nghiên cứu yếu tố nguy cơ loãng xương và dự báo xác suất gãy xương theo mô hình garvan và frax ở nam và nữ giới trên 60 tuổi - Pdf 22

1
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
o0o
THI VN CHNG
NGHIÊN Cứu YếU Tố NGUY CƠ LOãNG XƯƠNG
Và dự BáO xác suất GãY XƯƠNG THEO MÔ HìNH GARVAN Và FRAX
ở NAM GIớI Từ 60 TUổI TRở LÊN
Chuyờn ngnh: Ni khoa
Mó s: 60720140
CNG LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS. NGUYN VNH NGC
H NI - 2013
B GIO DC V O TO B Y T
2
TRNG I HC Y H NI
o0o
THI VN CHNG
NGHIÊN Cứu YếU Tố NGUY CƠ LOãNG XƯƠNG
Và dự BáO xác suất GãY XƯƠNG THEO MÔ HìNH GARVAN Và FRAX
ở NAM GIớI Từ 60 TUổI TRở LÊN
CNG LUN VN THC S Y HC
PBGS
.T. NGUYN VNH NGC
H NI 2013
3
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN XIN PHÉP
Kính gửi:

BMC : Bone mineral content (Khối lượng chất khoáng xương)
BMD : Bone mineral density (Mật độ khoáng của xương)
BMI : Body mass index (Chỉ số khối cơ thể)
CS : CS
CSTL: Cột sống thắt lưng
CXĐ : Cổ xương đùi
DXA : Dual energy X ray absorptiometry (Hấp thụ tia X năng lượng kép)
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
MĐX : MĐX
PBM : Peak bone mass (Khối lượng đỉnh của xương)
PTH : Parathyroid hormone
WHO : World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới).
6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Loãng xương - một bệnh lý toàn thể của khung xương đặc trưng bởi sự giảm
khối lượng xương, tổn thương vi cấu trúc xương và tăng nguy cơ gãy xương. Với
tuổi thọ ngày càng cao, tỷ lệ mắc bệnh loãng xương cũng gia tăng ở mức báo động.
Hiện nay loãng xương ước tính ảnh hưởng đến 200 triệu người trên toàn thế giới,
hơn 75 triệu người ở Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản . Hàng năm chi phí cho cho dự
phòng, điều trị loãng xương và các biến chứng của loãng xương là rất lớn ở Mỹ là
13.7 đến 20.3 tỷ USD , ở Châu Âu 30.7 tỷ EUD , ở Anh 1,8 tỷ Pounds .
Từ lâu loãng xương đã được coi là bệnh của phụ nữ sau mãn kinh, song các
nghiên cứu gần đây đã cho thấy có tới 25% số nam giới toàn cầu có nguy cơ mắc
bệnh loãng xương . Tỉ lệ tử vong và giảm chất lượng cuộc sống sau gãy xương ở
nam giới nặng nề hơn so với nữ giới. Trong số các gãy xương đùi do loãng xương
nam giới chiếm 20 - 25% và tỉ lệ tử vong trong 12 tháng đầu sau gãy xương đùi ở
nam là 20% cao hơn so với nữ . Do vậy loãng xương ở nam ngày càng được quan
tâm nhiều hơn.
Ở nam giới có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây loãng xương và gãy xương do
loãng xương như: tuổi, chiều cao, cân nặng, hormon, chế độ sinh hoạt, luyện tập,

