nghiên cứu yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư trong quần thể dân cư quận đống đa- hà nội - Pdf 23

1
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
============
Lấ TH BCH THY
NGHIÊN CứU YếU Tố NGUY CƠ TIM MạCH
TồN DƯ TRONG QUầN THể DÂN CƯ QUậN
ĐốNG ĐA- Hà NộI
Chuyờn ngnh: Tim mch
Mó s : 60 72 20
LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.T.S. NGUYN TH BCH YN
H NI 2013
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt
của các cơ quan, đơn vị, các thầy cô giáo, các nhà khoa học, gia đình và
bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban giám hiệu, các phòng, khoa, bộ môn
Trường Đại học Y Hà Nội; Ban giám đốc, các phòng, khoa Viện Tim
Mạch Việt Nam; Trung tâm Y tế phường Quang Trung- Trung Phụng-Kim
Liên; Đảng uỷ, HĐND, UBND, Trạm Y tế và các ban ngành Quận Đống Đa-
Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn thầy cô giáo bộ môn tim mạch Trường Đại học Y-
Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn: PGS-TS. Nguyễn Thị Bạch Yến,
người thầy đã tận tình trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn: Bạn bè, đồng nghiệp và những người thân
trong gia đình, những người luôn giúp đỡ và động viên tôi trong học tập,

JNC : Joint National Committee on detection, evalution and
treatmen
of hight blood pressure VII (Uỷ ban Quốc gia về
phát hiện,
đánh
giá và điều trị tăng huyết áp Hoa
Kỳ)
LDL-C : Low density lipoprotein
cholesterol
(cholesterol của lipoprotein tỷ trọng
thấp)
NCEP/ATPIII : National Cholesterol Education Program - Adult
Treatenzymt
Panel (Chương trình giáo dục quốc gia về cholesterol tại
Mỹ
phiên
bản III, điều trị cho
người
trưởng
thành).
RLLM : Rối loạn lipid
máu
TC : Total Cholesterol (Cholesterol toàn
phần)
TG :
Triglycerid
THA : Tăng huyết áp
VE : Vòng
eo
VLDL : Very low density lipoprotein (Lipoprotein tỷ trọng rất

người có cholesterol máu bình thường là 25% trong khi đó nguy cơ nhồi máu
cơ tim ở những người có HDL-C thấp là 50%.
7
Trong các nghiên cứu như nghiên cứu PROCAM [2], nghiên cứu
UKPDS [3] cho thấy HDL-C thấp là yếu tố góp phần vào nguy cơ còn tồn dư
bị bệnh mạch máu lớn. HDL-C thấp là yếu tố tiên đoán độc lập nguy cơ bệnh
mạch vành với tất cả các mức LDL-C.
Cùng với HDL-C, triglyceride là yếu tố quan trọng góp phần vào nguy
cơ tồn dư bệnh mạch máu lớn. Theo nghiên cứu PROVE-IT TIMI- 22, ngay
cả khi điều trị đạt mức LDL-C < 70 mg/dl thì những bệnh nhân có TG ≥ 200
mg/dl vẫn có nguy cơ tử vong, nhồi máu cơ tim hay hội chứng vành cấp tăng
56% so với nhóm có TG < 200 mg/dl [4]. Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng
tăng triglyceride và giảm HDL-C là yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư và là yếu tố
tiên đoán độc lập nguy cơ bệnh tim mạch. Trên thế giới đã đã có nhiều công
trình nghiên cứu về yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư. Ở Việt Nam chưa có
nghiên cứu nào về yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư được tiến hành ở cộng đồng.
Xuất phát từ thực tiễn này chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu yếu
tố nguy cơ tim mạch tồn dư trong quần thể dân cư trong quần thể dân cư
Quận Đống Đa – Hà Nội’’ với 2 mục tiêu cụ thể là:
1. Khảo sát yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư (triglyceride, HDL-C)trong
quần thể dân cư Quận Đống Đa – Hà Nội.
2. Tìm hiểu mối liên quan giữa yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư với một số
yếu tố nguy cơ tim mạch khác (tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì).
8
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Các yếu tố nguy cơ tim mạch chung.
Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan với sự gia tăng
khả năng mắc bệnh tim mạch. Sự liên quan này dường như luôn mang tính
chất thống kê. Một người mang một yếu tố nguy cơ nào đó chỉ có nghĩa là

