ĐẶT VẤN ĐỀ
Loãng xương với biến chứng gẫy xương, làm gia tăng tỷ lệ tử vong, giảm
chất lượng cuộc sống là một trong những vấn đề y tế đang được quan tâm toàn
cầu. Tỉ lệ loãng xương gia tăng nhanh chóng cùng với sự gia tăng về tuổi thọ
trung bình và tốc độ già hóa dân số. Có khoảng 200 triệu phụ nữ trên toàn thế
giới, hơn 75 triệu người ở châu Âu, Mỹ và Nhật Bản bị loãng xương . Theo
WHO, loãng xương là nguyên nhân gây bệnh tật đứng hàng thứ 2 trên thế giới,
chỉ sau nguyên nhân tim mạch. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 2,5 triệu
người bị loãng xương và trên 150000 trường hợp bị gãy xương do loãng xương.
Có khoảng 30% phụ nữ trên 50 tuổi có triệu chứng của loãng xương .
Nguyên nhân dẫn đến loãng xương ngoài vấn đề tuổi già, suy giảm nội tiết
tố sinh dục ở phụ nữ sau mãn kinh (loãng xương nguyên phát) thì còn những
nguyên nhân thứ phát gây mất xương nhanh đến từ lối sống, tiền sử bệnh lý bẩm
sinh hay mắc phải . Hiện nay, đo mật độ xương vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn
đoán loãng xương sớm nhất trên lâm sàng. Theo WHO, chẩn đoán loãng xương
dựa vào kết quả đo mật độ xương bằng phương pháp DXA (Dual energy X-ray
absorptionmetry), cụ thể là T score thấp hơn hoặc bằng -2,5. Việc chẩn đoán
loãng xương không quá khó khăn nhưng để chẩn đoán nguyên nhân loãng
xương trong trường hợp nghi ngờ loãng xương thứ phát thì phức tạp và tốn kém.
Việc này không chỉ cần hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng mà còn cần các
xét cận lâm sàng theo định hướng nguyên nhân. Vì vậy, trên thực hành lâm
sàng, việc tìm ra một chỉ số xét nghiệm có giá trị “ báo động” một tình trạng
loãng xương cần tìm nguyên nhân là rất cần thiết và quan trọng.
Từ những năm 2000, Z score ngày càng được chú ý khi phân tích kết quả
đo mật độ xương. Z score chính là độ lệch chuẩn mật độ xương hiện tại của đối
tượng với mật độ xương trung bình của quần thể cùng lứa tuổi, cùng giới và
chủng tộc. Z score càng thấp thì điều đó nói lên đối tượng có thêm yếu tố nào đó
gây mất xương nhanh hơn những đối tượng khác cùng giới và lứa tuổi. Theo
Duetschmann và cộng sự (2002), có mối tương quan nghịch biến giữa tổng số
yếu tố nguy cơ gấy mất xương thứ phát với số điểm Z score, tức là số yếu tố gây
mất xương thứ phát càng nhiều thì điểm Z score càng thấp . Năm 2008, tác giả
trong quá trình calci hóa và cố định các phân tử hydroxyapatite vào các sợi
collagen.
+ Muối khoáng: chủ yếu là calci và phospho dạng tinh thể Hydroxyapatit gắn
song song vào các sợi collagen của khung protein.
- Các loại tế bào tạo xương :
+ Tiền tạo cốt bào (Pre-osteoblasts): có mặt ở bề mặt xương đang hình
thành, nó có khả năng tự làm mới và có thể chuyển thành tạo cốt bào trên bề mặt
xương.
+ Tế bào tạo xương (Osteoblast- Tạo cốt bào): biệt hóa từ các tiền tạo cốt
bào, tập trung từng đám dọc theo bề mặt xương ở những nơi xương đang hình
thành, có vai trò chính trong điều chỉnh chu chuyển xương, sinh tổng hợp chất
nền và quá trình khoáng hóa.
