc rượu nhỏ mỗi ngày. Qua khảo sát 11,711
nam giới cho thấy những người uống 1-2 cốc bia, rượu hay vài chén rượu nhỏ đều
giảm nguy cơ bị bệnh tim, thậm chí cũn giảm cả huyết ỏp. Trong khi đó, những
người uống ít hơn 1 cốc mỗi ngày không giảm được nguy cơ bị bệnh tim hơn
những người không uống rượu. Cũn uống hơn 3 cốc mỗi ngày sẽ làm tăng huyết áp
và tăng nguy cơ bị các bệnh tim mạch.
Theo nghiên cứu của Joline Beulens, Trường y tế công cộng tại Đại học Harvard
lượng vừa phải. Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người uống rượu một lượng vừa
phải mỗi ngày thỡ khả năng bị bệnh động mạch ngoại biên giảm hơn so với người
không uống hay chỉ uống dưới 1 lần trong một tuần.
c) Bệnh Đái tháo đường (týp 2)
Kết quả từ một nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường trên
2,700 người ở độ tuổi 40-64 tại một tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ cho thấy: uống rượu
làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ. Những người uống từ 50 ml rượu trở lên với độ
cồn 30% trong một tháng có nguy cơ bị rối loạn đường máu lúc đói cao hơn 2 lần
so với người không uống rượu hoặc hầu như không uống.
3.4. Hoạt động thể lực
Theo TCYTTG, mỗi năm trên thế giới có khoảng 3.2 triệu người tử vong do
BKLN là do ít hoạt động thể lực. Ở nước ta, số người ít vận động thể lực chiếm
29% tổng số dân (theo điều tra quốc gia năm 2009-2010).
Những người lười vận động hoặc ít có cơ hội vận động thể lực sẽ có nguy cơ mắc
bệnh tim mạch cao hơn những người thường xuyên tập thể dục. Việc hoạt động và
tập luyện sẽ đốt cháy calo, giúp kiểm soát mức cholesterol và bệnh tiểu đường
đồng thời có thể hạ huyết áp. Tập thể dục cũng tăng cường sự dẻo dai cho cơ tim
và làm cho các động mạch linh hoạt hơn. Những người tích cực đốt cháy 5003,500 calo mỗi tuần bằng cỏch tập thể dục hoặc cỏc hỡnh thức vận động khác
thường sống lâu hơn những người không tập thể dục. Ngay cả việc tập thể dục với
cường độ trung bỡnh nhưng đều đặn và thường xuyên cũng rất hữu ích.
Một nghiên cứu đó theo dừi trờn 200,000 người cho biết nguy cơ ĐTĐ có thể giảm
đến 30% đối với nam giới và 39% đối với nữ giới nếu thay đổi lối sống tích cực
như tập luyện cơ thể thường xuyên.
4.
Điều tra giám sát các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm
Dưới sự hướng dẫn và hỗ trợ về mặt chuyên môn kỹ thuật của TCYTTG, hiện có
các chiến lược phũng ngừa BKLN cú hiệu quả. Tuy nhiờn, để thực hiện được điều
đó đũi hỏi phải cú dữ liệu hay thụng tin cụ thể về cỏc yếu tố nguy cơ của BKLN, từ
285
ml
Rượu vang 15 - 17 %
120
ml
Rượu ngọt 20 - 25 %
60 ml
Rượu trắng 40 - 45 %
30 ml
Uống rượu an toàn: với nam giới là dưới 4 đơn vị uống chuẩn/ngày, với nữ giới là
2 đơn vị uống chuẩn/ngày, một tuần có 2 ngày không uống rượu bia.
c) Khẩu phần ăn
Khẩu phần ăn là sự phối hợp của nhiều hành vi có liên quan và thường mang đặc
điểm văn hóa. Đánh giá toàn diện về dinh dưỡng bao gồm phương pháp hỏi ghi
thực phẩm đó tiờu thụ trong 24 giờ qua, tần suất xuất hiện cỏc loại thực phẩm, ước
tính dinh dưỡng dựa vào bảng thành phần các chất dinh dưỡng. Tuy nhiên phương
pháp này thường được sử dụng trong các cuộc điều tra cộng đồng. Đối với đánh
giá dinh dưỡng tại các cơ sở y tế thỡ sử dụng bộ cõu hỏi ngắn gọn hơn. Ở đây quan
tâm tới tiêu thụ mỡ động vật, thói quen ăn mặn, lượng rau xanh, quả chín.