1.1.1.1.Tăng huyết áp.
Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp nhất và
cũng là yếu tố nguy cơ được nghiên cứu đầy đủ nhất. Hơn 60 triệu người dân
nước Mỹ bị tăng huyết áp. Tại Việt Nam hiện nay ước tính có trên 20% số
người lớn bị THA
Ước tính hiện nay hơn 1 tỉ người trên thế giới bị tăng huyết áp và con số
này đang tăng lên. Tăng huyết áp được mệnh danh là “Kẻ giết người thầm
lặng’’
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính và là nguyên nhân hàng đầu gây
tử vong của bệnh tim thiếu máu cục bộ và đột quỵ, là nguyên nhân thứ 2 gây
tử vong tại nước ta.
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ đã được chứng minh rõ ràng của các
biến cố tim mạch như bệnh ĐMV, tử vong do bệnh ĐMV, đột quỵ, suy tim ứ
huyết, đột tử .Trong nghiên INTERHEART, THA đóng góp tới 18 % nguy cơ
quy thuộc quần thể của NMCT (lần đầu tiên).Số đo huyết áp tâm thu cũng
như tâm trương đều là những yếu tố dự báo mạnh các biến cố mạch vành, đặc
biệt ở người cao tuổi. THA tâm thu đơn độc giờ đây đã được chứng minh như
một tác nhân có hại đối với đột quỵ và bệnh ĐMV
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, một người lớn được gọi là
THA khi HA tối đa ≥140 mmHg và /hoặc HA tối thiểu ≥ 90 mmHg [5], [6].
10
Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy có mối liên quan chặt chẽ
giữa
tăng huyết áp và rối loạn lipid
máu.
Tăng huyết áp làm tăng áp lực lòng mạch, các tế bào nội mạc bị
kích
thích cấu trúc tế bào bị nới lỏng gây giảm chức năng che trở của tế bào
nội
mạc,

Và/Hoặc 80 -
90
Tăng HA giai đoạn
I
140 -
159
Và/Hoặc 90 -
99
Tăng HA giai đoạn
II 160 - 179
Và/Hoặc
100 - 109
Tăng HA giai đoạn III
>180
>110
Mối tương quan thuận trực tiếp giữa huyết áp và nguy cơ mắc bệnh tim
mạch đều được quan sát thấy ở cả nam và nữ đủ mọi lứa tuổi, chủng tộc, các
nhóm dân cư và quốc gia bên cạnh các yếu tố nguy cơ khác của bệnh tim mạch.
Các nghiên cứu quan sát cho thấy, tử vong do bệnh tim mạch gia tăng và tương
quan tuyến tính khi huyết áp tăng trên 115 mmHg đối với huyết áp tâm thu và 75
mmHg đối với huyết áp tâm trương. Với mỗi mức huyết áp tâm thu tăng thêm 20
mmHg hoặc 10mmHg đối với huyết áp tâm trương tỷ lệ tử vong do thiếu máu cục
bộ cơ tim và đột quỵ tăng lên gấp đôi ở tất cả các nhóm.
Khi tăng huyết áp tâm thu (con số cao hơn, là áp suất máu khi tim co
bóp) và huyết áp tâm trương (con số thấp hơn, là áp suất máu khi tim giãn ra)
đều là những yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, huyết áp tâm thu được xem là yếu tố dự
báo quan trọng hơn nguy cơ về các tai biến do tăng huyết áp gây ra.
11
Tăng huyết áp lại thường kết hợp với các yếu tố nguy cơ khác, đặc biệt
là béo phì, tăng hàm lượng cholesterol, triglycerid trong máu và đái tháo

