1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rubella là bệnh truyền nhiễm do vi rút rubella gây ra, bệnh thường xảy
ra ở trẻ em. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp. Ở trẻ em bệnh thường nhẹ với
các triệu chứng: Sốt nhẹ, buồn nôn, phát ban, sưng hạch bạch huyết sau tai,
cổ, chẩm và đau khớp… Tuy nhiên bệnh rubella có thể gây ra xảy thai, thai
chết lưu và hội chứng rubella bẩm sinh nếu người mẹ nhiễm rubella trong 3
tháng đầu của thai kì [1], [31].
Bệnh rubella xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và đã từng gây
ra đại dịch. Giai đoạn trước khi có vắc xin (1962 – 1965) dịch rubella xảy ra
trên phạm vi toàn cầu. Tại Mỹ có 12,5 triệu ca mắc rubella với hơn 20.000 trẻ
sơ sinh mắc hội chứng rubella bẩm sinh bao gồm các triệu chứng mù, điếc,
tim bẩm sinh, 11.250 ca thai chết lưu, 2.100 ca chết sơ sinh. Thiệt hại ước
tính khoảng 1,5 tỷ đô la [21], [22], [34]. Vắc xin rubella đã được triển khai
trên 100 nước và điều này đã làm giảm đáng kể số mắc rubella [21]. Tuy
nhiên theo thông báo của Tổ chức Y thế giới trong những năm gần đây hàng
năm có khoảng 200.000 ca mắc rubella mỗi năm, tỷ lệ mắc hội chứng rubella
bẩm sinh là 0,1 – 0,2/1.000 trẻ đẻ sống. Trên thực tế con số này còn lớn hơn
nhiều [31], [32].
Việt Nam là nước chưa triển khai vắc xin rubella trong chương trình
tiêm chủng mở rộng. Số ca mắc rubella được ghi nhận hàng năm trong
chương trình tiêm chủng mở rộng từ hàng trăm đến hàng nghìn ca và có xu
hướng tăng trong những năm gần đây. Theo thống kê năm 2011 dịch rubella
xảy ra ở hầu hết các tỉnh với tổng số mắc rubella lên đến hơn 7.259 ca chiếm
55% số ca nghi sởi/rubella được báo cáo [13]. Năm 2012 trên toàn quốc có
185 ca mắc rubella và có xu hướng giảm, tuy nhiên dịch rubella vẫn chưa
được khống chế [14].
2
Tại tỉnh Thái Bình từ năm 2003 đến nay hàng năm đều ghi nhận thấy số
ca mắc rubella, số mắc hàng năm từ vài chục đến vài trăm ca [14]. Đặc biệt
trong những năm gần đây số ca mắc rubella tại tỉnh Thái bình cao nhất toàn
người bệnh và khẳng định nguyên nhân gây bệnh là do vi rút.
Năm 1940: Báo cáo đầu tiên về hội chứng rubella bẩm sinh. Sau vụ
dịch xảy ra tại Australia, nhà nhãn khoa Norman Gress ghi nhận 78 trường
hợp đục thủy tinh thể bẩm sinh từ các bà mẹ nhiễm rubella trong thời kỳ
mang thai.
Năm 1962: Parman và Weller lần đầu tiên phân lập được vi rút và xếp
vi rút rubella vào nhóm Togavirus.
Năm 1963 – 1964: Dịch sốt phát ban xảy ra ở Châu Mỹ và Châu Âu
với hàng chục triệu ca mắc rubella và hàng chục nghìn ca mắc hội chứng
rubella bẩm sinh.
Năm 1966: Vắc xin rubella được chế tạo thành công.
Năm 1969: Vắc xin rubella lần đầu tiên được cấp phép sử dụng tại Mỹ.
Năm 1971: Ở Mỹ đã thành công trong việc kết hợp 3 vắc xin sởi, quai
bị, rubella (MMR) trong một mũi tiêm [33].
1.1.2 Việt Nam.
Năm 2003: Các số liệu rubella lần đầu tiên được thu thập trong chương
trình Tiêm chủng mở rộng [11].
4
Năm 2005: Bệnh xuất hiện ở 54/64 tỉnh thành phố, dịch xảy ra với hơn
11.000 ca mắc rubella [12].
