MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Kể từ năm 1987 Luật Đầu tư nước ngồi ở Việt nam có hiệu lực, khởi đầu cho
dòng chảy các luồng vốn từ bên ngồi vào nước ta. Lúc đầu, các nhà đầu tư nước
ngồi chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bất động sản, nhà hàng,
khách sạn, văn phòng cho thuê, khu vui chơi giải trí, Những năm về sau, thì họ
chuyển sang lĩnh vực sản xuất, gia công chế biến hàng công nghiệp cho tiêu dùng
và xuất khẩu. Từ đó, đã hình thành những khu vực sản xuất công nghiệp tập trung
trải dài trên nhiều địa phương và các vùng trên cả nước. Cùng với dòng chảy của
các luồng vốn đầu tư, là dòng chảy của lực lượng lao động đổ về các khu sản xuất
công nghiệp tập trung: khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, đặc khu
kinh tế, cụm công nghiệp
Riêng đối với tỉnh Bình Dương, việc tăng nhanh thu hút vốn đầu tư và nguồn
nhân lực vào các khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi trong KCN, thời gian qua
đóng góp một phần lớn trong phát triển kinh tế, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế
cao, thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH của địa phương, tăng thu ngân sách, giải
quyết hơn 135.000 việc làm, nhất là làm cho đời sống của người lao động ngày
càng phát triển.Vai trò của NLĐ ngày càng được khẳng định, đời sống vật chất và
tinh thần được quan tâm hơn, nhưng những bức xúc giữa họ và chủ DN cũng xuất
hiện. Bộ Luật Lao động 1994 và sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006 đã thúc đẩy
và tạo nền tảng cơ bản về quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào QHLĐ
cũng như từng bước hướng các quan hệ này vào quỹ đạo chế tài từ luật định. Bên
cạnh những thành tựu đạt được, phát sinh những vấn đề phức tạp về QHLĐ, đây là
vấn đề nhạy cảm trong hệ thống quản lý.
Trong thực tiễn đã bộc lộ nhiều tiêu cực phát sinh, đã làm ảnh hưởng đến phát
triển kinh tế xã hội. Một trong những tiêu cực thấy rõ trong thời gian gần đây là
hiện tượng vi phạm pháp luật, các thắc mắc, khiếu nại, tranh chấp lao động và liên
tiếp xảy ra các cuộc đình lãn công tập thể kéo theo hàng trăm, thậm chí hàng ngàn
Nguyễn Ái Đồn, đăng trên tờ Nghiên cứu kinh tế, số 261; “Vài ý kiến về vấn đề cải
cách tiền lương Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Trần Văn Thiện, đăng trên thời 3
báo Kinh Tế Việt Nam, số 24/2005; “ Tiếp tục cải cách chế độ tiền lương” của
TS.Lê Hồng Tiến đăng trên thời báo Kinh Tế Việt Nam số 86/2006 và qua thực tế
tình hình của tỉnh Bình Dương chúng ta phân tích và đánh giá mối quan hệ lao
động giữa người lao động và người sử dụng lao động, trong khu vực có vốn đầu tư
nước ngồi ở các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương.
3. Nội dung, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là QHLĐ trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngồi trong các KCN Bình Dương. Một số thông tin, số liệu sử dụng trong luận
án được điều tra và tham khảo tại các Sở, Ban ngành liên quan tỉnh Bình Dương, từ
đó đi đến phân tích và đưa ra định hướng về QHLĐ.
3.1. Phân tích các yếu tố tác động đến các lợi ích của NLĐ, chủ doanh nghiệp
và nhà nước ở Tỉnh Bình Dương và mối quan hệ giữa chúng.
3.2. Đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp để xây dựng các mối quan hệ
lao động về các lợi ích và phân phối thu nhập một cách hợp lý, hài hòa ở khu vực có
vốn đầu tư nước ngồi tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung của đề tài có liên quan đến một số ngành, một số lĩnh vực, do đó
những phương pháp sau đây sẽ được vận dụng:
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
Phương pháp thống kê
Phương pháp mô tả, đều tra phân tích các số liệu thống kê
Phương pháp phân tích và so sánh
Phương pháp tổng hợp
Quan hệ lao động được xác định ở một số điểm chính sau:
- Là quan hệ qua lại giữa người lao động và người sử dụng lao động.