3
+Tế bào xương (Osteocyte) là các nguyên bào xương đã ngừng tổng hợp
khuôn và gắn chặt vào khuôn xương đã calci hóa, chúng nằm trong ổ khuyết
xương và hoạt động như những bộ phận nhân cảm để cảm nhận và khởi động
quá trình tái tạo xương
+ Tế bào hủy xương (Osteoclasts-Hủy cốt bào): chức năng là hủy xương và
giải phóng các sản phẩm chuyển hóa vào dịch ngoại bào, có thể thấy ở những vị trí
đang hủy xương chúng gắn chặt vào bề mặt xương đã được calci hóa và tạo ra một
ổ khuyết (Howship) do hoạt động hủy xương tạo thành.
1.1.1 Chức năng của xương:
Trong cơ thể xương giữ 3 chức năng chính:
a. Cơ học : tạo thành bộ khung nâng đỡ cơ thể và là nơi bám cho các
cơ, gân để tạo thành hệ vận động.
b. Bảo vệ: các cơ quan trong hộp sọ, lồng ngực,các tạng trong ổ bụng,
tủy sống và các thành phần tạo máu của tủy xương.
c. Chuyển hóa: là nơi dự trữ để duy trì cân bằng ion trong cơ thể.
1.1.2 Sự tái tạo của mô xương và các yếu tố ảnh hưởng đến chu
chuyển xương
và tăng chuyển sụn thành xương [8], kích thích sản sinh calcitonin, calcitriol, ức
chế bài tiết PTH ảnh hưởng đến các yếu tố tăng trưởng tại chỗ của xương
interleukin-1, interleukin-6, prostaglandin E
2
. Nó làm giảm lượng tế bào và hoạt
động của tế bào hủy xương.
- Testosteron kích thích tăng trưởng cơ và tác động tích cực đến quá trình
tạo xương, nó còn kích thích sản sinh ra estrogen trong quá trình tác động đến
xương và cơ .
Ngoài ra còn rất nhiều các yếu tố toàn thân và nội tại khác tham gia vào cơ
chế tạo xương, hủy xương và chuyển hóa xương :
* Các Polypeptid hormon
- Parathiroid hormon (PTH): tăng giải phóng calci từ xương vào máu do tác
dụng lên sự biệt hóa và hoạt động của các loại tế bào xương
- Calcitonin: do tế bào cạnh nang tuyến của tuyến giáp tiết ra có tác dụng
ức chế hủy cốt bào làm giảm vận chuyển calci vào máu.
- Insulin: của tuyến tụy kích thích tổng hợp chất nền xương do tác dụng
lên tạo cốt bào, rất c ần thiết cho sự calci hóa và sự phát triển bình thường của
xương.
5
- Hormon tăng trưởng (Growth hormone - GH) của tuyến yên có tác dụng
kích thích mô sụn và xương phát triển, kích thích tạo xương.
* Các steroid hormone:
- Calcitriol (1, 25 Dihydroxy vitamin D3) có tác dụng tăng quá trình hấp
thu Ca
+2
ở ruột và xương, cần thiết cho sự trưởng thành, calci hóa bình thường
của xương. Ngoài ra còn tác dụng kích thích hủy xương và ức chế tổng hợp
collagen xương.
- Glucocorticoid: của vỏ thượng thận, có tác dụng với chuyển hóa và chất
yếu và dễ gẫy, đặc biệt ở những người cao tuổi. Với bề mặt rộng và nằm sát với
những tế bào tủy có tham gia vào chu chuyển xương nên sự mất xương ở xương
xốp thường xảy ra sớm và trên diện rộng hơn xương vỏ vì vậy rối loạn tái tạo
biểu hiện ở xương xốp sớm hơn. Sau thời kì mãn kinh vài năm ở nữ và sau độ
tuổi 60 ở nam các tế bào hủy xương năng động hơn các tế bào tạo xương, dẫn
tới tình trạng suy giảm mật độ xương, loãng xương và gia tăng nguy cơ gãy
xương ở người cao tuổi.
Khi sinh thiết xương của một người bình thường và một người bị loãng
xương người ta thấy rằng: xương của người bình thường có những thanh xương
liên kết nhau thành những “ma trận” và ở xương của người bị loãng xương hay
có mật độ xương bị suy giảm thì phần lớn những “ma trận” này bị mất đi hay bị
phân hủy (hình 1.1).
