BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI - Pdf 22

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Ở VIỆT NAM
VÀ TRÊN THẾ GIỚI
Nhóm 8 ca 4 thứ 4
- 1 -
1. Đào Thị Hường (nhóm trưởng)
2. Lê Hồng Anh
3. Nguyễn Thị Hải Anh
4. Nguyễn Thị Phương Liên
5. Nguyễn Thị Thu Hương
6. Nguyễn Thị Kim Chi
7. Khuất Hương Giang
8. Dương Thị Duyên
9. Đào Thị Hương
A – MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Các hoạt động của con người trong nhiều thập kỷ gần đây đã làm tăng đáng kể
những tác nhân gây hiệu ứng nhà kính (nồng độ khí thải trong các hoạt động công nghiệp,
giao thông, sự gia tăng dân số…), làm trái đât nóng dần lên, từ đó gây ra hàng loạt những
thay đổi bất lợi và không thể đảo ngược của môi trường tự nhiên. Nếu chúng ta không có
những hành động kịp thời nhằm hạn chế, giảm thiểu và thích nghi, hậu quả đem lại sẽ vô
- 2 -
cùng thảm khốc.
Theo dự báo của Ủy ban Liên Quốc gia về biến đổi khí hậu (IPCC), đến năm 2100
nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng thêm từ 1,4
0
C tới 5,8
0
C. Sự nóng lên của bề mặt trái đất sẽ làm
băng tan ở hai cực và các vùng núi cao, làm mực nước biển dâng cao thêm khoảng 90 cm,
sẽ nhấn chìm một số đảo nhỏ và nhiều vùng đồng bằng ven biển có địa hình thấp.

sinh quyển. Các quá trình khí hậu diễn ra trong sự tương tác liên tục của những thành phần
này. Quy mô thời gian của sự hồi tiếp ở mỗi thành phần khác nhau rất nhiều. Nhiều quá
trình hồi tiếp của các nhân tố vật lý, hóa học và sinh hóa có vài trò tăng tường sự biến đổi
khí hậu hoặc hạn chế sự biến đổi khí hậu. Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi
khí hậu đã định nghĩa: “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí
hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có
hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên
và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và
phúc lợi của con người”.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí
quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân
tự nhiên và nhân tạo.Sự thay đổi về khí hậu gây ra trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của
con người làm thay đổi cấu thành của khí quyển trái đất mà, cùng với biến đổi khí hậu tự
nhiên, đã được quan sát trong một thời kì nhất định”. (UNFCCC).
Biến đổi khí hậu là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay
khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm (IPCC,2007) ) ” Những biến
đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và có sự tác động từ
các hoạt động của con người.
- 4 -
Những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời,
và gần đây có thêm hoạt động của con người. BĐKH trong thời gian thế kỷ XX đến nay
được gây ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BĐKH (hoặc còn được gọi là sự ấm
lên toàn cầu – Global warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đại.)
2.3. Nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu toàn cầu là điều không thể tránh khỏi, dù chúng ta kiểm soát
mức phát thải khí nhà kính tốt đến đâu. Nguyên nhân là mức khí thải hiện có trong khí
quyển sẽ tiếp tục làm nhiệt độ và mực nước biển gia tăng trong thế kỷ tới.
Chuyên gia khí hậu Gerald Meehl và đồng nghiệp thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khí quyển
quốc gia Mỹ (NCAR) cùng cộng sự đã sử dụng mô hình khí hậu trên máy tính để dự đoán
điều gì sẽ xảy ra nếu con người kiểm soát khí thải nhà kính ở các mức khác nhau. Nghiên

nhanh tốc độ công nghiệp hóa và tiêu dùng, liên quan với điều đó là sự tăng cường sử dụng
nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, sản xuất xi măng, phá rừng và gia tăng chăn nuôi
đại gia súc (phát xả nhiều phân gia súc tạo ra nguồn tăng Metan), khai hoang các vùng đất
ngập nước chứa than bùn Kết luận của các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Berne -
Thụy Sĩ công bố trên tạp chí khoa học Nature ngày 15.5 cho biết nồng độ khí CO
2
trong khí
quyển hiện ở mức cao nhất trong 800.000 năm qua. Vì vậy, nguyên nhân chính làm biến đổi
khí hậu Trái đất được cho là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính,
các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ
sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư
Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO
2
, CH
4
, N
2
O,
HFCs, PFCs và SF
6
.
+ CO
2
phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí
nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO
2
cũng sinh ra tử các hoạt động
công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép.
+ CH
4