trung gian phân cách nhau bằng một lớp sụn. Lớp này càng ngày càng gia tăng, sau
đó calci hóa để làm xương dài ra. Khi giai đoạn phát triển của xương kết thúc, lớp
sụn calci hóa hoàn toàn. Phần ngoài của xương là một lớp mô calci hóa dày đặc gọi
là xương rắn (vỏ xương) chiếm 80% toàn bộ khung xương. Xương rắn bao bọc tủy
xương ở phần thân xương. Phía đầu xương, vỏ xương mỏng dần, bên trong cấu trúc
dạng mạng lưới ba chiều giúp xương phát huy chức năng cơ học tối đa với trọng
lượng tối thiểu gọi là bè xương hay xương xốp. Các khoảng trống bao quanh các bè
xương này chứa đầy tủy xương. Xương rắn và xương xốp khác nhau về cấu trúc.
Tám mươi đến chín mươi phần trăm khối lượng xương rắn bị calci hóa trong khi chỉ
có 15 – 25% xương xốp bị calci hóa. Do sự khác biệt về cấu trúc mà chức năng của
xương rắn và xương xốp cũng khác nhau. Xương rắn chủ yếu có vai trò cơ giới và
bảo vệ trong khi xương xốp có chức năng chuyển hóa.
- Vi thể: Xương bao gồm chất khuôn xương (Bone matrix) và các tế bào
xương. Chất khuôn xương là một khuôn hữu cơ, được làm bền vững thêm nhờ các
muối lắng đọng trên khuôn hữu cơ này. Khuôn hữu cơ chiếm 30% khối lượng trong
toàn bộ xương, gồm 90 – 95% các sợi collagen và 5 -10% các chất nền sulfat
chondroetin và axit hyaluronic. Các muối lắng đọng trên khuôn hữu cơ chiếm 70%
trọng lượng xương, chủ yếu là muối calci và phosphat, ngoài ra còn có muối Mg
2+
,
Na
+
, K
+
, HCO
3-
. Khác với các cấu trúc liên kết khác, khuôn xương có thể calci hoá.
9
- Chất khuôn xương có chứa glucoprotein và proteoglycin. Chúng giữ vai trò
quan trọng trong các giai đoạn calci hoá của xương và trong việc cố định các tinh

được biết đến đầy đủ.
10
Một chu kỳ tái tạo xương bắt đầu bằng sự huỷ xương do vai trò của huỷ cốt
bào, tiếp theo là giai đoạn chuyển đổi với sự kết thúc quá trình huỷ xương và bắt
đầu quá trình tạo xương. Trong giai đoạn chuyển đổi các hốc xương tạo ra trong quá
trình huỷ xương được lót bởi các tế bào đơn nhân. Trong quá trình tạo xương các tế
bào đơn nhân được thay thế bởi các tế bào nguồn gốc xương, các tế bào này sau đó
được biệt hoá thành tạo cốt bào để tổng hợp nên chất căn bản chứa calci lắng đọng,
các hốc được làm đầy dần với xương mới. Khi các hốc đầy, tạo cốt bào trở thành
những tế bào lát phẳng trong khi chất cơ bản không calci hoá thu hẹp lại, thậm chí
biến mất. Để hoàn thành quá trình tái tạo xương cần vài tháng.
Giai đoạn thời thơ ấu và tuổi vị thành niên, quá trình tạo xương mạnh hơn
hủy xương, MĐX và độ cứng chắc của xương ngày càng tăng. Tiếp theo là giai
đoạn trưởng thành, xương tiếp tục tăng trưởng cho đến tuổi 30, quá trình tạo xương
và hủy xương duy trì một cách cân bằng và ổn định cho đến khoảng 40 tuổi. Sau
đó, hủy cốt bào hoạt động quá mức, hủy xương cao hơn tạo xương dẫn đến giảm
khối lượng xương theo thời gian, đặc biệt ở giai đoạn mãn kinh gây nên tình trạng
loãng xương đặc biệt là xương cột sống .
Những thông số sinh hoá phản ánh quá trình tái tạo của xương :
 Những thông số sinh hoá phản ánh quá trình tạo xương:
- Osteocalcin: Là một protein có 49 acid amin, phân tử lượng là 5800. Nó là
một protein đặc hiệu của xương được tổng hợp từ tạo cốt bào và nguyên bào xương.
Nồng độ osteocalcin liên quan đến tốc độ tạo xương và sự khoáng hoá. Định lượng
osteocalcin là một xét nghiệm sinh hoá đặc hiệu trong chẩn đoán loãng xương.
Nồng độ osteocalcin tăng trong loãng xương, có giá trị đánh giá sự mất xương
chậm và theo dõi dài hạn quá trình điều trị loãng xương.
- Phosphatase kiềm của xương: Là một enzym ở tại màng tạo cốt bào. Hoạt
tính của phosphatase kiềm trong huyết thanh được dùng để đánh giá sự tạo xương
nhưng độ nhậy và độ đặc hiệu không cao. Ở những người loãng xương phosphatase
kiềm có thể bình thường hoặc hơi tăng.