Sơ đồ 1.1 Cơ chế loãng xương
Nguồn: Nguyễn Thy Khuê (2011)
a. Cơ chế loãng xương nguyên phát:
7
• Cơ chế mất xương ở nữ giới sau mãn kinh
Trung bình phụ nữ mất khoảng 50% xương xốp và 35% xương đặc trong
quãng đời, có ước tính cho rằng trong đó có 25% xương xốp và 15% xương đặc
mất đi là do giảm hay thiếu estrogen . Estrogen tác động đến các tế bào tạo
xương và hủy xương để ức chế sự phân hủy xương trong mọi giai đoạn của quá
trình tái tạo xương. Điều đó giải thích rằng ngay những năm đầu mãn kinh,
lượng estrogen bị suy giảm đột ngột hệ quả là mật độ xương cũng suy giảm
nhanh chóng. Ảnh hưởng của Estrogen lên sự tái tạo xương là vấn đề cơ bản của
loãng xương sau mãn kinh .
Mất xương nhanh ngừng sau 5-10 năm, ngay sau đó người phụ nữ tiếp tục
giai đoạn mất xương chậm do thiếu estrogen, đồng thời lại vừa chịu mất xương
do tuổi già .
Sơ đồ 1.2 Giai đoạn mất xương chậm do thiếu estrogen sau mãn kinh
Nguồn: Nguyễn Thy Khuê (2012)
bình thường của xương. Trong đái tháo đường typ1 và typ2 giai đoạn muộn đều
có sự suy giảm nồng độ insulin trong máu, đồng thời còn gây rối loạn chuyển
hóa protid và lipid trong máu, dẫn đến giảm tạo xương gây loãng xương.
• Viêm khớp dạng thấp :
Những bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây
loãng xương. Trong những đợt tiến triển của bệnh do tình trạng viêm của các
khớp dẫn đến bệnh nhân bị hạn chế vận động, thời gian nằm tại giường nhiều, ít
9
tiếp xúc với ánh nắng. Kèm theo đó là việc sử dụng các thuốc để điều trị bệnh
như corticoid kéo dài, methotrexat…
• Bệnh lý ác tính:
Những bệnh lý ác tính tại xương (sarcoma xương, đa u tủy xương, loạn sản
xơ xương…) hay di căn từ mô khác đến xương (phổi, gan, tử cung, phần phụ,
tiền liệt tuyến, đường tiêu hóa…) đều gây quá trình hủy xương liên tục, dẫn đến
loãng xương nhanh và nặng.
• Thiếu vitamin D và Canxi :
Calcitriol (1,25 dihydroxy cholecalciferol – vitamin D3) có tác dụng tăng
quá trình hấp thu Ca 2+ ở ruột và xương, cần thiết cho sự trưởng thành, calci
hóa bình thường của xương. Vì thế khi thiếu vitamin D 3 (do cung cấp thiếu, do
giảm hấp thu, do ít tiếp xúc với ánh nắng…) thì đều gây loãng xương.
• Suy sinh dục ở nam giới :
Testosteron có tác dụng kích thích sự tăng trưởng cơ và tác động tích cực
đến quá trình tạo xương; ngoài ra testosteron trong cơ thể còn có thể chuyển hóa
thành estrogen tác động lên tạo xương. Khi suy giảm testosteron trong cơ thể
dẫn đến giảm quá trình tạo xương trong cơ thể gây loãng xương.
• Sử dụng corticoid :
Khi sử dụng glucocorticoid ngoại sinh sẽ dẫn đến giảm sản xuất
glucocortioid nội sinh tại vỏ tuyến thượng thận do quá trình feedback ngược,
đồng thời làm giảm hấp thu calci ở ruột, tăng thải calci qua đường niệu, hậu quả
cuối cùng là ức chế quá trình tạo xương dẫn đến loãng xương.
- Giảm chiều cao so với lúc trưởng thành hoặc đau cột sống do xẹp các đốt
sống cấp tính; đau xuất hiện khi có 1 đốt sống mới bị xẹp hoặc đốt sống ban đầu
bị xẹp nặng lên. Trường hợp có biến dạng cột sống: làm cho bệnh nhân đau cột
sống và đau do cọ sát vào xương chậu
- Hội chứng kích thích rễ thần kinh: có thể có dấu hiệu chèn ép rễ, không
bao giờ có dấu hiệu chèn ép tủy.