Năm 2002, Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 5012 người từ 25 tuổi
trở lên ở 4 tỉnh miền Bắc Việt Nam kết quả là 23% biết đúng các nguy cơ
của bệnh THA. Trong 818 người được phát hiện có THA, chỉ có 94 người là
dùng thuốc và tỷ lệ HA được khống chế tốt là 19,1% [13].
1.1.1.2. Đái tháo đường và kháng Insulin.
Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa Glucid, trong đó những
người mang bệnh này có lượng đường cao trong máu và vượt quá ngưỡng
giới hạn lọc của cầu thận dẫn đến tình trạng glucose hay đường trong nước
tiểu. Đái tháo đường do tình trạng thiếu hụt insullin tiết ra từ tụy và/hoặc tình
trạng đáp ứng kém của các tế bào với insullin.
Bệnh tiểu đường rất phổ biến nhưng nhiều người vẫn chưa biết vậy cơ
chế gây nên tình trạng tăng đường huyết trong máu của bệnh tiểu đường.
nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa là các bệnh liên quan đến vấn đề sử dụng thực
phẩm, tiêu hóa và biến chúng thành năng lượng. Khi chúng ta ăn các thực
phẩm glucid chúng sẽ được phân tách thành các glucose ở hệ thống tiêu hóa
và hấp thu vào cơ thể mà trực tiếp là vào hệ thống tuần hoàn thông qua gan.
Glucose là nguyên liệu chính để tạo ra năng lượng cho các tế bào hoạt động.
Tuy nhiên muốn sử dụng được glucose thì các tế bào phải “lấy” glucose trong
máu, mà việc này phải thông qua insulin là hoocmon được hiểu như là người
lái đò đưa glucose vượt qua “con sông – bức tường” màng tế bào để tiến nhập
vào tế bào tham gia vào các phản ứng nội bào tạo nên năng lượng cho tế bào
hoạt động ở mức vi mô mà ở mức vĩ mô là năng lượng để con người thực hiện
các hoạt động thường ngày. Vì một lý do nào đó mà lượng insulin được tạo ra
không đủ để đưa các glucose vào tế bào hay do tế bào đáp ứng không tương
13
xứng với insulin. Do vậy, mặc dù trong máu lượng glucose rất cao nhưng các
tế bào thì ở trong tình trạng “đói” glucose cho các hoạt động của mình.
Bệnh tiểu đường gây tổn thương mạch máu nhỏ và tổn thương mạch
máu lớn qua xơ vữa, vì vậy tác hại đến rất nhiều cơ quan như thận, mắt, mạch
máu của não, mạch máu chi đặc biệt là bệnh tim mạch.

tương tự trong bốn nhóm. Mức insulin và C - peptide khi đói và lúc làm
nghiệm pháp cao hơn ở những người béo có THA hơn là người gầy có THA.
Tương tự, chỉ số khối lượng cơ thể, mức insulin và C - peptide cũng cao hơn
ở nhóm có yếu tố gia đình dương tính. So với nhóm gầy - THA thì nhóm béo
- THA có chỉ số dầy thất trái lớn hơn. Chức năng tâm thu đều bình thường ở
các nhóm. Chỉ số tâm trương thất trái thấp hơn đáng kể ở nhóm có yếu tố gia
đình dương tính [16].
Nghiên cứu ARIC (Atheroslerosis Risk In Communities) trên 12550
người lớn tuổi 45 - 64 ở Hoa Kỳ cho thấy THA là một yếu tố nguy cơ của
ĐTĐ mới mắc. Trong nghiên cứu này người THA có tần suất ĐTĐ mới mắc
cao gấp 2,43 lần so với người không THA [17].
Kaplan cho rằng: insulin có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh
của THA [18].
Một số các nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy bệnh ĐTĐ có tỷ lệ
cao hơn ở những người THA. Huỳnh Văn Minh nghiên cứu 181 người tại
Huế Phạm Tử Dương điều tra 219 bệnh nhân THA trên 4693 người tại Hà
Nội trong 5 năm (1994 - 1998) thì có 5 trường hợp ĐTĐ (2,3%) [19].
Trương Thanh Hương nghiên cứu 38 bệnh nhân THA điều trị ngoại trú
tại Viện Tim mạch từ tháng 6 - 1995 đến 3 - 1996 thấy mức đường máu lúc
đói lớn hơn 7,77 mmol/l (1/38 ca) [20].
15
Năm 1998, Nguyễn Thị Dung nghiên cứu 1160 bệnh nhân THA tại Bệnh
viện Việt Tiệp, đường máu lúc đói đã được làm ở 79,3% ca thấy 14,5% số bệnh
nhân này bị ĐTĐ (glucose máu tĩnh mạch lúc đói > 7,8 mmol/l) [21].
Phạm Gia Khải nghiên cứu 571 người THA tại Hà Nội trong 2 năm
(1998- 1999) thì có 17 ca ĐTĐ chiếm 2,97%.
1.1.1.3. Thừa cân / béo phì.
Thừa cân/ béo phì ở các mức độ khác nhau đều làm tăng nguy cơ mắc
bệnh tim mạch. Béo phì có thể tác động tới sự hình thành các yếu tố nguy cơ
khác. Béo phì càng nhiều thì khả năng xuất hiện các yếu tố tiền đề cho xơ vữa

