CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TIỀN TỆ TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI : DẪN CHỨNG TỪ NHÓM G7 - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH VÀ TIỀN TỆ
Đề tài:
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TIỀN TỆ TRONG THỜI KỲ
SUY THOÁI : DẪN CHỨNG TỪ NHÓM G7
GV : PGS.TS. Sử Đình Thành
HVTH : Nguyễn Trần Cao Thị Bích Phượng
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 - K20
HCM, Tháng 8 năm 2011
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Chính sách tài khóa và tiền tệ
trong suốt thời kỳ suy thoái: lấy
dẫn chứng trong nhóm G7
Daniel Leigh và Sven Jari Stehn

Mục Lục

Mục đích bài viết
Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tài khóa và tiền tệ ở thời kỳ suy thoái trong nhóm

lỏng chính sách tài khóa chủ quan, được ủy quyền bởi bảng cân đối trọng yếu được điều chỉnh theo
chu kỳ, và thông thường đến sau khi kết thúc suy thoái, và đưa ra mức độ yếu của nhân tố kích thích
kinh tế.
Sử dụng dữ liệu hằng quý, bài này tập trung vào hành vi có tính chu kỳ của chính sách tài
khóa và tiền tệ trong nhóm G7 từ năm 1980. Dùng nghiện cứu sự kiện, ờ phần II phân tích mức độ
thường xuyên và tốc độ phản ứng cùa chính sách tài khóa trong suy thoái. Bài phân tích chỉ ra tốc độ
phản phản ứng khác nhau qua các công cụ tài chính và nó so sánh với các chính sách tiền tệ như thế
nào. Phần III dùng phương pháp vector hồi qui để phân tích sức mạnh phàn ứng của chính sách tài
khóa và tiền tệ đối với cú sốc tăng trưởng. Ngoài ra các tài liệu phần này, có nói đến có bao nhiêu gói
kích thích tài khóa đươc rút ra trong quá trình phục hồi tiếp theo, và cách so sách giữ sự cân xứng
của chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ. Cuối cùng, phân tích sự không chắc chắn liên về trạng
thái của nền kinh tế thì quan trọng như thế nào. Phần IV tập trung vào kinh nghiệm của nườc Mỹ, chi
tiết dữ liệu hàng quý về thay đổi luật thuế từ năm 1960s thì vẫn có hiệu lực. Đăc biệt đối sự kịp thời
và đúng lúc của luật thuế nghịch chu kỳ thì được đánh giá dựa trên dữ liệu mới của Romer and
Romer (2007).
II. Phân tích nghiên cứu về sự kiện

A. Dữ liệu và phương pháp
Định nghĩa kinh tế suy thoái và nhân tố kích thích tài khóa và tiền tệ thì không thể tránh
được một phần chủ quan. Trong bài này, suy thoái được định nghĩa là một khoảng thời gian mà
trong suốt khoảng thời gian đó hoặc tỷ lệ tăng trưởng là mức âm hoặc output gap ( là độ chênh lệch,
thường tính bằng %, giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng của một nền kinh tế. Output gap
lớn hơn 0 thường được coi là dấu hiệu của dư cầu, gây áp lực tăng giá, do đó sẽ phải tăng lãi suất
nhằm tránh cho nền kinh tế phát triển quá nóng cũng như kiềm chế lạm phát. Output gap nhỏ hơn 0
được coi là dấu hiệu lạm phát sẽ giảm.) là âm bất thường (được xem như là độ lệch chuẩn dưới 0).
Định nghĩa này thì tổng quát một cách đơn giản hơn, định nghĩa suy thoái trong thời kỳ tăng trưởng
âm ( as in Romer and Romer (1994)), bởi vì bỏ đi giai đoạn mà ở đó sản lượng ít hơn tiềm năng đáng
kể nhưng vẫn tăng.
Trong bài dùng thay đổi lãi suất danh nghĩa trong ngắn hạn như là chỉ số của chính sách tiền
tệ. Sự đo luờng của nhân tố kích thích tài khóa bắt đầu với bảng cân đối tài khóa trọng yếu, sự khác