- Chịu sự điều chỉnh về mặt pháp lý và những can thiệp trực tiếp khi cần thiết
của Nhà nước.
- Quan hệ lao động diễn ra trong tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất – kinh
doanh, và phần lớn diễn ra trong môi trường công nghiệp.
Mặc dù hoạt động của con người rất đa dạng, phong phú, diễn ra trong nhiều
lĩnh vực và dưới mỗi chế độ xã hội khác nhau, bản chất của quan hệ lao động cũng
có khác nhau. Dưới chủ nghĩa tư bản, quan hệ lao động, thường được hiểu là quan
hệ chủ – thợ, chứa đựng quan hệ bóc lột của chủ tư bản đối với lao động làm thuê, 6
còn dưới chủ nghĩa xã hội, quan hệ lao động thường thể hiện qua quan hệ quản lý
giữa người điều hành và người thừa hành, nó không chứa đựng quan hệ bóc lột lao
động làm thuê.
1.1.1.2 Điều kiện xuất hiện quan hệ lao động và sự khác biệt giữa các quan
hệ lao động trong các chế độ xã hội khác nhau
Quan hệ lao động chỉ xuất hiện khi xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong điều kiện quan hệ sản xuất phong kiến chủ nghĩa chưa có quan hệ lao động.
Quan hệ giữa chúa phong kiến và nông nô không phải là quan hệ lao động, bởi vì,
chúa phong kiến không thuê mướn người nông dân làm thuê và trả lương cho người
nông dân, mà người nông dân không có đất, muốn tồn tại họ phải lĩnh canh đất đai
của chúa phong kiến để canh tác và nộp địa tô cho chúa phong kiến. Người nông nô
không được tự do hồn tồn như người công nhân trong chủ nghĩa tư bản, họ và gia
đình họ phải bị gắn chặt với đất đai của chúa phong kiến để tồn tại.
Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xuất hiện người lao động đi bán sức
lao động (làm thuê) cho các chủ tư bản. Sức lao động đã biến thành hàng hố, bởi vì
trong chủ nghĩa tư bản đã có hai điều kiện để sức lao động biến thành hàng hố, đó
động sản xuất. Tất cả những người trong quá trình sản xuất của một đơn vị sản xuất
xã hội chủ nghĩa đều là người lao động: người lao động gián tiếp (nhà quản lý, điều
hành) và người lao động trực tiếp (người trực tiếp thực hiện lao động sản xuất). Đây
là sự khác biệt về chất giữa quan hệ lao động trong chủ nghĩa tư bản và quan hệ lao
động trong chủ nghĩa xã hội.
1.1.2 Các hình thức biểu hiện quan hệ lao động
Các quan hệ lao động được thể hiện qua các hình thức thu nhập của các chủ thể
tham gia sản xuất kinh doanh. Trong sản xuất kinh doanh có các chủ thể kinh tế
như: người lao động làm công ăn lương, chủ sở hữu, nhà nước. Vì vậy, quan hệ lao
động thể hiện qua các hình thức thu nhập sau:
1.1.2.1 Tiền lương
Tiền lương là số lượng tiền mà người lao động nhận được sau một thời gian làm
việc nhất định, hoặc sau khi đã hồn thành một khối lượng công việc nào đó. Trong
đó, một yêu cầu khách quan là tiền lương phải đảm bảo: tái sản xuất sức lao động, 8
đáp ứng những nhu cầu giáo dục, văn hóa và tinh thần của người lao động và nuôi
dưỡng con cái.
Tiền lương được xem xét trên hai mặt: tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực
tế.
+ Tiền lương danh nghĩa là tiền công mà người lao động nhận được dưới hình
thức tiền mặt;
+ Tiền lương thực tế thể hiện bằng số lượng sản phẩm và những dịch vụ mà
người lao động có thể mua được từ tiền lương danh nghĩa.
Về hình thức chủ yếu của tiền lương, chúng ta phân biệt có 2 loại: tiền lương
theo thời gian và tiền lương theo sản phẩm.
