Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
LỜI NÓI ĐẦU
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung
của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay
giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là
sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường
theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi
nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát
của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Phạm vi ảnh hưởng của hai
thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô.
Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số
dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả".
Bài Tiểu luận với đề tài: “ Qua cơ sở lý luận về lạm phát anh (chị) hãy
phân tích tình hình lạm phát và biện pháp giải quyết lạm phát ở Việt Nam” Xuất
phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc biệt thấy được tầm
quan trọng của lạm phát. Vì vậy, với lực lượng kiến thức còn hạn chế, em thiết nghĩ
nghiên cứu đề tài này cũng là một phương pháp để hiểu nó một cách thấu đáo hơn,
sâu sắc hơn.
GVHD: Lê Thùy Linh Lớp: DHKT7BTH
SVTT: Hồ Thị Mỹ Linh Trang 1
PHOTO QUANG TUẤN
ĐT: 0972.246.583 & 0166.922.4176
Gmail: ; Fabook: vttuan85
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
NỘI DUNG
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT
I. Định nghĩa lạm phát
- Quan niệm cổ điển cho rằng “Lạm phát là phát hành tiền vượt quá số lượng
tiền cần thiết trong lưu thông”. Tuy nhiên định nghĩa này không giải thích được
2 hoặc 3 con số một năm.
3) Siêu lạm phát : xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa
lạm phát phi mã, siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% .
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Lịch sử của lạm phát ở Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng GDP thống kê qua các năm và ước tính cho 2010. Chi tiêu của
Nhà nước (so với GDP) đã tăng từ 5% năm 2000 lên trên 8% từ sau năm 2005. Tỉ
lệ vốn đầu tư/GDP cũng tăng lên đến 34% năm 2000 và đến 40% từ năm 2004 đến
nay (2007). Từ đây các nhân tố lạm phát được nuôi dưỡng. Đến hôm nay lạm phát
quay trở lại. Năm 2004 đã xuất hiện những dấu hiệu của cuộc lạm phát mới và
được xác nhận lại vào năm 2005 nhưng đã không có những giải pháp thoả đáng.
Thậm chí đến giữa năm 2007 dấu hiệu trở nên rõ ràng hơn thì một lãnh đạo Ngân
hàng Nhà nước vẫn tuyên bố mạnh mẽ “lạm phát không thể đến mức hai con số”.
Thực tế cho thấy thì lạm phát năm 2007 khoảng 12%, năm 2008 thi lên đến 22%
một con số đáng báo động cho một nền kinh tế non trẻ như việt nam.Cùng với
GVHD: Lê Thùy Linh Lớp: DHKT7BTH
SVTT: Hồ Thị Mỹ Linh Trang 3
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
những biện pháp kiềm chế lạm phát bước sang năm 2009 lạm đã giảm chỉ con 6%.
Dự báo mới nhất cho thấy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2010 ở
mức 6%. Lạm phát có thể tăng từ 7% trong năm 2009 lên mức hai con số do tăng
trưởng tín dụng mạnh trong thời gian gần đây. Giá hàng hóa thế giới cao trở lại
cũng sẽ tác động đến giá cả trong nước. Bên cạnh nguy cơ lạm phát lên 2 con số.
Đây là một bài toán đau đầu cho các nhà kinh tế làm sao để đạt được các mục tiêu
kinh tế đề ra.
II. Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam khi xảy ra lạm phát
Cuộc chiến chống lạm phát của nền kinh tế Việt Nam giúp phát hiện hai vấn
đề: Một về cơ cấu và một về điều hành kinh tế vĩ mô. Về cơ cấu, nền kinh tế của
cần nguồn vốn lớn như xây dựng cơ sở hạ tầng. Một ngân sách cân bằng sẽ có tác
dụng tích cực hai mặt: giảm thiểu tốc độ lạm phát và tăng cường hiệu quả của việc
sung dụng tài nguyên.