hơn phân nữa lãi suất nới lỏng thường xuyên. Tuy nhiên, nhân tố kích thích tài khóa chủ quan đã đạt
tới mức, trung bình, 2.4 quý sau khi bắt đầu suy thoái, 1.6 quý sau khi nới lỏng lãi suất. Chi tiêu đầu
tư đã có tần suất phản ứng thấp nhất, với việc nới lỏng trong 13% đối với tất cả các quý suy thoái, và
sự giảm giữ hầu như trong từng quý. Ngược lại, như được mong đợi, nới lỏng tài chính tự động,
được ủy quyền bời cán cân thanh toán trọng yếu theo chu kỳ đã xảy ra trong hấu hết tất cả các cuộc
suy thoái trong chính quý suy thoái của nó.
Tuy nhiên, có một số kết luận tìm thấy cho nhóm G7 ẩn chứa sự khác nhau giữa các quốc gia.
Đặc biệt, sự nới lỏng tài khóa chủ quan thì thường xuyên hơn trong các nước “Anglo-Saxon” (gồm
Canada, the United Kingdom, and the United States) so với các thành viên khác trong nhóm G7. Cụ
thể, nới lỏng chính sách tài khóa chủ quan xảy ra ở mức 34%, 39%, và 26 % của các quý suy thoái
tương ứng trong các nước này, so sánh với mức trung bình là 12% đối với các nước khác. Sự khác
biệt này có thể quy cho việc thường xuyên nới lỏng ở cả thu nhập và chi tiêu hiện tại.
Bảng 2 cung cấp bảng tóm tắt thống kế trong thời kỳ tăng trưởng nóng. Bảng này cho biết
tăng trưởng nóng xảy ra ở mức 74% của ví dụ nghiên cứu. Trong khi chính sách tài khóa trình bày
hành vi theo chu kỳ tương tự như trong suy thoái, thì chính sách tiền tệ phản ứng ít thường xuyên
một cách đáng lưu tâm ( chỉ có 27% của tăng truởng nóng) và làm chậm lâu hơn( 2.2 quý) so với
trong thời kỳ suy thoái. Trong khi chính sách tiền tệ cung ứng tính nới lỏng nhanh hơn và thường
xuyên hơn so với chính sách tài khóa ở thời kỳ suy thoái, và cái biển hiện của nó tương tự như là
chính sách tiền tệ trong thời kỳ tăng trưởng nóng.

III. Phân tích biện pháp vectơ hồi quy (VAR)
A. Phương pháp học
Để định lượng tốc độ và cường độ phản ứng theo chu kỳ của chính sách tài khóa, và so sánh
phản ứng này với chính sách tiền tệ, VAR được ước lượng dùng dữ liệu hàng quý đối với từng nước
trong nhóm G7. Các biến trong phân tích VAR, và thứ tự của chúng như sau: tăng trưởng GDP thực
trừ cho tăng trưởng GDP tiềm năng thực; sự lạm phát (dựa vào chỉ số giảm phát GDP); thay đổi lãi
suất danh nghĩa; thay đổi cán cân tài chính thiết yếu đuợc điều chỉnh theo chu kỳ; và thay đổi cán
cân tài khóa tự động theo chu kỳ. Để đơn giản, giữ 2 ẩn đối với mỗi biến trong VAR trong từng nước.

B. Kết quả cơ bản

Ngược lại ở các nước Châu Âu, chính sách tài khóa chủ quan theo chu kỳ, với thắt chặt lũy kế
ơ mức 0.4% GDP trong 4 quý đầu tiên. Ở Nhật cũng thúc đẩy tác động theo chu kỳ, như chính sách
chủ quan được nới lỏng liên tục 3 tháng đã đưa ra một mức nới lỏng lũy kế là 0.3% của GDP. Hơn thế
nữa, các nước Anglo-Saxon và các nước châu Âu, chính sách tiền tệ đã đáp ứng kịp thời và mạnh của
nhân tố kích thích nghịch chu kỳ trong phán ứng đối với tăng trưởng chậm, với tác động của lãi suất,
và lũy kế nới lỏng vào khoảng 100 basis point sau 4 quý. Ở Nhật hầu như không có phản ứng lãi suất
danh nghĩa, do mức thấp nhất là 0.
Hình 3 khám phá độ vững chắc của kết quả đối với các chỉ số theo chu kỳ.
Ngoải việc phản ứng đối với mức tăng trưởng dưới tiềm năng (mà đã dùng ở trên),
phản ứng chính sách đối với tăng trưởng chậm và output gap chậm đã được nhận
thấy. Mặc dù một số khác biệt, đặc biệt trong phản ứng output gap chậm, hình 3 chỉ
ra rằng chất lượng kết quả liên quan tới hành vi của chính sách tài khóa và tiền tệ
theo chu kỳ thì vững chắc đối với việc lựa chọn của chỉ số theo chu kỳ.
C. Tính bất đối xứng
Sự quan tâm này thường nảy sinh liên quan tới hoạt động nghich chu kỳ chủ quan mà người
hoạch định chính sách có thể phản ứng theo cách phương thức bất đối xứng, nới lỏng khi suy thoái