+ Tiền lương theo thời gian được áp dụng cho những công việc không tính cụ
thể được hao phí lao động (nghiên cứu khoa học, công tác quản lý, ) được thể hiện
nghịch với nhau. Đây cũng là một mâu thuẫn cần giải quyết. Để giải quyết mâu
thuẫn này, nghĩa là, tiền lương phải tăng lên và lợi nhuận cũng tăng lên, cần phải
tăng tổng khối lượng giá trị, đồng nghĩa với việc sản xuất kinh doanh phải phát
triển.
1.1.2.2 Lợi nhuận (cổ tức), lợi tức
Đây là hình thức thu nhập theo tài sản hay theo vốn, được thể hiện như: Đối với
vốn tự có của các doanh nghiệp tư nhân riêng lẻ cũng như trong vốn cổ phần của
các cổ đông trong các công ty cổ phần, hình thức thu nhập là lợi nhuận, lợi tức cổ
phần hoặc cổ tức; Đối với vốn cho vay, thu nhập thích ứng là hình thức lợi tức cao
hay thấp phụ thuộc vào tỷ suất của nó. Tỷ suất này lên xuống theo quan hệ cung cầu
về tiền cho vay và quan hệ cung cầu hàng hóa, liên quan đến chỉ số biến động của
giá cả trong từng thời kỳ.
1.1.3 Mối quan hệ của các lợi ích trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện
nay
1.1.3.1 Bản chất của mối quan hệ các lợi ích
Bản chất của lợi ích kinh tế có cơ sở khách quan gắn liền với các quan hệ sản
xuất, trước hết là quan hệ sở hữu. Hơn nữa, từ quy luật quan hệ sản xuất phải phù 10
hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, mỗi quan hệ sản xuất cùng với
lợi ích kinh tế tương ứng, tuy là hợp lý hay phi lý, tiến bộ hay không tiến bộ; tiêu
chuẩn xem xét là ở chỗ chúng phù hợp hay không phù hợp với tính chất của lực
lượng sản xuất, thúc đẩy hay cản trở quá trình phát triển.
Như vậy, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, thì
lợi ích kinh tế của các thành phần tham gia, kể cả Nhà nước phải hài hòa. Mà hướng
đến của tồn xã hội mong muốn là phải tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất,
nâng cao đời sống nhân dân lao động; cũng là tiêu chuẩn để xác định tính hợp lý về
lợi ích kinh tế của các chủ sở hữu trong việc sử dụng cơ cấu kinh tế nhiều thành
pháp sản xuất kinh doanh phải bảo đảm kết hợp hài hòa, đúng đắn các lợi ích kinh
tế của xã hội, tập thể lao động, cá nhân người lao động và các chủ sở hữu cá thể, tư
bản tư nhân trong và ngồi nước. Có như vậy mới tạo được động lực kinh tế, giải
phóng được mọi năng lực sản xuất hiện có của xã hội.
1.1.3.2 Vai trò của lợi ích kinh tế trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nền kinh tế sẽ tạo nhiều sản
phẩm, của cải cho xã hội, do đó có nhiều động lực kích thích phát triển. Mọi động
lực, suy đến cùng, do động lực kinh tế quyết định. Vì vậy, lợi ích kinh tế có vai trò
hết sức quan trọng đối với mọi quá trình phát triển kinh tế nói chung. Vấn đề này
càng có ý nghĩa đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta:
- Lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp thúc đẩy mọi người và các chủ thể kinh
tế vì lợi ích kinh tế mà quan tâm đến kết quả sản xuất;
- Đẩy mạnh dân chủ hóa trong kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm
cho mọi người yên tâm phấn khởi làm ăn theo pháp luật;
- Khai thác được các nguồn tài nguyên và lao động để tạo ra nhiều sản phẩm
hàng hóa cho xã hội;
- Đảm bảo cho người lao động được hưởng phần thu nhập phù hợp với sự
đóng góp của mình.