Năm 2011: Dịch rubella xảy ra ở hầu hết các tỉnh thành trong toàn quốc
với gần 8.000 ca mắc rubella [13].
1.2 Tác nhân gây bệnh
1.2.1 Vi rút rubella
Thuộc họ Togaviridae và giống Rubivirus. Vi rút rubella chứa vật liệu
di truyền là ARN, có vỏ bọc. Vi rút này có duy nhất 1 typ kháng nguyên,
không có phản ứng chéo với các thành viên khác trong họ Togavirus. Vi rút
rubella bị bất hoạt bởi dung môi lipid, trysin, formalin, tia cực tím, PH thấp và
nhiệt độ cao [2], [4], [17].
1.2.2 Hình thể, cấu trúc
các cơ quan. Nếu nhiễm rubella khi thai nhi từ 20 tuần trở lên tỷ lệ mắc CRS
rất thấp, gần như bằng 0. Các tổn thương trong CRS có thể gặp là: Điếc bẩm
sinh là biểu hiện thường gặp nhất xảy ra ở khoảng 70 – 90% số trường hợp
mắc CRS. Các tổn thương mắt bao gồm: Đục thủy tinh thể bẩm sinh, tăng
nhãn áp bẩm sinh, bệnh võng mạc, các bệnh nhãn cầu to, nhỏ, lệch vị trí …
Bệnh tim bẩm sinh: Hẹp động mạch phổi, dị tật tại vách ngăn tâm thất… Các
biến chứng khác cũng có thể gặp như chậm phát triển trí tuệ, viêm não màng
não, chậm phát triển, tổn thường gan, lách, tổn thương các cơ quan nội tiết…
Các tổn thương này có thể đơn thuần hoặc phối hợp, tổn thương tạm thời hoặc
vĩnh viễn [4], [31].
1.3.2 Chẩn đoán bệnh rubella và CRS
1.3.2.1 Chẩn đoán rubella
Có rất nhiều tác nhân gây sốt phát ban sẩn như sởi, sốt dengue,
parovirus người B19, vi rút herpes 6 gây bệnh ở người. Vì vậy chẩn đoán
bệnh rubella dựa vào lâm sàng ít được tin cậy và không chẩn đoán xác định
được bệnh.
Chẩn đoán cận lâm sàng: Do vi rút rubella phát triển chậm trên tế bào
nuôi cấy và khó nhận biết hiện tượng hủy hoại tế bào nên không sử dụng phân
lập vi rút để chẩn đoán mà chỉ để nghiên cứu dịch tễ học phân tử của vi rút
rubella. Chẩn đoán huyết thanh học được coi là biện pháp tốt nhất. Có nhiều
phương pháp chẩn đoán huyết thanh học và phương pháp ELISA phát hiện
kháng thể IgM là thích hợp nhất vì có độ nhạy cảm cao, sử dụng rộng rãi và
dễ thực hiện [15], [31].
7
1.3.2.2 Chẩn đoán CRS
Xét nghiệm huyết thanh tìm kháng thể đặc hiệu IgM kháng rubella.
Nếu không tìm thấy IgM trong thời kỳ sơ sinh thì có thể loại trừ được CRS.
Phát hiện kháng thể IgM đặc hiệu trong huyết thanh hoặc nước bọt tại thời
điểm trẻ không nhận được kháng thể mẹ truyền nữa.
Phân lập vi rút rubella hoặc xác định ARN bằng phương pháp RT –
sau khi hết kháng thể mẹ truyền, trẻ đều có tính cảm nhiễm với bệnh.
Miễn dịch chủ động được tạo ra sau khi mắc bệnh hoặc sau khi tiêm
vắc xin. Miễn dịch sau khi mắc bệnh thường bền vững và tồn tại suốt đời.
Miễn dịch sau khi tiêm vắc xin phụ thuộc vào các trường hợp bệnh lưu hành
tại địa phương [16], [19], [31].
1.5 Đặc điểm dịch tễ bệnh rubella
Bệnh rubella xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới, cả nam và nữ,
trẻ em cũng như người lớn [2].