0
C (0,56
0
C đến 0,92
0
C), lớn hơn xu thế được
đưa ra trong báo cáo đánh giá lần thứ 3 của IPCC là 0,6
0
C (từ 0,4
0
C đến 0,8
0
C) (1901-
2000).Sự gia tăng nhiệt độ đang trở nên phổ biến trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các khu
vực vĩ độ cao ở phía bắc. Khu vực đất liền nóng lên nhanh hơn các khu vực đại
dương.Những thay đổi về nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, các sol khí, độ che phủ đất
và bức xạ mặt trời đã làm thay đổi cân bằng năng lượng của hệ thống khí hậu.Lượng khí
thải nhà kính trên toàn cầu do con người đã tăng khoảng 70% so với thời kỳ trước cách
mạng công nghiệp, trong khoảng thời gian từ 1970 đến 2004.
Tại Việt Nam Lượng mưa tăng trong mùa mưa, gây lũ lớn tại Nam Bộ, Trung Bộ và
vùng núi phía Bắc. Lượng mưa giảm trong mùa khô, gây hạn hán tại nhiều nơi. Thiên tai
khốc liệt hơn và khó dự báo hơn (cường độ, đường di chuyển). Sự chuyển dịch ranh giới
các mùa, các đợt nóng/lạnh bất thường kéo dài.Nước biển dâng gây ngập các vùng đồng
bằng thấp và ven biển, vào mùa hạn làm tăng xâm nhập mặn các cửa sông.
3. Thực trạng và ảnh hưởng biến đổi khí hậu
3.1. Trên thế giới
3.1.1. Thực trạng của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu làm gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực, những đợt nóng,
bão tố và lũ lụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đi sự đa
dạng sinh học và phá huỷ hệ sinh thái. Những minh chứng cho các vấn đề này được biểu

xả khí thải gây hiệu ứng nhà kínhnhiều nhất vào khí quyển (trên 30% tổng khí thải công
nghiệp) vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thưKyoto về cắt giảm khí thải.
Hệ quả đồng hành với việc bề mặt Trái đất nóng lên luôn luôn là sự tan những khối băng
vĩnh cửu ở hai đầu địa cực và trên đỉnh những dãy núi cao. Nhưng có lẽ chưa bao giờ tốc độ
tan băng lại diễn ra với tốc độ nhanh và quy mô lớn như ngày nay. Thử điểm một vài tin
chính: ở Nam Cực, tháng 3/2002, các nhà khoa học tận mắt chứng kiến khối băng 500 tỷ
tấn tan rã thành hàng nghìn mảnh; ở Bắc Cực, mùa hè 2002, lượng băng tan ở Greenland
- 8 -
cao gấp đôi so với 1992, diện tích băng tan đã lên tới 655.000 m
2
. Hơn 110 sông băng và
những cánh đồng băng vĩnh cửu ở bang Montana đã biến mất trong vòng 100 năm qua. Các
sông băng sẽ hầu như biến mất khỏi dãy Alpes vào năm 2050 (nếu độ tan chảy duy trì như
hiện nay). Mùa hè 2002, các nhà khoa học ghi nhận một khối băng 3,5 triệu tấn tách ra, gây
ra lũ băng từ dãy núi Mali trên đỉnh Kavkaz thuộc Nga. Trong vòng 13 năm gần đây, số
băng tan ở châu Âu tăng gấp đôi so với lượng băng tan của 30 năm trước (1961-1990).
Băng tan và nhiệt độ tăng làm nở thể tích trung bình của nước được coi như hai nguyên
nhân chính dẫn đến mực nước đại dương cao dần lên, làm tràn ngập các đồng bằng thấp ven
biển. Các số liệu quan trắc mực nước biển thế giới cho thấy mức tăng trung bình trong vòng
50-100 năm qua là 1,8 mm/năm. Nhưng chỉ trong 12 năm gần đây, các số liệu đo đạc của vệ
tinh NASA cho thấy xu thế biển dâng đang gia tăng rất nhanh, với tốc độ trung bình là 3
mm/năm. Báo cáo của IPCC, do hàng chục nhà khoa học soạn thảo và hơn 2000 nhà khoa
học từ 130 quốc gia tham gia đóng góp ý kiến, đưa ra dự báo: đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ
bề mặt Trái đất sẽ tăng thêm từ 1,4 đến 4°C, mực nước biển sẽ dâng thêm khoảng 28-43
cm. Nhiều nhà khoa học còn đưa ra những dự báo mực nước biển đang dâng nhanh hơn
nhiều, nhất là do hiện tượng tan băng đang xảy ra với tốc độ đáng kinh ngạc trong thời gian
gần đây. Nhà địa lý học Richard Alley ở Đại học Pennsylvania, Hoa Kỳ nói: Chỉ cần 15%
lớp băng ở Greenland bị tan cũng tạo ra một khối nước mới trong các đại dương đủ để làm
ngập tiểu bang Florida của Hoa Kỳ và nhiều vùng duyên hải khác trên thế giới.
Bộ Môi trường Nhật Bản cho biết sẽ cần hơn 64,5 tỷ USD để đối phó với mực nước biển