Thực tiễn nước ta nhiều năm qua, trong thời gian khá lâu dài, Nhà nước thiên về
lợi ích xã hội, xem nhẹ lợi ích tập thể lao động, cá nhân người lao động và của
người chủ sở hữu cá thể, tư nhân. 12
Tóm lại, lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, vì sản xuất là
“gốc”, là cơ sở phân phối lợi nhuận. Do đó, phải giải quyết hài hòa các lợi ích, coi
trọng lợi ích cá nhân người lao động; phải có biện pháp đồng bộ về kinh tế, hành
chánh và tư tưởng để xây dựng con người mới hồn thiện, xã hội công bằng và văn
minh; tránh tình trạng phân hóa quá nhiều giữa các tầng lớp xã hội trong quá trình
người sử dụng lao động và người lao động. Ngày nay, phát triển kinh tế – xã hội
còn thể hiện ở yếu tố tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm cao, phù hợp với nhu cầu
xã hội, nhu cầu con người, bảo vệ môi trường và bảo đảm công bằng xã hội.
1.2.1 Quan hệ lao động là động lực cơ bản để tăng năng suất lao động, phát
triển lực lượng sản xuất
Sự phát triển không ngừng của sản xuất, của kinh tế là cơ sở của mọi sự phát
triển trong đời sống xã hội. Phát triển kinh tế suy đến cùng, là sự tăng năng suất lao
động, là sự phát triển của lực lượng sản xuất (bao gồm tư liệu lao động và người lao
động). Do vậy, muốn phát triển kinh tế – xã hội, mấu chốt của vấn đề là phát triển
lực lượng sản xuất.
Những yếu tố thuộc về lực lượng sản xuất, có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế - xã hội trong quan hệ lao động. Khi xét những nhân tố thuộc lực lượng sản xuất
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, ngồi những yếu tố như điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên, còn có nhân tố con người và công nghệ ngày càng được nhấn
mạnh, trong đó khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Công nghệ nếu
được lựa chọn phù hợp với tiềm năng nguồn lực của đất nước… sẽ là một động lực
mới thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững. Đất nước ta trong quá trình
công nghiệp hố, hiện đại hố, muốn ứng dụng công nghệ mới cần phải biết sử dụng
chuyên gia công nghệ dưới hình thức trao đổi khoa học – kỹ thuật, liên doanh liên
kết, chuyển giao công nghệ. Cần có chính sách hợp lý để tận dụng những thành tựu
mới của cách mạng khoa học và công nghệ, tranh thủ thời cơ để vươn lên đuổi kịp
các nước có nền kinh tế phát triển. Trong đó, con người luôn là yếu tố hàng đầu của
sự phát triển kinh tế, đặc biệt trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ
hiện đại. 14
Ngày nay, với sự phát triển của văn minh và văn hóa, về khách quan con người
vừa được coi là động lực, vừa được coi là mục đích của sự phát triển. Lý do là, trình
hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thích hợp nhất đối với sự phát triển quan hệ sản
xuất trong nền kinh tế chuyển đổi của đất nước, trong xu thế chủ động hội nhập nền
kinh tế thế giới xây dựng chế độ chủ nghĩa xã hội văn minh và tiến bộ. Cơ chế thị
trường với tác động của quy luật giá trị, cạnh tranh và cung – cầu kích thích tối đa
tính năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải đổi mới
kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nậng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất; nhất
là phát triển mối quan hệ sản xuất. Mà trong đó mối quan hệ giữa người lao động và
người sử dụng lao động cùng tồn tại và tiến bộ, góp phần cải thiện mối quan hệ sản
xuất mới đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế.
1.2.3 Quan hệ lao động là nhân tố quan trọng hình thành con người mới để
xây dựng và làm chủ xã hội giàu có, dân chủ, công bằng, văn minh
Kinh nghiệm của những nước Châu Á – Thái Bình Dương cho chúng ta thấy,
những nước nghèo muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống
chỉ có một con đường là biến xã hội của đất nước thành một xã hội có học vấn cao,
thể hiện qua quá trình phát triển ngành giáo dục của mình, từ đó kéo theo mức chi
ngân sách cho giáo dục và đào tạo cũng như tỷ lệ dân số có trình độ nghề nghiệp và
học vấn cao, đáp ứng được nhu cầu quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường.