Tiờu thụ rau xanh, quả chớn: để lượng hóa được lượng rau quả đó tiêu thụ ta dùng
Để xác định một người có nguy cơ mắc BKLN liên quan đến hoạt động thể lực ta
căn cứ vào khuyến nghị về thời gian hoạt động thể chất tối thiểu để đảm bảo có sức
Bài 14: Dịch tễ học một số bệnh không lây phổ biến
khỏe tốt của USDHHS, 1996 (US Department of Health and Human Services) như
sau: phải hoạt động thể lực với cường độ vừa hoặc nặng hàng ngày với thời gian
tối thiểu 30 phút/ngày. Nếu hoạt động ở mức vừa thỡ tối thiểu phải hoạt động 5
ngày/tuần, nếu hoạt động ở mức nặng thỡ tổi thiểu là 3 lần/tuần.
4.2. Đo các chỉ số cơ thể
a) Chỉ số khối cơ thể (BMI)
Cách đo: đo cân nặng và chiều cao, sau đó tính BMI theo công thức:
BMI = Cân nặng (kg)/chiều cao (m)2
Đánh giá: phân loại tV́nh trạng dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể như sau:
BMI < 16.0
: thiếu năng lượng trường diễn độ
III
16.0 ≤ BMI < : thiếu năng lượng trường diễn độ
17.0
II
17.0 ≤ BMI < : thiếu năng lượng trường diễn độ
18.5
I
18.5 ≤ BMI
là béo phV́ (thừa mỡ) và các nguy cơ về sức khỏe cũng tăng lên.
c) Huyết áp (HA)
Cách đo: để chẩn đoán chính xác tăng HA thV́ kỹ thuật đo HA có vai tṛ rất quan
trọng, sử dụng HA kế thủy ngân để đo là chính xác nhất. Các bước đo HA bao
gồm: 1) Bơm nhanh bao hơi lên 200 mmHg, trên mức HA tâm thu mà ta có thể
nhận biết được bằng ngón tay khi bắt mạch quay thấy biến mất. HA tâm thu được
xác định khi bắt đầu thấy tiếng đập; 2) Xả hơi ra với tốc độ 2 mmHg/giây; 3) Ghi
nhận số HA tâm trương khi mất hẳn tiếng đập. Nếu tiếng đập quá yếu, yêu cầu
bệnh nhân nâng tay lên và nắm mở bàn tay 5 – 7 lần, sau đó nhanh chóng bơm hơi
vào để đo; 4) Bơm hơi đo lại sau 2 phút để kiểm tra số đo HA lần một, nếu thấy
khác thV́ chọn số đo HA nghe rơ ràng nhất. Nếu cả hai lần đều nghe rơ thV́ lấy trung
bV́nh cộng của chúng.
Trước khi đo HA ta cần lưu ư: 1) Không hoạt động mạnh trước khi đo 1 giờ; 2)
Nghỉ ngơi thoái mái trước khi đo ít nhất 5 – 10 phút; 3) Không uống rượu, cà phê,
không hút thuốc lá hay sử dụng các chất kích thích khác 30 phút trước khi đo.
Khi đo HA, bao hơi phải đặt phía trên gấp khuỷu tay 2.5 cm, ống nghe phải đặt sát
gần bờ dưới bao hơi.
Bảng 14.1: Đánh giá phân loại HA và chiến lược kiểm tra lại
(theo JNC VI và WHO/ESH)
HA
thu
tõm
(mmHg)
HA
tâm
85 – 89
Trong ṿng 1 năm
THA độ 1 (nhẹ)
140 – 159
hoặc
90 – 99
Trong ṿng 2 tháng
THA độ 2 (vừa)
160 – 179
hoặc
100 – 109
Chuyển điều trị
hoặc
≥ 110
Chuyển
(anhydrous) hoặc 82.5 gram đường đơn (monohydrate) với 250 – 300 ml trong 5
phút. Lấy máu tại các thời điểm 0 (ngay trước khi uống đường) và thời điểm 120
phút. Ta cũng có thể lấy máu tại các thời điểm 0, 20, 60, 90, 120 phút để tham
khảo, nhất là khi muốn kết hợp với định lượng insulin máu.
d) Các xét nghiệm khác
Nếu có điều kiện có thể thực hiện thêm một số xét nghiệm khác để phục vụ cho
chẩn đoán một số BKLN.