vốn đóng góp chưa đến 1% lượng khí thải cacbon gây tình trạng ấm dần lên toàn cầu. Đồng
thời, cũng cảnh báo BĐKH sẽ khiến toàn bộ mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) về
giảm đói nghèo, trẻ em chết yểu và lan tràn dịch bệnh sẽ khó thành hiện thực. BĐKH cũng
sẽ khiến hàng trăm triệu người thiếu nước sinh hoạt vào năm 2013.
- 10 -
Hậu quả của BĐKH cho đến nay vẫn được ví như “khủng hoảng im lặng”, do ít được chú
tâm. Khủng hoảng này đang đe dọa tới sức khỏe cộng đồng, sản lượng lương thực và an
ninh quốc gia. Các nhà khoa học, các chuyên gia đã cảnh báo, BĐKH đe dọa gây thiệt hại
tương đương một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân và kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới
khẩn trương giải quyết vấn đề này.
Hiện nay, các nhà khoa học và y học ngày càng quan tâm đến sự gia tăng của các bệnh
nhiệt đới, các bệnh do nguồn nước, môi trường ô nhiễm gây ra.Ngoài ra, còn rất nhiều các
vấn đề về sức khỏe có liên quan đến BĐKH. Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong Ngày Sức
khỏe thế giới đã nhấn mạnh vào mối liên hệ giữa sức khỏe và sự nóng lên của Trái Đất.
Thông điệp cho thấy, sự BĐKH làm sức khỏe của con người giảm đi rất nhiều lần, đây là
điều mà các bác sĩ cần phải chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với hậu quả của nó.
Từ thế kỷ trước tác động của hiệu ứng nhà kính dẫn đến sự thay đổi khí hậu toàn cầu đã trở
thành một nguy cơ sinh thái nghiêm trọng có ảnh hưởng tới đời sống của loài người và các
mối tương tác với các loài khác. Hiện tượng này còn được coi như là một động lực chính
chi phối mối tương tác giữa “tác nhân gây bệnh - vật lây truyền/môi trường - sinh vật chủ”
của hầu hết các bệnh do nhiễm khuẩn. Nhóm chuyên gia liên chính phủ về Thay đổi khí hậu
(IPCC) đã cảnh báo rằng, đến năm 2080, khoảng từ 1,5 đến 3,5 tỷ người trên thế giới, nhất
là ở các nước đang phát triển sẽ phải đối mặt với nguy cơ mắc sốt xuất huyết mà nguyên
nhân là do BĐKH, trái đất ấm lên. Bệnh sốt rét, các bệnh liên quan đến côn trùng hiện đã
được khống chế ở các nước nhiệt đới. Nhưng nếu nhiệt độ tăng lên, muỗi mang mầm bệnh
số rét sẽ phát triển, sống lâu hơn. Theo báo cáo của Trung tâm Dịch tễ học và Sức khỏe của
Australia, sẽ có khoảng 20 đến 80 triệu người sống trong những vùng dịch sốt rét đến năm
2080.
Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy số lượng các trận bão không thay
đổi, nhưng số trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ,