Quan hệ lao động là một nhân tố quan trọng hình thành con người mới, vì ngồi
số lượng lao động trong quá trình phát triển kinh tế, thì chất lượng lao động làm cho
lao động có năng suất cao hơn. Chất lượng lao động có thể nâng cao nhờ giáo dục ,
đào tạo và sức khỏe của người lao động. Giáo dục được coi là dạng quan trọng nhất
của sự phát triển tiềm năng của con người. Kết quả giáo dục làm tăng lực lượng lao
động có trình độ tạo khả năng thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ. Công
nghệ thay đổi càng nhanh, quá trình đổi mới càng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Giống như giáo dục, sức khỏe làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả hiện tại
và tương lai, người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực
tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong khi đang
làm việc. Nhà nước phải có những hoạch định chính sách chăm lo sức khỏe cho
nhân dân, nhằm làm tăng nguồn nhân lực bằng việc kéo dài tuổi lao động. Vì con
người lao động, từ đó là một trong những nguyên nhân chính xảy ra đình - lãn công,
bỏ sang doanh nghiệp khác thậm chí họ chịu cảnh thất nghiệp vài ba tháng để tìm 17
một nơi vừa ý. Gần đây một số doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước
ngồi trong khu công nghiệp không có sự kết hợp quyền lợi giữa người lao động và
người sử dụng lao động một cách hài hòa mà chỉ tính việc thu lợi nhuận trước mắt,
mà quên chăm lo về mặt đời sống vật chất cả về tinh thần, ít nhất là thực hiện những
quy định về lương tối thiểu, các chế độ chính sách về đời sống vật chất và tinh thần
như tham gia bảo hiểm xã hội, khám bệnh định kỳ cho người lao động, trang bị đầy
đủ các dụng cụ bảo hộ lao động, cải thiện môi trường làm việc: xây dựng văn hóa
doanh nghiệp, tạo môi trường làm việc an tồn cho người lao động kể cả cộng đồng
sống xung quanh doanh nghiệp… mà Nhà nước đã quy định.
Trong giai đoạn cuối năm 2005 đầu năm 2006 là thời điểm nóng bỏng nhất của
việc tranh chấp lao động trong cả nước. Chỉ tính từ ngày 28/12/2005 đến ngày
23/3/2006, cả nước xảy ra 201 vụ đình công, 87% là doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngồi.
Các vụ đình công do mâu thuẫn về quyền lợi giữa người lao động và người sử
dụng lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn xảy ra mang tính tự phát
kéo dài. Trong tranh chấp quan hệ lao động, nguyên nhân do việc giải quyết các chế
độ với người lao động. Đến nay tình hình đã ổn định, các doanh nghiệp đã đi vào
sản xuất kinh doanh bình thường. Qua các vụ tranh chấp quan hệ lao động, trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, ta rút ra kết luận sau:
Bất cập tiền lương, là nguyên nhân căn bản làm tăng đình công, tuy các cuộc
đình công đều không tuân thủ theo quy định của pháp luật lao động, nhưng đều xuất
phát từ việc trả lương quá thấp, điều kiện sống và làm việc của người lao động
không đảm bảo. Một trong nguyên nhân sâu xa chính là thu nhập của người lao
động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngồi chưa tương xứng với cường độ lao
thần của công nhân: đa số công nhân thường phải ở nhà trọ chật hẹp và và hầu như
không được sinh hoạt văn hóa tinh thần. Trong tình trạng chốn an cư không có, mọi
việc đều có tính chất tạm bợ, lại tăng ca liên tục, thu nhập thấp, tất yếu người lao
động dẫn đến đình lãn công. 19
Chương 2
TÌNH HÌNH QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG KHU
VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGỒI Ở
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bình Dương thuộc tỉnh miền Đông Nam bộ, có lợi thế về vị trí kinh tế, chính trị,
văn hóa và xã hội, lại vừa là một trong những tỉnh năng động nhất thuộc vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam. Chính vì vậy, cùng với cả nước, việc phát triển các khu
công nghiệp sẽ có tác động thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH của địa phương và
vùng. Những năm vừa qua, cùng với cả nước, Bình Dương phát triển nhiều khu
công nghiệp. Đầu tư nước ngồi vào các KCN tỉnh Bình Dương không ngừng nâng
lên cả về số lượng và chất lượng, góp một phần lớn trong việc duy trì nhịp độ tăng
trưởng kinh tế cao, giai đọan 1996 – 2000 bình quân 15,18%, giai đoạn 2001 – 2006
bình quân 14,56%. Tính đến nay, có 792 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi với
tổng số vốn đầu tư 4,851,591,000USD, tăng 59% so với năm 2005 (chiếm 71,9%
vốn đầu tư trong KCN), có 137.236 lao động đang làm việc tại khu vực này tăng
20,25% so với năm 2005 (theo Báo cáo năm 2006 của Ban Quản lý các Khu Công
nghiệp Bình Dương). Việc tăng nhanh vốn đầu tư và nguồn nhân lực vào các khu
vực có vốn đầu tư nước ngồi trong khu công nghiệp tỉnh Bình Dương, thời gian qua
đóng góp một phần lớn trong phát triển kinh tế của tỉnh trong việc tăng thu ngân
sách, giải quyết việc làm, nhất là làm cho đời sống của người lao động ngày càng
phát triển.
Có vị trí địa lý phía Nam gần thành phố Hồ Chí Minh – một trung tâm kinh tế,
KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGỒI Ở KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH
BÌNH DƯƠNG.
2.1.1 Về quan hệ lợi ích kinh tế
2.1.1.1 Lợi nhuận
Hiển nhiên, đầu tư mà không mang đến lợi nhuận thì tất yếu dòng vốn đầu tư
khu vực kinh tế có vốn nước ngồi trong các khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương
sẽ chuyển đi nơi khác. 21
Hiện nay, đa số doanh nghiệp nước ngồi trong khu vực này đều làm ăn có hiệu
quả, từ năm 2000 – 2006 theo bảng 2.1.
Bảng 2.1:
Lợi nhuận và doanh thucủa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi tại KCN
Bình Dương
Đơn vị tính: triệu đồng.
Năm
Lợi nhuận
Doanh thu
% GDP Tỉnh
Thuế TNDN
2001
646.328
11.680.000
19,90
161.582
2002
1.352.117
20.099.000
Khó khăn trên là do hầu như không có doanh nghiệp nào thực hiện quỹ dự
phòng, quỹ dự phòng này hỗ trợ cho người lao động mất việc, ngừng việc hoặc
doanh nghiệp phá sản. Theo quy định hàng năm các công ty được trích lập quỹ dự
phòng về trợ cấp mất việc làm từ 1 – 3% trên quỹ tiền lương làm cơ sở đóng bảo
hiểm xã hội của doanh nghiệp, mức trích cụ thể do DN tự quyết định tùy vào khả
năng tài chánh của DN và được chuyển số dư sang năm sau, không phải hồn nhập
số dư quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm. 22
2.1.1.2 Tiền công
Đa số doanh nghiệp đã xác định tiền lương là bộ phận quan trọng trong hoạt
động quản lý nguồn nhân lực. Xây dựng được chế độ tiền lương có tính cạnh tranh
là điều hết sức quan trọng đối với việc thu hút và giữ chân NLĐ gắn bó lâu dài với
DN cũng như lưu giữ nhân tài, tăng thêm sự đồng lòng của nhân viên đối với tổ
chức, từ đó tạo nên cơ sở vững chắc để DN có ưu thế cạnh tranh trên thị trường.
Một chế độ tiền lương hợp lý và có sức hấp dẫn sẽ kích thích tính tích cực của NLĐ
hoạt động có hiệu quả, thúc đẩy NLĐ cố gắng hồn thành mục tiêu phát triển của
DN.