và không có thắt chặt đúng mức trong tăng trưởng. Ở nước Mỹ, thường được tranh cãi là chính sách
tiền tệ thắt chặt không đúng mức trong giai đoạn bùng nổ dotcom 1998-2000, khi lãi suất được cắt
giảm mạnh trong phản ứng suy thoái theo sau.
Kết quả nới lỏng thiên về chính sách tài khóa có thể là tăng tỷ lệ nợ công đối với GDP với hậu
quả có khả năng bất lợi trong tăng trưởng về lâu về dài.Điều tra liệu chính sách tài khóa và tiền tệ ở
các nước G7 đã trình bày như là khuynh hướng bất đối xứng, cơ cấu VAR được điều chỉnh để thích
nghi với phản ứng bất đối xứng trong thời kỳ tăng trưởng và suy thoái. Đặc biệt, đối với mỗi nước,
bây giờ VAR gồm các biến như sau: tăng trưởng trừ cho tăng trưởng tiềm năng khi nền kinh tế suy
thoái và là 0 nếu nguợc lại; tăng trưởng trừ đi tăng trưởng âm khi nền kinh tế tăng trưởng và là 0
nếu ngược lại, và bao gồm các yếu tố trước, v.v… lạm phát, thay đổi lãi suất danh nghĩa, và thay đổi
công cụ tài khóa.
Trước đây, suy thoái đước hiểu là các quý mà ờ đó tăng trưởng âm hay là dưới mức output gap hơn
sai lệch chuẩn dưới 0. Kết quả thì rất chính xác đối với thay đổi thứ tự hai nữa của tăng trưởng( suy

Việc hiệu chỉnh tiếp theo là một ước lượng tăng trưởng âm đặc biệt khá lớn. Ví dụ, ước
lượng tăng trưởng hằng quý là -0.6%, trung bình, hiệu chỉnh là từ 0.6% tới 0.
Dữ liệu thì phù hợp với quan điểm, dữ liệu sơ bộ có thể được dùng bởi những nhà hoạch
định chính sách trong thực tế thì thiên về hướng cho rằng nền kinh tế thời suy thoái, và phản ứng
nghịch chu kỳ dự định như là dự liệu có thể trở ra theo chu kỳ. Sự thay đổi lệch qua các nước, và ít
thi thiên vể các nước Mỹ và Pháp. Thêm nữa, trong khi vẫn có ý nghĩa thống kê, độ lệch xuất hiện
suy giảm vào những năm gần đây, phản ánh môi trường phát triển có thể ước lượng và ổn định hơn.
Để điều tra chính sách tài khóa trong các nước G7 bị ành hưởng bời những sai lầm trong việc
ước lượng tăng trưởng như thế nào, cơ cấu VAR được tăng thêm các sai lầm ước lượng tăng
trường.Bây giờ VAR bao gồm các sai lầm ước lượng sơ bộ và cũng bao gồm các biến trước đây. Các
sai lầm ước lượng được đặt trong VAR sau tăng trưởng và lạm phát như trước các biến chính sách.
Ngay khi trước kết quả thiết thực đối với việc thay đổi thứ tự giữa các biến sai lầm và chính sách.
Tập trung vào mẫu cùng, xác nhận lại chính sách tài khóa và tiền tệ bị tác động bởi sai lầm
trong ước lượng tăng trưởng sơ. Trong nhóm G7 ở mức trung bình, lãi suất bị cắt giảm ở khoảng 50
basic point trong phản ứng cứ giảm 1% point trong tăng trưởng trước liên quan tới hiệu chỉnh tăng
trưởng sau cùng. Hình 6 cho thấy nới lỏng này được đưa tới bởi chính sách mở rộng ở các nước
Anglo-Saxon. Trong khi cán cân theo chu kỳ (bằng việc xây dựng) không phản ứng với nhận thức sai
lầm về suy thoái. Cán cân chính sách chủ quan đối với tỉ lệ GDP tiểm năng rơi xuống khoảng 0.3%
point, dẫn tới việc cắt giảm thu nhập và tăng tiêu dùng. Các nước Anglo-Saxon lại cung cấp nhân tố