1.5.1 Phân bố bệnh rubella trên thế giới.
Năm 1999, trên toàn thế giới có 874.713 ca rubella, năm 2000 có
671.293 ca rubella, năm 2001 có 836.356 ca. Việc triển khai vắc xin rubella ở
100% nước phát triển làm giảm mạnh số mắc và làm thay đổi đáng kể đặc
điểm dịch tễ học bệnh rubella ở các nước này. Tuy nhiên, dịch rubella vẫn
tiếp tục xảy ra tại nhiều nước đang phát triển [26].
1.5.1.1 Phân bố mắc rubella giai đoạn trước triển khai vắc xin rubella
Tại các nước phát triển giai đoạn trước triển khai vắc xin
Tỷ lệ mắc rubella tại các nước phát triển giai đoạn trước triển khai vắc
xin rất cao: Tại Phần Lan, trước năm 1975 tỷ lệ mắc rubella hàng năm dao
động từ 33 – 249 ca/100.000 dân. Tại Hy Lạp, trong các năm từ 1977 – 1983
tỷ lệ này là 51 – 181 ca/100.000 người. Giai đoạn từ năm 1962 – 1965 đã xảy
9
ra dịch rubella trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt tại Mỹ ghi nhận 12,5 triệu ca
mắc rubella với 11.000 ca thai chết lưu và 20.000 ca CRS [17].
Tại các nước đang phát triển
Trong những năm gần đây, trên 80% số ca mắc rubella trên thế giới xảy ra
tại các nước thuộc Liên Xô cũ với 150.000 – 500.000 ca mắc rubella hàng năm.
Trong đó nước Nga có số mắc cao nhất. Các nước có số mắc trên 20.000 ca bao
gồm Belarus, Bulgaria, Kazakhstan, Ba Lan, Ukraine. Trong các năm từ 1982 –
2000, tại Kyrgyzstan tỷ lệ mắc dao động từ 4 – 86/100.000 dân [23], [34].
1.5.1.2 Tỷ lệ mắc rubella giai đoạn sau triển khai vắc xin rubella
1.5.1.4 Phân bố mắc theo nhóm tuổi
Theo Tổ chức Y tế thế giới, trước khi triển khai vắc xin trên diện rộng,
tuổi trung bình nhiễm vi rút rubella là 6 – 12 tuổi tại các nước phát triển và 2
– 8 tuổi tại khu vực thành thị của các nước đang phát triển. Việc triển khai
tiêm vắc xin cho trẻ nhỏ sẽ làm tăng tỷ lệ cảm nhiễm ở người lớn, đặc biệt ở
nhóm phụ nữ tuổi sinh đẻ. Điều này thể hiện rất rõ tại Hy Lạp trong những
năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 [20], [28].
Theo báo cáo của CDC và PAHO, 2005, tại Mỹ sau khi triển khai vắc
xin rubella (1969 – 1976), tỷ lệ mắc rubella giảm ở tất cả các nhóm tuổi
nhưng giảm rõ nhất ở nhóm dưới 15 tuổi [18].
Tại Hy Lạp tỷ lệ PNTSĐ mắc rubella trong tổng số ca mắc chiếm tỷ lệ
cao nhất trong năm 1993 khi xảy ra vụ dịch quy mô lớn nhất so với các năm
xảy ra trước đó. Tỷ lệ PNCT dao động trong khoảng 20 – 35% vào những
năm cuối 80 và đầu năm 90 [29].
Tại Australia các ca nam mắc rubella tập trung ở nhóm nam thanh
niên trẻ, trong khi các ca nữ giới mắc rubella ở hầu hết các giai đoạn của
độ tuổi sinh đẻ [24].
11
Nhìn chung, ở các nước chưa triển khai vắc xin rubella và các nước
phát triển trước giai đoạn triển khai vắc xin, bệnh rubella thường gặp ở nhóm
tuổi nhỏ (dưới 10 tuổi). Tại các nước đã triển khai vắc, bệnh thường gặp ở
nhóm tuổi lớn hơn (tuổi từ 15 trở lên) .
1.5.1.5 Phân bố mắc theo giới
Bảng 1.1: Tình hình phân bố ca mắc rubella theo giới tại Australia giai đoạn
1991 – 2000 (Julia Brotherton & Mohammad Hibib, 2001) [25].