nước phát triển, trẻ em dưới 18 tuổi chiếm khoảng 20% dân số thì các nước chịu nhiều ảnh
hưởng của BĐKH mà hầu hết là nước thu nhập thấp, trẻ em dưới 18 tuổi lên đến gần một
nửa dân số (như 42% ở Băng-la-đét, 51% ở An-giê-ri, 57% ở U-gan-da). Quan trọng hơn là
trẻ em dưới 5 tuổi chiếm tới 10 - 20% dân số ở các nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi
BĐKH như Ấn Độ (11%), Băng-la-đét (12%), An-giê-ri và Mô-dăm-bích (17%), U-gan-da
(21%), trong khi các nước có thu nhập cao, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi chỉ chiếm 4 - 5% dân số.
- 12 -
Bộ Môi trường Nhật Bản cho biết sẽ cần hơn 64,5 tỷ USD để đối phó với mực nước biển
dâng cao do băng tan ở hai cực. Phía Nhật Bản ước tính nếu mực nước biển tăng thêm 1
mét, 90% số bãi biển của nước này sẽ bị “nuốt chửng”, sản lượng lúa sẽ giảm 50% Các
nguồn tin cũng cho biết Trung Quốc đang xem xét việc xây dựng hệ thống đê kiên cố dọc
suốt bờ biển, một kế hoạch được coi là xây dựng một “Vạn lý trường thành mới”.
3.2. Tại Việt Nam
3.2.1. Thực trạng biến đổi khí hậu
Một số phác thảo BĐKH ở Việt Nam đã được công bố tại Hội thảo BĐKH toàn cầu
và giải pháp ứng phó của Việt Nam tại Hà Nôi tháng 2/2008, được trình bày tóm tắt dưới
đây.
Bảng 1.Thông báo Quốc gia về Biến đổi khí hậu ở Việt Nam (so với năm 1990)
Năm Nhiệt độ tăng thêm(0C) Mực nước biển tăng thêm (cm)
2010 0,3-0,5 9
2050 1,1-1,8 33
2100 1,5-2,5 45
Bảng 2. BĐKH các vùng của Việt Nam (nhiệt độ tăng thêm 0C so với năm 1990)
Năm Tây Bắc Đông Bắc Đồng
bằng BB
Bắc Trung
Bộ
Nam
Trung Bộ
Tây

hậu thời tiết toàn cầu. Chính sự biến đổi phức tạp của hệ thống khí hậu thời tiết toàn
cầu đã và đang làm tăng thêm tính cực đoan của khí hậu thời tiết Việt Nam.Như chúng
ta đã biết, Thời kỳ băng hà cuối cùng của địa cầu trong kỷ Đệ tứ (băng hà Wurm 2) lạnh
nhất cách đây khoảng 18.000 năm. Tại thời điểm đó: Biển lùi xa về phía Đông. Đường bờ
biển thời đó nằm trên thềm lục địa ở độ sâu 100- 120 m so với mực nước biển hiện tại. Toàn
bộ vùng Vịnh Bắc Bộ và thềm Sunda (nối liền Nam Bộ Việt Nam với Indonesia), vịnh Thái
Lan còn là đất liền. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Việt Nam vào thời băng hà lạnh nhất
đó thấp hơn so với ngày nay khoảng 5-7°C. Băng bắt đầu tan và mực nước biển bắt đầu
dâng lên từ khoảng 15.000 năm trước đây. Nhiệt độ Trái đất cũng như đường bờ biển đạt
đến mức như bây giờ vào khoảng 10.000 năm nay.Tuy nhiên, Trái đất vẫn tiếp tục nóng lên
và băng tiếp tục tan, biển vẫn tiến lấn sâu hơn vào so với đường bờ hiện tại. Nhiều bằng
chứng thực vật ở Đông Nam Á cho thấy, nhiệt độ trung bình ấm hơn ngày nay chừng 2°C ở
- 14 -
khoảng 8.000 năm cách nay, nhưng phải đến khoảng 6.000-5.000 năm cách nay, băng mới
ngừng tan và nước biển mới dừng ở độ cao 4-6 m so với mực nước biển ngày nay (biển tiến
Flanđri). Các nhà nghiên cứu khảo cổ Việt Nam đã phát hiện nhiều bằng chứng về con
người trong lịch sử đã chịu ảnh hưởng của các đợt biển tiến do nhiệt độ Trái đất ấm lên đó.
Do mực nước biển dâng cao hơn ngày nay 4-6 m, biển lấn sâu vào lục địa có chỗ tới hàng
trăm km. Dấu tích đường bờ biển đương thời xuất lộ ngay ở sát rìa Hà Nội, đến tận sát chân
các dãy núi đá vôi thuộc Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa và các tỉnh miền Trung. Những tài
liệu nghiên cứu chi tiết về địa chất học và khảo cổ học còn cho biết, từ đó đến nay, xu
hướng chung là biển lùi, song vẫn có một số chu kỳ tiến, lùi với biên độ dao động mực
nước biển trên dưới 2-3 m vào khoảng trước 3000 năm, sát trước và sau công nguyên và
khoảng 1000-1200 năm sau công nguyên đến nay. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, nếu
chu kỳ biển tiến, lùi với biên độ thời gian khoảng 800-1000 năm thì hiện tại chúng ta đang
ở đoạn cuối của chu kỳ biển tiến hiện đại, không loại trừ tốc độ sẽ nhanh hơn nhiều hoặc có
đột biến. Như vậy, mực nước biển dâng đang xảy ra nằm trong chu trình chung của biến
động, cộng thêm tác động nhanh do hiệu ứng nhà kính gây ra. Vậy chúng ta thấy gì và nghĩ
gì về những hiểm họa này trước thực tế và thực tiễn Việt Nam? Những biến động thời tiết
bất thường gây thiệt hại lớn cho đời sống dân cư và thiên tai cần được nghiên cứu, xem xét