- Nhiều trường hợp biểu hiện đầu tiên của loãng xương là gẫy xương tự
nhiên hoặc sau 1 sang chấn nhẹ, thường gặp ở vị trí cổ xương đùi, xương cánh
11
tay, cẳng tay, xương sườn, xương chậu. Trong số đó gãy xương đùi gây hậu quả
nặng nề nhất, làm tăng nguy cơ tử vong, tàn tật và chi phí y tế cao.
- Xét nghiệm sinh hóa: Bilan phospho-calci, CRP, tốc độ máu lắng,
hemoglobin… thay đổi phụ thuộc nguyên nhân loãng xương thứ phát hay
nguyên phát
- Tạo xương: xét nghiệm nồng độ Osteocalcin, phosphatse kiềm trong
huyết thanh.
- Hủy xương: xét nghiệm phosphatase acid, kháng tartrate (TRAP) trong máu
- Nước tiểu: piridinolin (Pyr), Desoxypyridinolin(D-Pyr)
- XQ quy ước: có nhiều tiêu chuẩn đánh giá mật độ xương bằng phương pháp
Xquang, tính theo các chỉ số Barnett-Nordin, Meunier, Buchanan J.R, Singh.
c. Chẩn đoán:
Chẩn đoán loãng xương theo tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO dựa trên mật
độ xương. Từ năm 2002 các hội nghị quốc tế về loãng xương đã thống nhất
quan điểm chỉ có máy sử dụng tia X năng lượng kép được gọi là DEXA ( Dual-
energy X-Ray absorptionmetry) mới có giá trị chẩn đoán. Tiêu chuẩn chẩn đoán
loãng xương của WHO dựa vào BMD (Bone Mineral Density) tính theo T-
score.
• Định nghĩa T score :
Sau khi đã đo mật độ xương (MĐX), bác sĩ lâm sàng cần phải biết các tiêu
chuẩn để chẩn đoán loãng xương hay thiểu xương. MĐX được tinh bằng g/cm2
+ Cột sống biến dạng gù, cong
+ Được phát hiện lún xẹp đốt sống hoặc thưa xương trên Xquang
+ Gẫy xương không do chấn thương : thường gẫy đầu trên xương đùi, đầu
dưới xương cẳng tay.
d. Phân loại loãng xương :
Loãng xương chia 2 loại: loãng xương nguyên phát và loãng xương thứ phát.
- Loãng xương nguyên phát: (chiếm khoảng 80%) là loại loãng xương xuất
hiện một cách tự nhiên mà không tìm thấy căn nguyên nào khác ngoài tuổi
và/hoặc tình trạng mãn kinh ở phụ nữ. Nguyên nhân do quá trình lão hóa của tạo
13
cốt bào dẫn đến tình trạng mất cân bằng giữa tạo xương và hủy xương. Loãng
xương nguyên phát được chia thành 2 typ:
+ Loãng xương sau mãn kinh - typ 1: nguyên nhân chủ yếu do thiếu hụt
estrogen, ngoài ra có sự giảm tiết PTH, tăng thải calci qua nước tiểu. Thường gặp ở
phụ nữ 50-60 tuổi đã mãn kinh hoặc cắt bỏ buồng trứng khoảng 5-15 năm. Tổn
thương chủ yếu là sự mất chất khoáng ở xương xốp, biểu hiện bằng sự gẫy lún các đốt
sống hoặc gẫy đầu dưới xương quay.
+ Loãng xương tuổi già - typ 2: xuất hiện ở cả nam và nữ trên 70 tuổi, đây
là hậu quả của sự mất xương trong nhiều năm, liên quan đến hai tếu tố: giảm hấp
thu calci ở ruột và giảm chức năng tạo cốt bào gây cường cận giáp thứ phát làm
tăng bài tiết calci qua nước tiểu. Tổn thương cả ở phần xương xốp và xương vỏ,
thường biểu hiện bằng gẫy cổ xương đùi
- Loãng xương thứ phát: là loãng xương tìm thấy nguyên nhân do 1 số bệnh
hoặc thuốc gây nên
+ Bệnh nội tiết: tăng tiết hormon vỏ thượng thận, giảm chức năng tuyến sinh
dục, cường giáp, cường cận giáp, đái tháo đường, cắt bỏ buồng trứng.