Năm Tỷ lệ mắc/100.000 nam Tỷ lệ mắc/100.000 nữ
1991 1,1 0,9
1992 7,1 3,8
1993 27,1 12,3
1994 4,9 2,6
với 200 – 300 ca [22].
Theo tác giả Panagiotopoulos T. , Georgakopoulou T. (2004): Năm 1993 xảy
ra vụ dịch rubella với quy mô lớn tại Hy Lạp. Sau 1993, chỉ xảy ra các vụ
dịch rubella nhỏ chủ yếu ở các nhóm thanh niên trẻ. Năm 1999, trước khi dịch
rubella lây truyền trong dân chúng, đã xảy ra vụ dịch rubella nhỏ trong doanh
trại bộ đội [29].
Theo nghiên cứu của James L. Gale và cs. (1972) tại Đài Loan sau 10 năm
không xảy ra dịch rubella, dịch xuất hiện năm 1968 ở các tỉnh phía Bắc và đầu
năm 1969 ở các tỉnh phía Nam, các năm 1970 và 1971 không tái phát xảy ra dịch.
Tỷ lệ tấn công cao ở các tỉnh phía Bắc, các tỉnh miền Trung và Nam có tỷ lệ tấn
công thấp hơn. Tỷ lệ tấn công ở nhóm trẻ đi học là 84% (huyết thanh học) [24].
Theo báo cáo của CDC & PAHO, trước khi triển khai vắc xin rubella
hàng năm tại Mỹ xảy ra hàng loạt vụ dịch rubella lớn. Chỉ trong các năm 1962
– 1965 có 12,5 triệu ca mắc. Sau triển khai vắc xin rubella, trong những năm
1970 mặc dù số mắc rubella giảm mạnh nhưng vẫn xảy ra dịch với nhóm trẻ
13
vị thành niên lớn và thanh niên trong các trường cấp III, trung học và đại học,
doanh trại quân đội và nhân viên y tế. Trong những năm 1980, vẫn ghi nhận
các vụ dịch xảy ra trong trường đại học, cơ sở y tế và các cơ quan. Trong năm
1990, ghi nhận các vụ dịch xảy ra ở nhóm người lớn chưa tiêm chủng vắc xin
rubella tại các trường trung cấp, nơi làm việc, vùng tôn giáo và nhà tù. Từ
những năm 2000, tại Mỹ không ghi nhận vụ dịch nào. Đến 2004, CDC xác
nhận đã cắt đứt chu trình lây truyền bệnh rubella tại Mỹ [18].
Theo nghiên cứu của Kklau & cs., 1998 từ tháng 10/1996 – 6/1997, tại
Hồng Kông đã xảy ra vụ dịch với số mắc rubella trên 4.000 ca. Các ca mắc
tập trung ở nhóm trẻ trai 10 – 12 tuổi [20].
Theo các nghiên cứu Youngwang Yan, tại huyện Jingzhou, tỉnh Hubei,
Trung Quốc, khi tiến hành theo dõi 11 năm, đã phát hiện 566 ca rubella với 3
đỉnh vào các năm 1992, 1997 và 2002 và 13 vụ dịch. Số ca mắc rubella trong
các vụ dịch rubella chiếm 96,6% tổng số ca mắc .
2012 là 12,6%, các năm còn lại tỷ lệ này khá cao từ 47% – 67% . Tỷ lệ % mẫu xét
nghiệm có IgM kháng rubella (+) cao điều này cho thấy vi rút rubella là tác nhân
đáng lưu ý gây hội chứng sốt phát ban trong những năm gần đây [14].
Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Thanh Huyền (2004 – 2006)
cho thấy dịch rubella xảy ra tại miền Bắc, Việt Nam có tích chất chu kì trên 2
năm, với tỷ lệ mắc rubella/100.000 dân là từ 2 – 25/100.000 dân. Bệnh rubella
tại miền Bắc, Việt Nam có tính chất theo mùa. Tháng 2 – 4 hàng năm có số
mắc rubella cao hơn các tháng còn lại, đỉnh dịch vào tháng 3 hàng năm [3].