12
của tế bào xương do đó làm tăng tổng hợp khuôn hữu cơ của xương, phát triển sụn
liên hợp làm tăng chiều dài xương .
- 1,25 Dihydroxy Vitamin D3 (calcitriol) là hormone được tổng hợp chủ yếu
từ thận. Vai trò quan trọng của vitamin D3 là tăng quá trình hấp thụ calci ở ruột và
xương thông qua sự tổng hợp osteocalcin. Vì vậy nó cần thiết cho sự trưởng thành
và calci hoá bình thường của xương .
- Glucocorticoid: là một steroid hormone do vỏ thượng thận tiết ra, có tác dụng
rõ rệt đối với chuyển hoá xương và chất khoáng của xương do làm tăng thoái hoá
protein của khuôn xương. Khi dùng Glucocorticoid kéo dài sẽ làm tăng thoái hoá
khuôn hữu cơ, giảm lắng đọng muối do làm giảm sự sao chép tiền tạo cốt bào dẫn đến
mất nhiều tạo cốt bào và gây nên giảm khối lượng xương .
- Thyroid hormone: các hormone T3, T4 của tuyến giáp rất cần thiết cho sự
tăng trưởng và phát triển bình thường của xương do vai trò chuyển mô sụn thành
mô xương của chúng .
- Các hormone sinh dục :
+ Estrogen và Testosterone là những hormone sinh dục cần thiết cho sự
trưởng thành của mô xương, vai trò này đã được chứng minh trong việc dự phòng
mất xương do mãn kinh và do tuổi tác.
+ Sự thiếu hụt estrogen ở những phụ nữ mãn kinh sẽ gây những rối loạn sau:
Giảm hoạt động của các tạo cốt bào.
Giảm khung protein của xương.
Làm giảm bài tiết hormone cận giáp.
Tăng bài tiết calcitonin
Giảm hoạt động của enzym 1,25 (OH)2 D1 α - hydroxylase dẫn đến làm
giảm tổng hợp 1,25 (OH)2 D3 làm cho sự hấp thu calci ở ruột bị giảm.
Kết quả của những rối loạn này là hiện tượng loãng xương sau mãn kinh
(loãng xương type I), xương trở nên dễ gẫy.
+ Testosterone do tế bào kẽ (Leydig) của tinh hoàn tiết ra. Ngoài ra tuyến
thượng thận cũng tham gia sản xuất nhưng với số lượng ít. Hormone này có bản

14
Nghiên cứu 2 định nghĩa loãng xương trên đây cho chúng ta thấy gãy xương
là một hệ quả của loãng xương và loãng xương là hệ quả của tình trạng sức bền của
xương do 2 yếu tố: lượng (lượng chất khoáng trong xương) và chất (chất lượng và
cấu trúc xương) tác động.
Định nghĩa mới này mở ra một định hướng nghiên cứu loãng xương trong
vòng 10 năm qua là tập trung vào nghiên cứu chất lượng của xương. Cho đến nay 2
chữ “chất lượng” của xương vẫn chưa rõ ràng và chẳng ai biết cách “đo lường” ra
sao, vì mỗi người hiểu một cách khác nhau. Tuy nhiên, các chuyên gia đều đồng ý
rằng chất lượng xương chính là tổng hợp các yếu tố liên quan đến cấu trúc của
xương, qui trình chu chuyển của chất khoáng trong xương, độ khoáng hóa và các
đặc điểm của chất keo. Qua định nghĩa loãng xương trên cho thấy loãng xương là
một yếu tố nguy cơ của gãy xương.
Loãng xương và gãy xương là hệ quả của nhiều yếu tố môi trường và di
truyền. Có thể tóm lược các yếu tố này trong 4 nhóm: giảm kích thích tố (hormone),
dinh dưỡng (như chế độ ăn uống thiếu calci), lối sống(hút thuốc lá, lạm dụng bia
rượu, thiếu vận động cơ thể) và di truyền. Ngoài ra một số thuốc và bệnh cũng có
thể gây loãng xương.
Nói tóm lại, loãng xương là một bệnh nội tiết mà hệ quả sau cùng là gãy
xương. Gãy xương là một vấn đề của y tế cộng đồng hiện nay vì gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, tử vong và làm hao tổn ngân sách quốc gia.
Định nghĩa và chẩn đoán loãng xương dựa vào các phương pháp định lượng sức
mạnh và thẩm định cấu trúc của xương. Loãng xương là một bệnh có thể ngăn ngừa
được vì các yếu tố nguy cơ có liên quan đến lối sống và chế độ dinh dưỡng, tức là
các yếu tố mà mỗi cá nhân có thể tự mình kiểm soát.
1.2.2. Dịch tễ học loãng xương ở nam giới:
Loãng xương là một vấn đề đang được thế giới rất quan tâm, vì qui mô lớn
và hệ quả nghiêm trọng của nó trong cộng đồng. Nhiều nghiên cứu trong vòng 30
năm qua cho thấy ở nam giới tuổi từ 60 trở lên, có khoảng 13% người mắc chứng
loãng xương . Loãng xương là một căn bệnh âm thầm, bởi vì trong nhiều trường