kích thích lớn nhất, nhưng chính sách tài khóa chủ quan được nới lỏng ở các nước châu Âu và Nhật.
Những phát hiện này cho thấy mối liên quan tới sai lầm chính sách là một nền tảng tốt.
Trong khi các nước Anglo-Sacon đưa ra các nhân tố kích thích ổn định và đúng lúc trong suy thoái,
các hoạt động chủ quan này thường là phản ứng sai lầm trong nhận thức suy thoái, nhấn mạnh độ
nguy hiểm của các hành vi chủ quan trong thời gian thực. Những phát hiện là nội dung đặc biệt, như
các quyết định chính sách tài khóa thì dường như ít đảo ngược hơn các quyết định chính sách tiền
tệ, và các sai lầm chính sách tài khóa sinh ra hậu quả nợ lâu dài tiểm ẩn.

IV. Tình huống nghiên cứu: Mỹ đã cắt giảm thuế kịp
lúc và tạm thời ?

như là “quyết định chậm trễ” (trì hoãn giữa việc quan sát suy thoái và việc ký kết đạo
luật thuế) và ”thực thi chậm trễ”( trì hoãn giữa ký kết và thực thi các đạo luật thuế)
của việc cắt giảm thuế nghịch chu kỳ. Bảng 4 chỉ ra chậm trễ trong việc thi hành trung
bình là khoảng 1 quý.
Số liệu cũng đưa ra cái nhìn trực tiếp vào sự tạm thời của sự thay đối thuế nghịch chu kỳ.
Dùng dữ liệu của Romer-and-Romer, và thêm các tài liệu chính phủ, bảng 4 cũng tóm tắc cách thay
đổi thuế tạm thời được mong đợi như thế nào và thật sự diễn ra như thế nào. Bản chỉ ra rằng 84%
các yếu tố kích thích đã cung cấp bởi thuế được lên kế hoạch tạm thời, hầu như giảm bớt (nó đã tính
vào khoảng 52% point trên tổng số). Tuy nhiên, chỉ có 73% của thay đổi thuế diễn ra tạm thời bởi vì
có một số giảm thuế không là giảm bớt mà được cộng thêm vào đó. Khoản thời gian thay đổi trung
bình là 2.5 quý (gồm có giảm bớt với khoảng thời gian trung bình là 1 quý và không giảm bớt với
khoảng thời gian trung bình la 4.6 quý)

V. Kết luận
Bài này đưa ra qui ước thông thường mà chính sách tiền tệ trong nhóm G7 là công cụ nghịch
chu kỳ đáng tin cậy trong khi chính sách tài khóa chủ quan lại thất bài khi cung cấp nhân tố chinh
sách kích thích thời suy thoái. Phân tích đẳng định là chính sách tiền tệ thích hợp kịp thời và mang
tính rõ ràng nghịch chu kỳ trong suy thoái qua thang đo. Đánh giá của chính sách tài khóa, tuy nhiên,
có nhiều sắc thái hơn nhận thức thông thường. Các hành vi chính sách chủ quan hầu như bị chậm lại

và theo chu kỳ trong các nước châu Âu và Nhật, nhưng lại nghịch chu kỳ và mang tính kịp lúc trong
các nước Anglo-Saxon. Trong khi các nghiên cứu chỉ ra rằng hành vi tài khóa tức thời là có thể, bài
này cũng nhấn mạnh hai vấn đề tương tư trong khi thực hiện nó. Các hành vi chính sách được chỉ ra
là bất đối xứng qua chu kỳ à phản ứng lại là thướt đo sai lầm của chu kỳ.

Phục Lục
Tables

Table 1. How Often and Quickly Did Fiscal Stimulus Arriva during Downturns?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status