+ Bệnh tiêu hóa: cắt dạ dày, cắt đoạn ruột, rối loạn tiêu hóa kéo dài, bệnh
gan mãn, kém hấp thu
+ Bệnh khớp: viêm khớp dạng thấp, bệnh lý cột sống,
+ Bệnh ung thư: kaler, ung thư di căn.
do loãng xương hơn những người có mẹ đẻ không bị gẫy xương do loãng xương
- Giới: phụ nữ có nguy cơ loãng xương cao hơn nam giới vì khối lượng
xương của họ thấp hơn và có một quá trình mất xương nhanh do sự suy giảm
chức năng buồng trứng sau mãn kinh .
- Tuổi già: tuổi càng cao mật độ xương càng giảm do chức năng của tạo cốt
bào suy giảm làm mất cân bằng giữa tạo xương và hủy xương. Thêm vào đó là
sự giảm hấp thu calci ở ruột, và giảm tái hấp thu calci ở ống thận .
- Tuổi mãn kinh: những phụ nữ mãn kinh sớm một cách tự nhiên hay do cắt
bỏ buồng trứng có nguy cơ loãng xương sớm hơn do thiếu hụt hormon oestrogen
.
- Yếu tố hormon: giảm oestrogen trong thời gian tăng trưởng và sau mãn
kinh đóng vai trò quan trọng nhất trong cơ chế bệnh sinh của loãng xương,
tỷ lệ mất xương trong giai đoạn mất xương nhanh có liên quan đến nguy cơ gãy
xương do loãng xương.
15
Giảm androgen, tăng tiết hormon cận giáp trạng, tăng tiết corticoid của vỏ
thượng thận cũng có thể dẫn tới loãng xương.
- Yếu tố dinh dưỡng: Chế độ ăn không đầy đủ calci và vitamin D khi tuổi
già làm tăng nguy cơ gãy xương do loãng xương ở người cao tuổi. Một chế độ
ăn kiêng quá mức dẫn tới việc các cơ bị yếu đi không đủ sức chống đỡ khi có
nguy cơ ngã, và cơ cũng không đủ dày để đệm cho xương, không đủ căng để
giúp xương chịu lực ở những nơi xương bị loãng do đó càng làm tăng nguy cơ
gãy xương khi bị ngã.
- Cân nặng: người nhẹ cân sự mất xương xảy ra nhanh hơn, tần xuất gẫy cổ
xương đùi và xẹp đốt sống cao hơn
- Chiều cao: tầm vóc nhỏ dễ bị loãng xương hơn do có khối lượng xương
thấp hơn. Vũ Thị Thanh Thủy (1996), Trần Thị Tô Châu (2002) thấy rằng chiều
cao dưới 145cm là yếu tố nguy cơ gây giảm mật độ xương.
- Chỉ số khối cơ thể (BMI): có ảnh hưởng đến mật độ xương , BMI ≥ 25
như là yếu tố bảo vệ với mật độ xương, BMI <22 lại tăng nguy cơ loãng xương;
+ Risedronat-Actotel
+ Pamidronat- Aredia
+ Acid Zoledronic-Aclasta
• Nhóm thuốc tăng tạo xương:
- Hormon cận giáp trạng PTH – Forsteo: Là nhóm thuốc mới nhất hiện nay,
tuy nhiên thị trường Việt Nam hiện nay chưa có nhóm thuốc này.
- Strontium ranelate – Protelos: Là nhóm thuốc mới, vừa có tác dụng chống
hủy xương, vừa có tác dụng tăng tạo xương.
b. Điều trị loãng xương thứ phát:
• Điều trị nguyên nhân gây loãng xương:
Trong điều trị loãng xương thứ phát ngoài điều trị triệu chứng loãng xương,
quan trọng hơn cả cần điều trị theo nguyên nhân gây loãng xương:
- Loại bỏ nguyên nhân đến từ lối sống: bỏ rượu bia, thuốc lá, cafein, tập thể
dục đều đặn.