5.
Phũng chống một số BKLN phổ biến
5.1. Nguyên tắc cơ bản của chương trỡnh phũng chống một số BKLN phổ biến
Chương trỡnh phũng chống BKLN cú nguyờn tắc cơ bản là: 1) lồng ghép các hoạt
động phũng chống, 2) dựa vào cộng đồng, 3) toàn diện.
5.1.1. Lồng ghép các hoạt động phũng chống BKLN
Một số BKLN phổ biến như tim mạch, ung thư, bệnh đường hô hấp mạn tính, đái
tháo đường có chung các yếu tố nguy cơ về hành vi như hút thuốc lá, lạm dụng
rượu bia, dinh dưỡng không hợp lý, và ớt vận động thể lực. Như vậy 4 bệnh có 4
yếu tố nguy cơ chung có thể thay đổi được, do đó nếu tác động tập trung vào các
yếu tố nguy cơ chung này cho phép phũng chống đồng thời cùng một lúc các
BKLN phổ biến kể trên. Hay nói một cách cụ thể bằng ăn nhiều rau quả chúng ta
có thể phũng được một số loại ung thư, kiểm soát được đái tháo đường, cải thiện
tỡnh trạng thừa cõn bộo phỡ, và tăng huyết áp. Không hút thuốc lá hay ngừng hút
có thể phũng được ít nhất 20 loại ung thư và 40 loại bệnh khác. Không uống rượu
hoặc uống vừa phải có thể phũng được ung thư gan, dạ dày hay các bệnh tim mạch.
Cần phải lồng ghộp phũng chống BKLN vào cỏc hoạt động phũng chống cỏc bệnh
khỏc nhằm sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn nhõn lực, vật lực và tài chớnh,
nõng cao hiệu quả hoạt động. Việc lồng ghép này được thực hiện ở tất cả các tuyến
của hệ thống y tế nhưng tập trung cơ bản ở tuyến huyện và tuyến xó.
huyện, tỉnh. Vỡ vậy cần phải hoàn thiện cỏc mụ hỡnh quản lý từng bệnh riờng lẻ.
Phũng chống BKLN cần phải cú sự phối hợp đa ngành. Trong các yếu tố nguy cơ
BKLN bao gồm các yếu tố về môi trường như chính sách, kinh tế, môi trường tự
nhiên, do đó cần phải sử dụng các giải pháp khác ngoài y tế như luật pháp, kinh tế,
văn hóa xó hội, vỡ thế cần cú sự tham gia của cỏc ngành khỏc bao gồm cụng
nghiệp, nụng nghiệp, thương mại, văn hóa thông tin, giáo dục, tư pháp, tài chính,
các ban ngành đoàn thể như đoàn thanh niên, hội phụ nữ. Ở mỗi cấp cần thành lập
Bài 14: Dịch tễ học một số bệnh không lây phổ biến
ban chỉ đạo có đại diện của tất cả các ban ngành đoàn thể, trong đó ngành y tế
đóng vai trũ chủ đạo.
Bờn cạnh xõy dựng mụ hỡnh phũng chống cho cỏc bệnh riờng lẻ, vừa xõy dựng
mụ hỡnh phũng chống chung cho cỏc BKLN. Ngoài việc giảỉ quyết vấn để nóng
bỏng trước mắt như vấn đề thừa cân béo phỡ ở trẻ em hay hỳt thuốc lỏ ở thanh
thiếu niờn, vừa xõy dựng cỏc giải phỏp cú tớnh chiến lược như xây dựng chiến
lược, chính sách quốc gia về BKLN, xây dựng mạng lưới hoạt động, đào tạo cán
bộ, cung cấp trang thiết bị.