càng rõ ràng. Nếu như năm 1990, TP.HCM chỉ có 10 điểm ngập thì đến năm 2003, số điểm
ngập đã tăng lên 80 điểm và hiện là 100 điểm ngập.Th.s Hoàng Phi Long, ĐH Bách Khoa
dự tính, nếu mức thủy triều đỉnh chỉ cần tăng lên 50cm nữa thì gần như 90% diện tích đất
của TPHCM đều bị ngập. Khảo sát của Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và môi trường
cho biết, tại Bến Tre, mực nước biển đã dâng lên khoảng 20 cm so với cách đây 10 năm,
hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện ngày càng nhiều. “Trước đây vùng này không hề có
bão nhưng năm 2007 đã có bão ”. Do biến đổi khí hậu, ô nhiễm mặn đã tăng lên khoảng
20% so với trước đó 10 năm. Tại Thừa Thiên - Huế, thay đổi khí hậu còn đậm nét hơn,
cường độ mưa tăng rõ rệt. Từ năm 1952 đến 2005 đã có 32 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp và
lũ lụt thường xuyên hơn nửa đầu thế kỷ trước. Không những thế, mực nước biển và đỉnh lũ
lần sau luôn cao hơn lần trước. Chỉ riêng năm 1999, mực nước biển tháng 11 đã lên đến
mức cao nhất so với trước đây. “Thay đổi khí hậu làm gia tăng thiên tai ở nhiều vùng miền
của VN. Điều này được thể hiện rõ qua hiện tượng bão lụt xảy ra liên tiếp tại khu vực
duyên hải miền Trung VN những năm gần đây”. Theo dự báo của Văn phòng quản lý điều
tra tài nguyên biển và môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), ở Việt Nam mực nước
biển sẽ dâng cao từ 3 đến 15 cm năm 2010 và từ 15 đến 90 cm vào năm 2070; các vùng ảnh
- 16 -
hưởng gồm có Cà Mau, Kiên Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình.
Cũng theo dự báo này, nếu mực nước biển dâng cao 1 mét thì 23% dân số sẽ thiếu đất.
3.2.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
a. Tác động tới yếu tố tự nhiên và môi trường
Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển làm cho khí hậu các vùng ở nước ta nóng lên, kết hợp với sự
suy giảm lượng mưa làm cho nhiều khu vực khô hạn hơn. Năm 2010, nhiệt độ có khả năng
tăng khoảng 0,3 - 0,5
0
C và mực nước biển tăng thêm 9cm; tương tự, từ 1,1 - 1,8
0
C và 45cm
vào năm 2100. Những khu vực có nhiệt độ tăng cao nhất là vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và
Bắc Trung Bộ, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1 - 0,3