16
- Sự mất xương liên quan đến tuổi, lối sống.
- Loãng xương thứ phát.
1.2.3.1. Khối lượng xương đỉnh:
Khối lượng xương đỉnh (PBM) được định nghĩa là khối lượng tối đa của mô
xương đạt được lúc kết thúc giai đoạn trưởng thành. PBM có một vai trò rất quan
trọng vì nó là một trong hai yếu tố cơ bản quyết định khối lượng xương của toàn bộ
khung xương khi kết thúc giai đoạn trưởng thành. Bởi vậy PBM cũng là một trong
những yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng gãy xương do loãng xương sau này. Thời kỳ
đạt đến độ đỉnh của khối xương bắt đầu từ 17 - 18 tuổi và kết thúc muộn nhất vào
tuổi 35 .
Những yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành MĐX đỉnh bao gồm: tính chất di
truyền, chế độ tập luyện, cân nặng, vai trò của các hormon, chế độ dinh dưỡng và
môi trường. Tuy vậy hai yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau của khối lượng
xương đỉnh là yếu tố di truyền và hàm lượng calci trong chế độ ăn .
- Tính chất di truyền: Theo Ralston (2002) trong các yếu tố trên thì yếu tố
gene giữ vai trò quyết định PBM quan trọng nhất 60-80 % do yếu tố gene. Một số
gene liên quan đến giảm MĐX là những gene điều hòa sự tổng hợp collagen, các
thụ thể estrogen, vitamin D .
- Calci: Calci giữ một vai trò quan trọng đối với trẻ em. Người ta nhấn mạnh
đến ảnh hưởng của calci đến sự hình thành PBM. Sự thiếu hụt calci gây tình trạng
mỏng vùng xương vỏ và làm xương bè thưa hơn. Khi lượng calci được đưa vào ít
hơn nhu cầu, quá trình huỷ xương ở các bè xương có xu hướng tăng lên và sự cân
bằng giữa tạo xương và huỷ xương (vẫn được xem là dương tính trong quá trình
phát triển cơ thể) sẽ bằng 0. Điều này xảy ra do sự tham gia của PTH, làm tăng quá
trình huỷ xương trên bề mặt các bè xương nhằm duy trì nồng độ calci ion ở ngoài tế
bào. Nồng độ PTH sẽ tiếp tục tăng cao cho đến khi sự cân bằng giữa tạo xương và
huỷ xương bằng 0 hoặc thậm chí âm tính. Sự tăng cao của nồng độ PTH sẽ làm
giảm nồng độ phospho ngoài tế bào thấp tới mức quá trình khoáng hoá bị hạn chế
và dẫn tới tình trạng còi xương mặc dù nồng độ vitamin D có thể vẫn bình thường,

18
các tế bào tạo xương ở cả hai giới. Điều này gợi ý rằng cả hai loại hormon sinh dục
nam và nữ đều có tác dụng lên sự phát triển của bộ xương cả hai giới.
1.2.3.2. Sự mất xương liên quan tới tuổi, lối sống:
- Loãng xương liên quan đến tuổi:
+ Loãng xương tuổi già xuất hiện ở cả nam và nữ, thường trên 70 tuổi với tỉ
lệ nữ so với nam là 2/1. Đây là hậu quả của sự mất xương từ từ trong nhiều năm.
Biểu hiện gãy xương hay gặp là gãy CXĐ, gãy lún đốt sống do tổn thương xuất
hiện đồng đều cả trên xương đặc cũng như xương xốp. So với nữ giới tình trạng mất
xương ở nam giới diễn ra chậm hơn, tuy nhiên có tới 13% nam giới sau tuổi 50 có
nguy cơ gãy xương do loãng xương.
+ Sau khi đạt được khối lượng xương đỉnh MĐX của nam giới sẽ duy trì ổn
định trong những năm tiếp theo và suy giảm dần ở tuổi già. Mỗi 10 năm trôi qua
người đàn ông mất 10-15% khối lượng xương TD.Những bằng chứng mô bệnh học
cho thấy giảm quá trình tạo xương, giảm số lượng các bè xương mặc dù chu chuyển
xương vẫn có xu hướng tăng.
- Loãng xương liên quan đến lối sống:
+ Yếu tố dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng của bộ xương. Chế
độ ăn không đủ calci, vitamin D, thiếu hoặc quá thừa protein, không cân đối calci và
phospho sẽ ảnh hưởng tới sự đạt được đỉnh cao của khối lượng xương và mất xương
sau này.
+