5.2. Sàng lọc phỏt hiện sớm một số BKLN phổ biến
5.2.1. Bệnh tăng huyết áp (THA)
THA là hậu quả của thay đổi thành mạch như mất sự đàn hồi và khả năng giăn của
thành mạch, làm hạn chế lưu lượng tuần hoàn dẫn đến tổn thương các cơ quan đích
như tim, thận, mắt, năo. THA được coi như một yếu tố nguy cơ quan trọng của
bệnh đột quỵ và nhồi máu cơ tim. Do đó sàng lọc phát hiện sớm THA có vai tṛ
quan trọng trong việc pḥng ngừa các bệnh nói trên. Sàng lọc THA bao gồm các
bước sau:
a) Đo huyết áp: xem lại phần điều tra giám sát các yếu tố nguy cơ của BKLN
b) Đánh giá các yếu tố nguy cơ
- Tuổi (nam ≥ 55, nữ ≥ 65 tuổi)
Sờ nắn vú: Nguyên tắc sờ nắn vú lành trước. Khi khám vú bên nào thV́ đưa tay cùng
bên ra sau gáy, tay cc̣n lại được dùng để sờ nắn vú, 3 ngón tay ở giữa áp sát vào
nhau thành một mặt phẳng, ép đều lên các vùng khác nhau của tuyến vú vào thành
ngực theo hướng xoắn ốc từ núm vú ra ngoài, sau đó khám hạch ở vùng hố nách.
Khám tương tự đối với vú cc̣n lại.
Qua mỗi lần khám như vậy, nếu thấy khối u, hạch, hoặc mảng cứng bất thường thV́
nên đến cơ sở chuyên khoa khám lại.
*) Chụp x-quang vú
Chụp x-quang vú có ưu thế rơ rệt là có thể phát hiện các tổn thương bất thường ở
tuyến vú ngay cả khi trên lâm sàng chưa sờ thấy khối u. Chụp x-quang vú hàng
năm để kiểm tra được khuyến cáo cho tất cả phụ nữ trên 40 tuổi, nếu có tiền sử gia
đV́nh bị ung thư vú thV́ nên chụp vú kiểm tra bắt đầu từ 30 tuổi. Cần lưu ư chụp xquang vú không thay thế được khám vú và ngược lai.
*) Khám vú tại cơ sở y tế chuyên khoa
Để khám vú việc đầu tiên là phải tV́m hiểu cẩn thận về bệnh sử. Ngoài các triệu
chứng hiện tại cần biết các thông tin cơ bản về tV́nh trạng kinh nguyệt và các yếu tố
nguy cơ mắc ung thư vú của người bệnh bao gồm tiền sử gia đV́nh, dùng thuốc tránh
thai, số lần sinh. Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên nên đến các cơ sở chuyên khoa khám vú
mỗi năm một lần.
b) Ung thư cổ tử cung (CTC)
Ung thư CTC là ung thư phổ biến thứ 2 sau ung thư vú ở nữ giới tại Việt Nam. Khả
năng chữa khỏi ung thư CTC càng cao nếu được phát hiện ở giai đoạn càng sớm và
Bài 14: Dịch tễ học một số bệnh không lây phổ biến
được điều trị kịp thời. Năm 1940, Papanicolaou đă sáng tạo ra cách lấy bệnh phẩm
từ CTC và cách nhuộm tiêu bản để phát hiện độ thoái hóa tế bào, biện pháp này
được gọi là phương pháp tế bào học âm đạo (Pap test), và cho đến nay vẫn là
phương pháp sàng lọc ung thư CTC hữu hiệu nhất. Dùng dụng cụ chuyên dụng
quệt vào CTC, sau đó phết lên lam kính, nhuộm và xem tế bào qua kính hiển vi.
quen ăn trầu, uống rượu. Việc phát hiện sớm ung thư khoang miệng hoàn toàn có
thể thực hiện được nhờ những dấu hiệu gợi ư và khám răng miệng một cách
thường xuyên. Các dấu hiệu gợi ư bao gổm: những thay đổi bất thường ở niêm
mạc miệng như vết hoặc mảng hơi đỏ hoặc trắng), vết thương khoang miệng khó
liền, chảy máu, các nốt sùi, hay há miệng bị hạn chế.