Qua đó việc thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu theo nghị định 03/NĐ-CP
ngày 06/01/2006 từ 710.000/người/tháng đến 790.000 đồng/người/tháng tuỳ KCN
thành lập theo địa bàn của Tỉnh thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngồi, riêng mức
lương khởi điểm trả cho NLĐ đã qua đào tạo nghề và thời gian thử việc nêu trên
phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu quy định. Đa số các doanh
nghiệp thực hiện tốt, năm 2006 tiền lương và thu nhập của NLĐ được cải thiện, có
thu nhập bình quân 1,2 triệu đồng/người/tháng (có số ít có mức thu nhập 2 triệu
đồng/người/tháng); lao động quản lý; công nhân có trình độ chuyên môn, kỹ thuật
cao, tiền lương gấp 10-12 lần so với mức bình quân chung.
Gần đây nhất, ngày 16/11/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
nước ngồi phụ trách để phù hợp với công nghệ mới; cũng có DN tự tuyển dụng
công nhân không biết nghề và đào tạo nghề cho công nhân mới.
Khi thay đổi công nghệ, thay đổi chất lượng, số lượng sản phẩm. DN sử dụng
chuyên gia nước ngồi đào tạo tại chỗ cho NLĐ.
Chi phí đào tạo nâng cao trình độ văn hố – chuyên môn của công nhân, do
không được quy định cụ thể, tuỳ theo tầm nhìn và chiến lược của DN, có hai hướng
đào tạo: Một là đào tạo tại chỗ do chuyên gia nước ngồi phụ trách trên máy móc cụ
thể hoặc gởi đi học tại các tỉnh hoặc thành phố có điều kiện thích hợp. Hai là, gởi đi
đào tạo ở nước ngồi, xu hướng này được Tỉnh khuyến khích song có ít DN quan 24
tâm, chỉ có những DN lớn xây dựng chiến lược này, nhằm vào những đối tượng cán
bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý; theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã
hội Bình Dương, trong năm 2006 có 5 DN gởi 12 cán bộ đi học ở nước ngồi.
Nói chung, DN trong khu vực này chỉ chú trọng sản xuất kinh doanh với lực
lượng lao động đã qua đào tạo, họ bỏ ra chi phí đào tạo lại và thuê mướn chuyên gia
nước ngồi vừa phụ trách kỹ thuật và quản lý sản xuất.
2.12 Những quan hệ lao động khác
2.1.2.1 Hoạt động đồn thể
Gồm các hoạt động của Công đồn và Đồn thanh niên
Hoạt động công đồn
Hoạt động của công đồn đem lại những chuyển biến tích cực trong việc thực
hiện Bộ Luật Lao động. Đến nay, đã có 278 đơn vị đã thành lập công đồn, đạt tỷ lệ
56% so với tổng số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi trong KCN đã đi vào
hoạt động, với tổng số công đồn viên 47.088, đạt tỷ lệ 45% so với số lao động đang
làm việc tại các KCN. Các doanh nghiệp đã ký hợp đồng lao động và khai trình
91.036 lao động, đạt 87%, 37.806 lao động (36,13%) được cấp sổ lao động. Tình
hình số doanh nghiệp tham gia thực hiện đóng BHXH, BHYT ngày càng tăng với
trưởng thành, đóng vai trò tích cực trong việc bảo vệ lợi ích chính đáng cho NLĐ,
giáo dục nhận thức chính trị tư tưởng cho NLĐ, làm trung gian hồ giải khi có tranh
chấp lao động xảy ra giữa NSDLĐ và NLĐ, thể hiện qua các mặt cụ thể sau:
2.1.2.2 An tồn vệ sinh lao động
An tồn, vệ sinh lao động nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Các DN có vốn ĐTNN trong KCN với hệ thống công nghệ, dây chuyền máy móc
tiên tiến và cường độ làm việc cao đòi hỏi DN càng phải nhận thức đúng đắn về tầm
quan trọng của những quy định về an tồn, vệ sinh lao động sau đó nâng cao năng
suất và hiệu quả lao động của NLĐ.
Hàng năm, Ban ATVSLĐ-PCCN của Tỉnh đều tổ chức các lớp bồi dưỡng về
ATVSLĐ cho công nhân, phát động phong trào An tồn vệ sinh lao động trong tất cả
các doanh nghiệp đang đầu tư sản xuất kinh doanh trong Tỉnh, tổ chức hội thi An
tồn vệ sinh viên giỏi cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngồi trong KCN. Ngày càng