Phân bố bệnh rubella theo địa lý:
15
Theo Huỳnh Thị Phương Liên (2003), cho thấy tỷ lệ trẻ em dưới 15
tuổi đã từng phơi nhiễm với vi rút rubella tại Tiên Lãng, TP. Hải Phòng
(8,4%) thấp hơn huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa (19,2%) [4].
Phân bố bệnh rubella theo giới tính:
Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Thanh Huyền (2004 – 2006), tại
miền Bắc, Việt Nam hàng năm nhóm nam giới có số mắc cao hơn nóm nữ
giới (chiếm > 50% tổng số mắc hàng năm) [3].
Phân bố bệnh rubella theo tuổi:
Theo nghiên cứu tại miền Bắc, Việt Nam (2004 – 2006), tỷ lệ mắc bệnh
ở trẻ em (52,53%) là cao hơn người lớn (47,47%). Phần lớn các ca bệnh tập
trung ở nhóm tuổi 10 – 14 tuổi (33,03% tổng số ca mắc bệnh) và 15 – 19 tuổi
(38,54%) [3].
Theo nghiên cứu của Huỳnh Thị Phương Liên về tỷ lệ phơi nhiễm với vi
rút rubella, tại huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng trên nhóm đối tượng trẻ dưới
15 tuổi thấy các ca phơi nhiễm tập trung ở nhóm 10 – 14 tuổi (47/61 = 77%)
[4]. Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Phượng về vụ
dịch rubella tại huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh năm 2005 cho thấy tất cả các
trường hợp bệnh nằm ở nhóm tuổi từ 18 tuổi trở lên, tập trung ở nhóm 18 – 25
tuổi (50,5%) và nhóm 26 – 30 tuổi (44,1%) [6].
1.6 Các biện pháp phòng chống
với phụ nữ có thai.
Thông báo cho cộng đồng tình hình dịch rubella và các biện pháp
phòng bệnh [2].
1.6.3 Chăm sóc và điều trị
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho rubella. Cách chữa chủ
17
yếu vẫn là cho bệnh nhân nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, sử dụng các thuốc nâng cao
thể trạng đặc biệt là vitamin, để tăng khả năng chống đỡ của cơ thể. Bệnh
rubella thường khỏi trong vòng vài ngày. Sử dụng globulin miễn dịch có tác
dụng phòng nhiễm rubella cho phụ nữ có thai, tuy nhiên hiệu quả của biện
pháp này không cao [2].
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
• Phân nhóm đối tượng:
Quần thể đích: Là toàn bộ dân số sống tại tỉnh Thái Bình từ năm 2005
đến năm 2012.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là hồ sơ bệnh nhân mắc rubella tại
tỉnh Thái Bình từ ngày 01/01/2005 đến ngày 31/12/2012.
18
Đối tượng nghiên cứu của bộ số liệu: Là các ca bệnh mắc rubella tại
tỉnh Thái Bình từ ngày 01/01/2005 đến ngày 31/12/2012.
• Định nghĩa ca rubella
− Ca rubella xác định phòng thí nghiệm: Ca nghi sởi/rubella có kết
quả xét nghiệm huyết thanh dương tính với kháng thể IgM đặc hiệu với
rubella, hoặc xác định được đoạn gen đặc hiệu của vi rút rubella hoặc
phân lập được vi rút rubella.
− Ca rubella xác định dịch tễ học: Ca nghi sởi/rubella có liên quan dịch tễ
học với trường hợp rubella được chẩn đoán xác định phòng thí nghiệm
hoặc khi ổ dịch/dịch rubella đã được xác định phòng thí nghiệm những
biệt năm 2011 dịch rubella xảy ra trên quy mô lớn [8].
2.3 Thời gian nghiên cứu
20
Thời gian nghiên cứu của đề tài: Từ tháng 11/2012 – 6/2013.
Thời gian nghiên cứu của bộ số liệu: Từ ngày 01/01/2005 đến ngày
31/12/2012.
2.4 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang hồi cứu.