Để có thể phát hiện sớm nên chú ư tới răng miệng mỗi khi vệ sinh đánh răng hàng
ngày, có thể quan sát khoang miệng qua soi gương. Nếu thấy các dấu hiệu bất
thường nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa để khám. Nên đi khám sức khỏe kiểm
tra ung thư khoang miệng hàng năm đối với những người trên 40 tuổi, và những
người hút thuốc lá, thuốc lào.
e) Ung thư tuyến tiền liệt (TTL)
Hay gặp ở các nước phát triển hơn các nước đang phát triển. Là nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu ở Mỹ và Châu Âu trong những năm gần đây. Hiện nay, tỷ lệ chết
do bệnh này giảm rơ rệt nhờ khám sàng lọc phát hiện sớm. Các dâu hiệu cảnh báo
sớm bao gồm: tần suất đi tiểu thay đổi, ḍng nước tiểu yếu, rỉ nước tiểu sau khi tiểu
tiện.
Để phát hiện sớm ung thư TTL thV́ nên khám trực tràng bằng tay kết hợp với xét
nghiệm PSA, là một loại chất chỉ điểm u đặc hiệu trong ung thư TTL áp dụng cho
nam giới từ 50 tuổi trở lên. Một báo cáo về kết quả sàng lọc ung thư TTL ở Mỹ
cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ung thư TTL khi cc̣n khu trú tại chỗ là 91.7% so với 66.0%
ở nhóm không được sàng lọc. Kết quả này cho thấy hiệu quả của sàng lọc qua
khám trực tràng bằng tay kết hợp với làm xét nghiệm PSA trong ung thư TTL.
5.2.3. Đái tháo đường (ĐTĐ) tưp 2
Số lượng người mắc bệnh ĐTĐ mà chủ yếu là ĐTĐ týp 2, đang tăng lên nhanh
chóng trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển trong đó có Việt nam.
Bệnh có tỷ lệ biến chứng và tử vong cao. Có thể chia diễn biến tự nhiên của bệnh
ĐTĐ ra làm hai thời kỳ, thời kỳ trước khi có biểu hiện lâm sàng và thời kỳ có biểu
hiện các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng. Khoảng một nửa số bệnh nhân ĐTĐ týp
Các bước tiến hành:
• Thu thập các thông tin cần thiết;
• Xét nghiệm đường huyết tương lúc đói. Nếu đường huyết tương lúc đói ≥ 7.0
mmol/l thV́ ta chẩn đoán xác định ĐTĐ. Nếu đường huyết tương lúc đói ≥ 5.6
mmol/l, ta làm thêm nghiệm pháp tăng đường huyết: nếu kết quả của nghiệm
pháp này ≥ 11.1 mmol/l thV́ ta chẩn đoán xác định là ĐTĐ, nếu kết quả đường
huyết tương là 7.8 – < 11.1 mmol/l ta kết luận đối tượng bị giảm dung nạp
glucose (cần được sàng lọc lại hàng năm), nếu đường huyết tương < 7.8
mmol/l ta kết luận đối tượng bV́nh thường (cần được sàng lọc 2 năm/lần). Nếu
đường huyết tương lúc đói < 5.6 mmol/l l ta kết luận bV́nh thường (cần được
sàng lọc 2 năm/lần);
• Sau khi khám sàng lọc, ta cần tư vấn cho đối tượng về chế độ dinh dưỡng,
luyện tập cũng như tư vấn cho các đối tượng đến các cơ sở y tế để được điều
trị kịp thời;
• Lập danh dách người bệnh ĐTĐ và những người có nguy cơ mắc bệnh cao để
quản lư.
Tóm lại, BKLN đang trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới và
ở Việt Nam. Nhóm bệnh này có nhiều yếu tố nguy cơ giống nhau do đó TCYTTG
đă xây dựng chiến lước giám sát chung về các yếu tố nguy cơ của BKLN theo
phương pháp tiếp cận bậc thang cho các nước trên thế giới để cung cấp thông tin
cho việc xây dựng các biện pháp can thiệp có hiệu quả. Bên cạnh việc giám sát các
yếu tố nguy cơ, chúng ta cũng cần thúc đẩy việc khám sàng lọc phát hiện sớm một
số BKLN phổ biến để ngăn ngừa hoặc làm chậm sự phát triển thành bệnh hay biến
chứng, và có thể pḥng ngừa một số BKLN khác.
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1. Trỡnh bày được tỡnh hỡnh cỏc bệnh khụng lõy phổ biến trờn thế giới và ở
Việt Nam
2. Mô tả được các yếu tố nguy cơ chung của một số bệnh không lây phổ biến.