- Điều trị bệnh lý gây nên tình trạng loãng xương: cường giáp dùng các
thuốc kháng giáp trạng; cường cận giáp nguyên phát do u tuyến cận giáp cần
phẫu thuật loại bỏ u; suy thận mạn gây cường cận giáp trạng thứ phát cần điều
trị suy thận và bổ sung calci – vitamin D; …
- Ngừng việc sử dụng các thuốc gây loãng xương nếu có thể: corticoid;
chống đông; chống động kinh…
• Điều trị triệu chứng loãng xương:
17
Trong điều trị triệu chứng loãng xương cũng tương tự như loãng xương
nguyên phát đã trình bày ở trên. Tuy nhiên việc lựa chọn nhóm thuốc phụ thuộc
vào nguyên nhân gây loãng xương.
1.3Đặc điểm của Z score và ứng dụng trong lâm sàng:
1.3.1 Kỹ thuật đo mật độ xương bằng phương pháp hấp thụ tia X năng
lượng kép(DXA)
a. Nguyên lý đo mật độ xương bằng DXA:
Sử dụng nguồn tia X phát năng lượng kép, với 2 đỉnh năng lượng riêng biệt
L3
L4
Tổng
- Mật độ xương cổ xương đùi
Vị trí BMD
(g/cm
2
)
T - score Z - score
Cổ xương đùi
Tam giác Ward
19
Mấu chuyển lớn
Tổng
1.3.2 Định nghĩa và đặc điểm Z score :
Trong kết quả đo mật độ xương, ngoài T score các chuyên gia còn tính toán
chỉ số Z hay còn gọi là Z score. Định nghĩa chỉ số Z là độ lệch chuẩn giữa MĐX
hiện tại của đối tượng với MĐX của những người cùng tuổi trong một quần thể
Z score =
Trong đó, iMĐX là mật độ xương của đối tượng I, tMĐX là mật độ xương
trung bình của quần thể có cùng độ tuổi với đối tượng, và SD là độ lệch chuẩn
của MĐX trung bình của quần thể có cùng độ tuổi với đối tượng.
Khi chỉ số Z score thấp, nghĩa là đối tượng bị mất xương nhanh hơn quần
thể cùng giới và cùng lứa tuổi như vậy, điều đó chứng tỏ ở đối tượng có Z score
thấp có thể có thêm nguyên nhân gây mất xương nào khác ngoài tuổi và mãn
kinh. Ví dụ chỉ số Z score bằng -2,0 thì đó là dấu hiệu cho thấy đối tượng có
MĐX thấp hơn 2 SD so với những người cùng độ tuổi, và cần phải được tìm
nguyên nhân thứ phát gây mất xương nhanh ở đối tượng, đặc biệt ở những phụ
nữ chưa mãn kinh hoặc nam giới thấp hơn 50 tuổi. Ngoài ra, Z score còn được
sử dụng ở trẻ em để đánh giá tình trạng tăng trưởng của xương trong thời kỳ dậy
đã tiến hành ở phương Tây, những nguyên nhân loãng xương thứ phát thường
gặp nhất là thiếu vitamin D chiếm 18,5%, tăng Calci niệu là 21,6%, cương giáp
chiếm 10,1%, tiền sử dùng corticoid là 8,43%, suy tuyến sinh dục ở nam là
9,4%; các nguyên nhân cường cận giáp nguyên phát và thứ phát chiếm tỷ lệ thấp
hơn, tương ứng là 1% và 6%. Tương tự như nghiên cứu của K Swaminathan và
cộng sự, tác giả Chee Kwang Yung cũng lấy điểm cut-off của Z score bằng -1,0
thì có thể xác định được 66 trong tổng số 92 bệnh nhân nữ bị loãng xương thứ
phát, có độ nhạy và độ đặc hiệu tương ứng là 71,7% và 37,8%, giá trị dự báo
dương tính và giá trị dự báo âm tính lần lượt là 44,0% và 66,2% .
21
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu và lựa chọn bệnh nhân đến khám và điều trị tại
khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2012 đến hết tháng
9/2014.
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Nữ giới từ 50 tuổi trở lên.
- Đo mật độ xương bằng phương pháp DXA
- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu (phỏng vấn, thăm khám lâm sàng
và làm các xét nghiệm cận lâm sàng)
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Phụ nữ dưới 50 tuổi
- Không đo mật độ xương bằng phương pháp DXA
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu quan sát: mô tả cắt ngang, tiến cứu.