2.5 Mẫu nghiên cứu
Áp dụng phương pháp lấy mẫu toàn bộ, tiến hành chọn các bệnh nhân
mắc rubella từ 01/01/2005 đến 31/12/2012 cho đến khi hết số bệnh nhân đáp
ứng đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu. Dựa vào danh sách bệnh nhân mắc rubella
từ năm 2005 – 2012 đã được xác nhận bởi hệ thống giám sát các bệnh truyền
nhiễm của Dự án Tiêm chủng mở rộng để tuyển chọn đối tượng nghiên cứu.
Kết quả là có 1405 trường hợp mắc rubella của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005
– 2012 đáp ứng tiêu chuẩn và được đưa vào nghiên cứu.
2.6 Các biến số, chỉ số
2.6.1 Một số biến số dùng trong nghiên cứu:
− Tuổi bệnh nhân: Tính theo ngày sinh (dương lịch).
− Giới tính bệnh nhân: Nam hoặc nữ.
− Nơi bệnh nhân ở khi bị bệnh: Phân theo huyện.
− Tháng năm bệnh nhân mắc bệnh: Là tháng, năm bệnh nhân bắt đầu
phát ban.
2.6.2 Một số chỉ số dùng trong nghiên cứu
Bảng 2.1 Danh sách chỉ số dùng trong nghiên cứu
Mục
tiêu
Tên chỉ số Định nghĩa
Phương
pháp
địa
dư
Tỷ lệ mắc
rubella /
100.000 dân
Tỷ lệ mắc theo
huyện (%)
Theo
giới
Tỷ lệ mắc
rubella theo
giới (%)
Tỷ suất mắc
bệnh nữ : nam
Theo
nhó
m
tuổi
Tỷ lệ mắc
rubella đặc
trưng theo
nhóm tuổi
Tỷ lệ mắc
rubella theo
nhóm tuổi trên
tổng số các ca
mắc rubella(%)
2.7 Phương pháp thu thập thông tin
2.7.1 Nguồn số liệu
Hồi cứu số liệu có sẵn tại Văn phòng Tiêm chủng mở rộng Quốc gia
rubella dương tính thì đó là ca rubella chẩn đoán phòng thí nghiệm. Nếu kết
quả xét nghiệm rubella âm tính thì đó không phải là ca rubella. Nếu ca nghi
sởi/rubella không được lấy mẫu làm xét nghiệm thì chẩn đoán cuối cùng sẽ
được dựa trên các triệu chứng lâm sàng theo định nghĩa tiêu chuẩn của Tổ
chức Y tế thế giới.
2.8 Phương pháp xử lý phân tích số liệu
• Làm sạch số liệu: Số liệu trước khi phân tích được làm sạch thông qua
các bước sau:
- Bước 1: Lập danh sách (khung mẫu) tất cả các hồ sơ bệnh nhân mắc
rubella sống tại tỉnh Thái Bình từ 01/01/2005 đến 31/12/2012.
- Bước 2: Lập danh sách các bệnh nhân thiếu thông tin, tìm lại phiếu
điều tra tại Văn phòng Tiêm chủng miền Bắc, cơ sở quản lý dữ liệu
tại tỉnh Thái Bình để bổ sung thông tin còn thiếu.
- Bước 3: Phân loại hồ sơ bệnh nhân mắc rubella theo các huyện của
tỉnh Thái Bình và thời gian mắc bệnh từ 2005 đến 2012.
• Phương pháp nhập liệu:
- Nhập liệu bằng phần mềm access và sử dụng phần mềm access files
compare để so sánh hai kết quả nhập liệu.
24
• Phương pháp phân tích số liệu:
- Số liệu được phân tích bằng chương trình Stata 11.0.
25
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
− Nghiên cứu không tiến hành trực tiếp với người bệnh mà chỉ thông qua
các hồ sơ sẵn có tại Văn phòng Tiêm chủng mở rộng quốc gia, VSDT
Trung ương trong giai đoạn nghiên cứu.
− Nghiên cứu được phép của Viện VSDT Trung ương và đã thông báo cho
cơ quan cung cấp số liệu về mục đích, nội dung và quá trình nghiên cứu.
− Các thông tin cá nhân như họ tên, địa chỉ chi tiết không sử dụng cho
phân tích cũng như đưa vào các báo cáo.