toàn mất sức sản xuất nông, lâm nghiệp. Chỉ tính riêng đợt rét kéo dài 33 ngày đầu năm
2008, theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đã có 33.000 con
trâu, bò, 34.000 ha lúa đã cấy, hàng chục ngàn ha mạ non, nhiều đầm nuôi tôm ở tất cả các
tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ đã chết và ước tính thiệt hại lên tới hàng ngàn tỉ đồng. Hệ
sinh thái rừng bị ản hưởng theo các chiều hướng khác nhau, nước biển dâng làm giảm diện
tích rừng ngập mặn, tác động xấu đến rừng tràm, rừng trồng trên đất nhiễm phèn ở các tỉnh
Nam Bộ. Ranh giới rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể dịch chuyển, nguy cơ
diệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số loài thực vật quan trọng như trầm
hương, hoàng đà, pơ mu, gỗ đỏ, lát hoa, gụ mật… có thể bị suy kiệt. Nhiệt độ và mức độ
khô hạn gia tăng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh… Qũy đất
canh tác nông nghiệp nói chung, đất trồng lúa nói riêng bị thu hẹp đáng kể vì phần lớn đất
trồng lúa nằm ở vùng đất thấp tại đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, ảnh hưởng
nặng nề đến sản xuất lương thực; mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷ sinh
nước ngọt, cùng với nguy cơ nguồn nước sông bị suy giảm về lưu lượng, dẫn đến việc giảm
năng lực nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long. BĐKH
cũng gây nhiều tác động tiêu cực tới trữ lượng các bãi cá và nghề đánh bắt trên các vùng
biển nước ta. Cường độ mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian ngắn
dẫn đến sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là loài nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò…)
bị chết hàng loạt do không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi. Các loại cá nhiệt đới
kém giá trị kinh tế tăng, ngược lại các loại cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị giảm
hoặc mất hẳn. Thay đổi nhiệt độ còn là dịch bệnh xảy ra cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi,
cùng với môi trường nước xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi
sinh vật gây hại.
c. Tác động đối với đời sống - xã hội
Ở nước ta trong những năm gần đây, số lượng người mất nhà cửa và kinh tế lâm vào khó
khăn sau mỗi trận bão, lũ lụt… là rất lớn. Điển hình là cơn bão số 4 năm 2008 đã làm
- 18 -
162 người chết, làm sập, hỏng 11.500 căn nhà, trường học, gây ngập úng 27.200 ha lúa và
hoa màu, làm sạt trôi và bồi lấp 2,3 triệu khối đất đá trên các công trình giao thông, thủy lợi
và các khu nuôi trồng thủy sản, làm chết 28.000 gia súc, gia cầm, thiệt hại lên tới 1.900 tỉ

Hồng, 1996
89, 0 / 82 - 84,265 căn nhà bị đổ và ngập
- 1,313 lớp học bị thiệt hại
- 57,900 ha lúa bị ngập
- 11,675 ha đất nông nghiệp bị
thiệt hại
- 806 ha ao tôm/cá bị ngập
tràn
- 178 tấn cá và tôm bị thiệt hại
30
Bão Linda ở Cà
Mau, 1997
778, 2123 /
1232
- 312,456 căn nhà bị đổ và phá
huỷ
- 7,151 trường bị phá huỷ
- 348 bệnh viên và trung tâm y
tế bị ngập và phá huỷ
- 323,050 ha ruộng lúa bị thiệt
hại
- 57,751 ha đất nông nghiệp bị
ngập và phá huỷ
- 136,334 ha đầm cá bị ngập
- 7,753 tàu thuyền bị phá huỷ
450
Các đợt hạn hán
1997, 1998
- tổn thất nặng nề cây trồng ở
miền Trung

- 2,484 tấn cá tôm bị phá huỷ
250
Các trận lũ sông ở
đồng bằng Sông
Cửu Long, 2001
393, 1 / 0 - 345,238 căn nhà bị hư hại
- 5,315 lớp học bị huỷ hoại
- 20,690 ha ruộng lúa bị ngập
và thiệt hại
- 1,872 ha đất nông nghiệp bị
thiệt hại
- 4,580 ha đầm nuôi cá tôm bị
ngập
- 969 tấn cá tôm bị phá huỷ
100
- 21 -
Cơn bão Damrey
ở miền Bắc và
Bắc Trung Bộ,
2005
10, 0 / 11 - 113,431 căn nhà bị hư hại
- 3,922 lớp học bị huỷ hoại
- 2,227,627 ha ruộng lúa bị
ngập và thiệt hại
- 55,216 ha đất nông nghiệp bị
thiệt hại
- 21,193 ha đầm nuôi cá tôm
bị ngập
- 1,300 tấn cá tôm bị phá huỷ
200