2.2.2 Cỡ mẫu:
Dựa theo công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu tìm độ nhạy của một
- Kết quả đo mật độ xương được phân tích tự động trên máy nhằm thu thập
các thông tin cần thiết như: BMD, T score, Z score tại mỗi vị trí đo.
a. Các thăm dò cận lâm sàng để loại trừ một số nguyên nhân loãng
xương thứ phát thường gặp:
- Sauk hi có kết quả đo mật độ xương bằng phương pháp DXA, các đối
tượng được chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm 1: những đối tượng không bị loãng xương (theo tiêu chuẩn của
WHO với T score trên -2,5)
+ Nhóm 2: những đối tượng được chẩn đoán loãng xương (T score ≤ -2,5)
- Dựa trên kết quả hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng, các đối tượng nghiên
cứu sẽ được chia ra 2 nhóm theo định hướng nguyên nhân: loãng xương nguyên
phát và những đối tượng nghi ngờ loãng xương thứ phát.
- Những đối tượng nghi ngờ có nguyên nhân loãng xương thứ phát sẽ tiếp
tục được chỉ định làm các xét nghiệm để xác định nguyên nhân loãng xương thứ
phát, tùy theo định hướng trên lâm sàng, có thể được chỉ định trong số các xét
nghiệm sau:
+ Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, máu lắng: thực hiện tại khoa Huyết
Học và truyền máu – Bệnh viện Bạch Mai
+ Sinh hóa máu: CRP; Creatinin; Ure; Protein toàn phần; Albumin; GOT và
GPT; Canxi máu toàn phần, Canxi ion hóa; Phospho; Phosphatase kiềm;
23
hormone giáp (FT4; TSH); định lượng vitamin D; Cortison máu; PTH (khi có
rối loạn bilan canxi – phosphor trong huyết thanh)
- Từ những kết quả thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng thu được chia đối
tượng nghiên cứu vào một trong các nhóm: nhóm không có loãng xương; nhóm
bị loãng xương nguyên phát; nhóm có nguyên nhân loãng xương thứ phát
d. Nhập số liệu, phân tích và xử lý số liệu đưa ra kết quả nghiên cứu
theo hai mục tiêu:
- Đặc điểm Z score trong đo mật độ xương bằng phương pháp DXA ở phụ
nữ trên 50 tuổi
Sau cắt dạ dày – ruột Nhị phân Phỏng vấn + khám lâm sàng
Tiêu chảy kéo dài Nhị phân Phỏng vấn + khám lâm sàng
TS dung corticoid Nhị phân Phỏng vấn
Dùng hormone tuyến giáp Nhị phân Phỏng vấn
Methotrexat Nhị phân Phỏng vấn
Heparin Nhị phân Phỏng vấn
24
Thuốc chống động kinh Nhị phân Phỏng vấn
Số năm mãn kinh Liên tục Phỏng vấn
Số lần sinh con Thứ bậc Phỏng vấn
T score cột sống thắt lưng Liên tục Xét nghiệm CLS
Z score cột sống thắt lưng Liên tục Xét nghiệm CLS
BMD cột sống thắt lưng Liên tục Xét nghiệm CLS
T score cổ xương đùi Liên tục Xét nghiệm CLS
Z score cổ xương đùi Liên tục Xét nghiệm CLS
BMD cổ xương đùi Liên tục Xét nghiệm CLS
Phosphatase kiềm Liên tục Xét nghiệm CLS
Máu lắng Liên tục Xét nghiệm CLS
CRP hs Liên tục Xét nghiệm CLS
Hemoglobin Liên tục Xét nghiệm CLS
Creatinin Liên tục Xét nghiệm CLS
Protein/Albumin Liên tục Xét nghiệm CLS
Định lượng Ca Liên tục Xét nghiệm CLS
TSH Liên tục Xét nghiệm CLS
FT4 Liên tục Xét nghiệm CLS
2.4 Một số tiêu chuẩn đánh giá chính
2.4.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương:
Chẩn đoán Loãng xương theo tiêu chuẩn của WHO, dựa vào kết quả đo mật độ
xương bằng phương pháp DXA:
T – score >= -1,0: bình thường