THA gấp 2 lần người có BMI < 25 kg/m2 (47,6% so với 24,2%) [23], [24].
Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 7610 người tại Hà Nội từ tháng 4
năm 1998 đến 4 năm 1999 thấy chỉ số BMI trung bình của quần thể nghiên
cứu là 20,09 ± 2,72 kg/m2. Nhóm BMI từ 22 kg/m2 trở lên đã có nguy cơ
THA [25].
* Tỷ lệ vòng bụng/vòng mông (Waist/Hip Ratio: WHR):
Béo bệu còn được lượng giá bằng tỷ lệ vòng bụng/vòng mông. Béo
bệu gây THA và làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành là một trong những cơ
chế đã được thừa nhận.
Steyn N.P. và cộng sự, năm 1994, ở Nam Phi đã tiến hành nghiên cứu
trên 431 sinh viên (có 231 nữ) về ảnh hưởng của các yếu tố trọng lượng,
chiều cao, vòng mông và vòng bụng tới THA, rối loạn lipid và đái tháo
đường. Chỉ số khối lượng cơ thể (BMI), tỷ lệ vòng bụng/vòng mông (WHR)
và chu vi vòng bụng (WC) đều được tính toán cho mỗi cá thể. Mỗi người đều
được đo cả HATT và HATTr. Các câu hỏi điều tra để xác định các yếu tố
nguy cơ liên quan tới thói quen sinh hoạt. Kết quả cho thấy: 18% sinh viên bị
tăng cân (BMI 25 - 29,9), 6,5% béo phì (BMI ? 30) và 26,8% giảm cân.
HA, BMI, WHR và WC đều tăng đáng kể cùng với tuổi. Nghiên cứu cho
thấy BMI, WC và WHR có mối tương quan với HA và tuổi [26].
Gus, Moreira và cộng sự (Brazil - 1998) nghiên cứu sự liên quan giữa
BMI, WHR và chu vi vòng bụng với tỷ lệ THA trong một mẫu đại diện 1088
người trưởng thành ở Porto Alegre - Brazil. Tiêu chuẩn được gọi là béo bệu
khi: hoặc BMI ≥ 27 kg/m2 (cho cả 2 giới), hoặc WHR ≥ 0,95 (với nam) và ≥
0,80 (với nữ), hoặc WC ≥ 96 cm (với nam) và ≥ 92 cm (với nữ). Kết quả
17
nghiên cứu trên cho thấy: béo bệu tính theo BMI có sự liên quan với THA ở
cả hai giới (RR 1,9; CI 1,0 - 3,2 ở nam. RR 2,2; CI 1,3 - 3,8 ở nữ) [27].
Béo phì là một yếu tố nguy cơ và là một khâu quan trọng trong
cơ chế bệnh sinh của THA nguyên phát. Nghiên cứu của Huang và cộng sự
(1998) [28], [29] cho thấy tầm quan trọng của việc tránh tăng cân ở 82473

hoạt
tính của lipase gan, enzym này thuỷ phân TG của LDL và
HDL. Kết quả

hình thành LDL hạt nhỏ và đặc có tính gây xơ vữa động
mạch cao và
HDL
3
hạt nhỏ có khả năng chống xơ vữa động mạch kém (giảm
HDL
2
có khả
năng
chống xơ vữa động mạch) [30], [31].
18
Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy thừa cân và béo phì có liên
quan
đến tăng TG, TC, LDL-C, TC/HDL-C và giảm HDL-C. Mức độ
liên
quan
giữa thừa cân và béo phì với rối loạn lipid máu có sự khác nhau
khi dùng
các
chỉ số khác nhau (BMI, hay VE) để đánh giá thừa cân và béo
phì, có sự
khác
nhau với các chỉ số lipid máu khác nhau và có sự khác
nhau giữa các
nhóm
chủng tộc và giới [32]. Mối liên quan hằng định nhất