Yếu tố cân nặng: ở những người nhẹ cân sự mất xương xảy ra nhanh hơn
và tần suất gãy CXĐ và xẹp đốt sống cao hơn. Ngược lại, cân nặng cao là một yếu
tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng mất xương thông qua việc tạo xương và tăng
chuyển androgen của tuyến thượng thận thành estron ở mô mỡ.
+ Yếu tố chiều cao: Chiều cao là yếu tố ảnh hưởng đến MĐX.Những người có
tầm vóc nhỏ có khối lượng xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ loãng xương.
+ Yếu tố vận động: sự giảm vận động ở những người lớn tuổi cũng là yếu tố

Mất đường cong sinh lý như gù ở vùng lưng, thắt lưng, có thể cột sống thắt
lưng quá ưỡn về phía trước, gù ở mức độ nặng gây tình trạng còng lưng.
20
Gù vẹo cột sống là hậu quả của đau và nén cột sống lưng, thắt lưng kéo dài
không được điều trị. Ngoài những nguyên nhân gù vẹo do tư thế, do dị tật bẩm sinh,
do viêm đốt sống thì một nguyên nhân quan trọng nữa là do hậu quả của loãng
xương sau mãn kinh. Những trường hợp gù vẹo cột sống do loãng xương thường
xảy ra từ từ, gù có đường cong rộng, không có điểm gồ. Đau tăng khi vận động, khi
đi lại, đứng lâu hoặc ngồi lâu, giảm khi nghỉ ngơi.
Trong trường hợp nặng, có nhiều đốt sống bị xẹp, bị lún, sẽ dẫn đến còng
lưng, gập các xương sườn cuối sát với xương chậu, khiến cho người bệnh ngồi lâu,
đứng lên hoặc đi lại đều rất khó chịu.
Những triệu chứng trên gợi ý tới gù do loãng xương, lún đốt sống. Khác với
gù do viêm đốt sống, do vi khuẩn (lao, tụ cầu), thường gây lún nặng một vài đốt
sống gây gù nhọn ra phía sau nên không thể dãn ra khi bệnh nhân cố gắng vươn
người lên.
Chiều cao của cơ thể giảm: Mỗi một đốt sống bị xẹp hoàn toàn có thể làm
chiều cao của cơ thể giảm 1cm và trong những trường hợp nặng khi nhiều đốt sống
bị xẹp chiều cao của cơ thể có thể giảm từ 10 - 20cm.
- Gẫy xương:
Gãy xương do loãng xương thường là những gãy xương tự nhiên hoặc sau
một sang chấn rất nhỏ như ho hắt hơi, ngã nhẹ
Những loại gẫy xương chủ yếu gặp ở người già gồm gãy xương cẳng tay, gẫy
đốt sống, gẫy xương chậu, gãy cổ xương đùi. Tần suất gẫy xương tăng dần theo tuổi và
tăng ở phụ nữ do tình trạng mất xương nhanh sau mãn kinh. Thường gãy xương cẳng
tay xẩy ra khoảng 10 năm sau mãn kinh, xẹp lún đốt sống xảy ra sau 15-20 năm sau
mãn kinh và gẫy cổ xương đùi xảy ra sau 70 tuổi. Trong đó gãy xương cẳng tay là loại
gẫy xương gặp nhiều nhất trước tuổi 75. Tuy nhiên gãy cổ xương đùi là loại gãy xương
đáng phải lưu tâm nhất do tỷ lệ tử vong sau gãy cổ xương đùi cao, gây mất vận động
nghiêm trọng và đòi hỏi phải chi phí nhiều trong việc điều trị.