than đá, dầu lửa. Có rất nhiều các biện pháp liên ngành và đòi hỏi các chính sách phù hợp
với từng nước và từng địa phương với mục tiêu tối đa. Mặt khác, chúng ta phải làm sao
có những biện pháp đối phó thích nghi sống cùng biến đối khí hậu và tránh thiệt hại tối
đa, chính sách, truyền thông các biện pháp ứng phó. Khi chúng ta đắp đê biển chúng ta
trồng rừng ngập mặn ở phía ngoài để bảo vệ. Để có thể giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu
thế giới cần tăng cường các biện pháp nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính từ các
nước công nghiệp và huy động sự tham gia nhiều hơn nữa của các nước đang phát triển,
đề ra các biện pháp khuyến khích các nước này hạn chế mức phát thải, đồng thời đảm
bảo tăng trưởng kinh tế.
4.1. Những giải pháp khắc phục trên thế giới
• Thích ứng
Thích ứng phản ứng lại gồm: Quản lý sạt lở, duy trì đất màu mỡ, xây dựng đập thuỷ lợi,
chương trình giáo dục mở rộng đối với việc quản lý và bảo vệ nguồn đất và nước, thay
đổi việc sử dụng và áp dụng phân bón, thay đổi thời gian trồng trọt và thu hoạch, chuyển
đổi loại cây trồng. Thích ứng truớc kỳ hạn gồm: nghiên cứu và phát triển các vấn đề
trong nông nghiệp; quản lý đất và nước; có các biện pháp về chính sách khuyến khích trợ
- 23 -
cấp về thuế; cơ chế thị trường, đa dạng hoá và tăng cường về lươong thực cũng như vụ
mùa; phát triển vụ mùa có khả năng chịu hạn, mặn, côn trùng, sâu bọ; phát triển hệ thống
cảnh báo sớm cho các sự kiện cưc đại; các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu.
Trong nông nghiệp và lâm nghiệp sử dụng nhiều phân bón hữu cơ để tránh phát
thải khí metan rất nhiều. Đôi khi những thay đổi tưởng như tầm thường lại có thể giúp
được người dân đối phó được với tai họa tiềm tàng. Chẳng hạn tại các vùng thường
xuyên ngập lụt, tổ chức CARE đã dạy cho người dân chuyển từ nuôi gà sang nuôi vịt ví
dụ: phụ nữ Bangladesh chuyển từ nuôi gà sang nuôi vịt. (Trích báo cáo của CARE, tổ
chức nhân đạo chống nghèo khổ lớn nhất thế giới trình bày tại hội nghị chuẩn bị cho Hội
nghị thượng đỉnh LHQ về biến đổi khí hậu sẽ họp vào tháng 12/2009). Tại những vùng
khác lại cần chuyển đổi cả các giống cây trồng, từ những cây lương thực chỉ trồng trên
cạn sẽ được thay thế bằng những cây trồng chịu nước hoặc ngược lại. Với các biện pháp
ấy, dù khí hậu thay đổi thất thường, lụt hoặc hạn, người ta sẽ không bị mất trắng cả một

một thỏa thuận toàn cầu rằng mức CO2 ổn định ở 450 ppm hoặc thấp hơn.
Cắt giảm phát thải carbon 15% so với mức năm 2000 vào năm 2020, nếu có một thỏa
thuận mà các nền kinh tế lớn đang phát triển cam kết kiềm chế đáng kể lượng khí thải và
các nền kinh tế tiên tiến đưa vào sẽ so sánh với Úc.
Còn cắt giảm phát thải carbon 5% so với mức năm 2000 vào năm 2020 thì không cần
điều kiện ràng buộc.
Brazil
Cắt giảm phát thải carbon 38–42% so với mức năm 2005 vào năm 2020.
[3]
Điều này
tương đương với cắt giảm khoảng 5% đến 1,8% so với mức năm 1990 vào năm 2020.
Canada
- 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status