v
à với BMI

nữ giới mạnh
hơn [37]. Ngược lại ở thổ dân da đỏ châu Mỹ thì tỷ số E/H

tương
quan với rối
loạn lipid máu mạnh hơn
VE.
1.1.1.4. Lười vận động (lối sống tĩnh tại)
Lối sống tĩnh tại được coi là một nguy cơ của các nguy cơ tim mạch. Việc
vận động hàng ngày đều đặn ít nhất 30 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm
nguy cơ bệnh tim mạch. Người ta đã chứng minh việc tập luyện thể lực thường
xuyên làm giảm nguy cơ xuất hiện NMCT. Tập luyện dường như cũng có tác
động tích cực tới những yếu tố nguy cơ khác. Người ta cho rằng lợi ích của tạp
luyện là ở việc giảm cân nặng, tăng khả năng dung nạp đường, tăng sức mạnh cơ
tim, tăng nồng độ HDL-C, giảm căng thẳng, hạ huyết áp…
19
Các hình thức luyện tập được khuyến cáo là tập đều đặn (hầu hết các
ngày) mỗi ngày ít nhất 30 phút, tập đủ mạnh (ấm người, thở hơi nhanh, ra mồ
hôi vừa).
1.1.1.5. Hút thuốc lá.
Hút thuốc lá (kể cả thuốc lào) là một yếu tố nguy cơ, đã rõ làm tăng nguy
cơ mắc bệnh động mạch vành, đột quỵ, bệnh mạch máu ngoại vi cho dù những
người hút thuốc thường gầy và có huyết áp thấp hơn những người không hút
thuốc. Bên cạnh đó, hút thuốc lá còn gây ung thư phổi và các bệnh lí khác.
Hút thuốc lá: 30 - 40% trong số khoảng 500.000 trường hợp chết vì
bệnh mạch vành hằng năm có nguyên nhân từ thuốc lá. Các kết quả từ nghiên
cứu Framingham đã chứng minh rằng, nguy cơ đột tử cao hơn 10 lần ở nam

điếu/ngày) cao hơn ở những người bình thường (p < 0,05), nhưng nếu hút
dưới số lượng đó thì không khác nhau [40].
Năm 1998 - 1999, Phạm Gia Khải và cộng sự tại Hà Nội đã tiến hành
nghiên cứu trên các đối tượng nghiện hút thuốc lá, có 1450 người chiếm tỷ lệ
19,03% (nam: 1399 người chiếm 96,48%; nữ 51 người chiếm 3,51%). Số điếu
hút trung bình là 22,14 ± 4,7 điếu/ngày tức khoảng 1 bao/ngày/người; người
hút nhiều nhất là 50 điếu/ngày. Tỷ lệ THA chung cho những người nghiện
thuốc lá là 15,86% so với người không hút thuốc là 16,12% sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) [25].
1.1.1.6. Uống rượu
Đã có một số nghiên cứu được báo cáo về sự liên quan của uống nhiều
rượu và THA, nhưng cơ chế của liên quan này vẫn còn chưa rõ ràng [41]. Có
những ý kiến chưa thống nhất nhưng đa số thừa nhận rượu làm THA.
21
- Các thực nghiệm cho thấy rằng với khối lượng lớn, ethanol có tác
dụng co mạch trực tiếp rõ rệt. Giảm tiêu thụ rượu xuống tới dưới 3 lần uống
trong ngày (30 ml rượu cất) làm giảm HA ở bệnh nhân có điều trị [42], [43].
- Marques V.P., Areiler D., Evans A. điều tra 5363 đàn ông ở Pháp và 1367
đàn ông ở Bắc Ailen tuổi từ 50 - 59. Kết quả: ở Pháp uống nhiều rượu nhẹ, trái lại
uống bia và rượu mạnh ở Bắc Ailen lại cao hơn. ở Pháp dùng đồ uống có cồn trong
cả tuần, nhưng ở Bắc Ailen uống dồn vào thứ sáu thứ bảy chiếm tới.
Mối liên quan giữa uống rượu và tỷ lệ tử vong toàn phần có đường
cong hình chữ U. Đối với các bệnh tim mạch, tỷ lệ tử vong lớn hơn ở những
người không uống rượu. Còn đối với đột qụy thì ngược lại bởi vì tác dụng
xấu của rượu đối với THA. Rượu làm THA và do đó là nguy cơ tai biến mạch
máu não [44].
Điều tra dịch tễ học bệnh THA ở Việt Nam năm 1989 - 1992, Trần Đỗ
Trinh thấy ở người THA tỷ lệ uống rượu cao hơn những người bình thường
(p < 0,01) [41]. Nghiên cứu của Phạm Gia Khải về dịch tễ học THA tại Hà
Nội năm 1999 thấy uống rượu có mối liên quan chặt chẽ với THA ở cả hai