22
1.2.5.4. Các phương pháp đo MĐX:
Đo MĐX là phương pháp thăm dò không xâm lấn thực hiện dễ dàng để đánh giá
khối lượng xương và nguy cơ gãy xương. Có những phương pháp sau:
- Chụp cắt lớp vi tính định lượng (Quantitative Computer Tomography -
QCT).
- Hấp thụ photon đơn (Single photon absorptiometry - SPA).
- Hấp thụ photon kép (Dual photon absorptiometry – DPA).
- Siêu âm định lượng (Quantitative ultrasound – QUS).
- Hấp thụ tia X năng lượng đơn (Single energy Xray absorptiometry – SXA).
- Hấp thụ tia X năng lượng kép (Dual energy Xray abssorptiometry – DXA).
 Đo MĐX bằng tia X năng lượng kép (DXA - Dual Energy Xray
Absorptiometry).
Nguyên lý của đo MĐX bằng DXA căn cứ vào sự hấp thụ một chùm photon
của xương. Phương pháp DXA sử dụng hai chùm photon có năng lượng khác nhau,
năng lượng cao >70 KV cho mô xương và năng lượng thấp 30 – 50 KV cho mô
mềm. Chính vì thế phương pháp đo DXA toàn thân ngoài tác dụng đo lượng chất
khoáng của xương còn có tác dụng đo khối mỡ và khối nạc của từng bộ phận trên
cơ thể.
Nguồn photon phát xạ lớn hơn, cho phép thời gian thăm dò ngắn (khoảng 5 –
7 phút), khả năng tái lập kỹ thuật tốt, mức độ sai số là 1. Giá trị đạt được là lượng
chất khoáng của xương (hydroxyapatite) trên một đơn vị diện tích, hiển thị g/cm2.
Liều tia xạ từ 2 – 5 mrem cho mỗi lần đo.
Trong số các phương pháp đo MĐX, DXA là kỹ thuật phát triển tốt nhất
được ứng dụng trên lâm sàng. Từ năm 2003, tổ chức y tế thế giới coi DXA là kỹ
thuật tham chiếu để đo MĐX. Người ta cũng thấy MĐX đo bằng DXA có tương
quan khá cao với nguy cơ gãy xương. Vị trí tiên đoán tốt nhất là đo ở cổ xương đùi.
DXA có thể đo được các vị trí ở ngoại vi như xương gót, cổ tay hoặc các vị
trí ở trung tâm như cột sống thắt lưng, cổ xương đùi. Cũng như máy đo MĐX bằng
siêu âm, những máy DXA đo ở vị trí ngoại vi (peripheral Dual-Energy X-ray

24
+ Những yếu tố khác ảnh hưởng tới MĐX CSTL: calci hoá trong tuỵ, sỏi
thận, sỏi mật, những chất cản quang, viên calci trong ống tiêu hoá cũng có thể làm
sai lệch giá trị MĐX. Những trường hợp sau phẫu thuật cắt cung sau thường cho kết
quả MĐX thấp hơn bình thường.
- Tại vị trí cổ xương đùi:
+ Ảnh hưởng của tư thế cổ xương đùi: Ở vị trí xương đùi xoay trong 15 – 20
độ (khi đó cổ xương đùi nằm song song với mặt bàn) thì MĐX thấp nhất. Đây cũng
là tư thế được áp dụng để đo mật độ cổ xương đùi.
+ Ảnh hưởng của xơ hoá phần mềm, gai xương, thoái hoá, phẫu thuật và gãy
xương tại vùng cổ xương đùi: Những thay đổi này không ảnh hưởng đến MĐX của
cổ xương đùi nhiều như tại CSTL.
 Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương – WHO 1994 dựa vào MĐX:
- Bình thường: MĐX ≥ -1
- Khối lượng xương thấp: MĐX từ -1 đến -2,5
- Loãng xương: MĐX ≤-2,5
- Loãng xương nặng: MĐX ≤ -2,5 và có ≥ 1 lần GX
1.2.6. Các yếu tố nguy cơ của loãng xương ở nam giới:
Mặc dù sự giảm sút khối lượng chất xương là một hiện tượng sinh lý bình
thường trong cơ thể, song rất nhiều yếu tố nội và ngoại sinh tác động làm cho tình
trạng mất xương ở một số đối tượng trở nên nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và họ có một
nguy cơ bị loãng xương và gãy xương cao hơn. Những yếu tố được nhiều tác giả
thừa nhận gồm:
- Tuổi: thời gian sống càng lâu, khối lượng xương mất càng lớn, đồng thời sự
hấp thu canxi cũng giảm và do vậy dễ có khả năng bị loãng xương.
- Khung cơ thể: những cá thể có thể tạng nhỏ bé dễ xuất hiện loãng xương
hơn những người to lớn vì họ có khối lượng xương thấp hơn.
- Chủng tộc: tỷ lệ loãng xương thay đổi đáng kể từ nước này đến nước khác.
ở Mỹ, người da trắng và nguồn gốc châu á có tỷ lệ loãng xương cao hơn những
người da đen và trên thực tế những người da đen này có khối lượng xương cao hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status