hơn. Phần lớn người có tiền sử gia đình rõ rệt là có người bị bệnh tim có một
hoặc nhiều yếu tố nguy cơ khác nữa. Do đó, điều trị và kiểm soát bất cứ yếu
tố nguy cơ nào bạn có dường như là điều quan trọng hơn cả.
1.2.Các yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư.
1.2.1. Nguy cơ tim mạch tồn dư:
Nguy cơ tim mạch tồn dư là nguy cơ còn tồn dư bị các biến cố mạch
máu lớn và các biến chứng mạch máu nhỏ vẫn còn ở bệnh nhân đã được điều
trị tốt nhất theo chuẩn hiện tại bao gồm đạt mục tiêu về mức lipoprotein tỷ
trọng thấp (LDL-C) và kiểm soát huyết áp và đường huyết tích cực.
23
Nguy c tn d mch mỏu nh v mch mỏu ln: Cỏc bin c mi mc
ca bnh ng mch vnh, mch mỏu nóo hoc ng mch ngoi biờn gia tng
do cỏc yu t nguy c tim mch tn d cú th nh hng lờn mch mỏu ln.
1.2.2. Ri lon chuyn húa lipid.
Rối loạn lipid máu là một trong những yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim
mạch do vữa xơ động mạch. Đó là sự biến đổi nồng độ các thành phần lipid máu
nh: tăng cholesterol toàn phần (TC), tăng triglycerid (TG), tăng lipoprotein tỷ
trọng thấp (LDL-c) và giảm lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-c) [47,48].
Bệnh vữa xơ động mạch cùng với bệnh tăng huyết áp là nguyên nhân
mắc bệnh và tử vong quan trọng bậc nhất ở các nớc phát triển; cũng đang có
xu hớng tăng lên ở các nớc đang phát triển. Theo Tổ chức y tế thế giới
(WHO), ở các nớc phát triển tỷ lệ tử vong nhiều nhất do bệnh tim (32%) mà
chủ yếu là do vữa xơ động mạch, do tai biến mạch máu não(18%), nhiều hơn
hẳn so với các bệnh khác. Theo tài liệu mới nhất của WHO, số ngời tử vong
do bệnh động mạch vành ở Việt Nam là 66.179 ngời mỗi năm và dự báo con
số này sẽ là 100.000 vào năm 2010 (khoảng 300 ngời tử vong do bệnh này
mỗi ngày) [49].
Vai trò của rối loạn lipid máu trong bệnh lý vữa xơ động mạch đã đợc
chứng minh qua nhiều nghiên cứu dịch tễ học quan sát, thực nghiệm và cả
những công trình nghiên cứu tiền can thiệp. Rối loạn lipid làm rối loạn chức

typ
LDL ht nh v c, gim HDL-C
[54].
b.Phõn loi:
Phõn loi theo thnh phn lipid v
lipoprotein
- T chc Y t th gii (WHO) a ra phõn loi ri lon lipid mỏu
nm
1970, l phõn loi ca Fredrickson c sa i, da trờn thnh phn
lipid
v
lipoprotein mỏu [55],
[56]:
25
Bảng 1.2. Phân loại rối loạn lipid máu theo
WHO/Fredrickson.
Týp
Thµnh
phÇn
C¸c týp rèi lo¹i lipip m¸u
I IIa IIb III IV V
cholesterol
↑ ↑↑ ↑↑

BT / ↑

triglycerid
↑↑↑
BT
↑↑ ↑↑

triglyerid).
• Phân loại theo căn
nguyên
RLLM nguyên phát: Có tính chất gia đình do đột biến gen hoặc
do
thiếu hụt các enzym cần cho chuyển hóa bình thường của
lipoprotein
nh
ư
lipoprotein
lipase…
RLLM thứ phát: Do các bệnh: đái tháo
đường,
suy giáp, hội chứng
thận
hư,
cường
cortisol, suy tuyến yên, bệnh to đầu chi, béo phì Hoặc do
uống
rượu,
chế độ ăn giàu lipid.
• Đánh giá mức độ RLLP ( NCEP-ATP III):

Trích đoạn Tỷ lệ rối loạn cỏc thành phần lipid mỏu: ĐTĐ 116 Tăng huyết ỏp CÂU HỎI DÀNH CHO PHỤ NỮ KH NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ TĂNG HUYẾT ÁP KH NHỮNG CĂNG THẲNG TRONG CUỘC SỐNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status