Về chính sách tiền tệ, chúng ta đang lúng túng giải quyết bài toán lãi suất và
tỷ giá. Sự lúng túng này đang gây khó khăn cho hệ thống ngân hàng và các doanh
nghiệp. Điều đáng quan tâm hơn là nó làm xói mòn niềm tin và tâm lý lạc quan đã
có trước đây của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một năm trước đây, kỳ vọng
lạc quan đã là động lực thúc đẩy đầu tư và sự tăng trưởng của các thị trường: thị
trường lao động, thị trường hàng hóa, thị trường bất động sản, thị trường chứng
khoán. Tâm lý lạc quan thái quá có thể tạo ra sự tăng trưởng bong bóng của một số
thị trường nhưng một thái độ lạc quan vẫn luôn luôn cần thiết để duy trì không
những sự tăng trưởng kinh tế mà cả sự ổn định.
GVHD: Lê Thùy Linh Lớp: DHKT7BTH
SVTT: Hồ Thị Mỹ Linh Trang 5
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
III. Nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam
Trong các nguyên nhân dẫn đến lạm phát do yếu tố tiền tệ, theo tổng kết của
IMF thường xuất phát từ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ (CSTT): Sự thâm
hụt ngân sách kéo dài được bù đắp bằng việc in tiền, và/hoặc sự chi tiêu quá mức
và thất thoát lớn trong xây dựng cơ bản của chính phủ sẽ là nguyên nhân gây ra lạm
phát, hoặc CSTT quá nới lỏng, dẫn tới tăng cung tiền, tăng đầu tư tín dụng quá mức
v.v. cũng là nguyên nhân gây lạm phát. Do vậy, để kiểm soát lạm phát ở mức mục
tiêu luôn đòi hỏi sự phối hợp rất chặt chẽ trong điều hành CSTT và chính sách tài
khóa. Xét trong giác độ điều hành CSTT để kiểm soát lạm phát (lạm phát được coi
là mục tiêu cuối cùng của CSTT), tùy điều kiện kinh tế, mức độ phát triển của thị
trường tiền tệ, khả năng điều tiết tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (NHTW) mà
NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau để kiểm soát lạm phát. Thực tế
hiện nay cho thấy, đối với những nước phát triển, là những nước có thị trường tiền
tệ, thị trường vốn phát triển, đặc biệt là những nước theo đuổi khuôn khổ CSTT
và dịch vụ trên thị trường trong nước dồi dào, đa dạng và phong phú. Do đó hầu
như không có tình trạng khan hiếm hàng hóa trên thị trường dẫn tới tăng giá một
hay một số mặt hàng nào đó. Song trong năm 2004, do ảnh hưởng của dịch cúm gia
cầm xẩy ra trên diện rộng và kéo dài, đã làm giảm mạnh nguồn cung sản phẩm gia
cầm, trong khi nhu cầu thực phẩm tiếp tục tăng lên, làm cho giá cả mặt hàng gia
cầm nói riêng tăng đột biến.
5. Do chi phí đẩy
Nhân tố này chủ yếu là do giá cả các mặt hàng mà Việt Nam nhập khẩu trên
thị trường thế giới tăng lên, tập trung là giá xăng dầu, phôi thép, nguyên liệu nhựa,
phân đạm Urê, bột giấy, thuốc chữa bệnh, vật phẩm y tế , làm cho giá bán lẻ trong
nước cũng tăng lên. Chỉ riêng mặt hàng xăng dầu trong năm 2004 đã được điều
chỉnh tăng 4 lần.
GVHD: Lê Thùy Linh Lớp: DHKT7BTH
SVTT: Hồ Thị Mỹ Linh Trang 7
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
6. Do tâm lý dân chúng
Khi thị trường bất động sản ở Việt Nam đang rối loạn, giá cả một số mặt hàng
đang leo thang hàng ngày, gây tâm lý bất ổn trong dân chúng thì tiếp đó (đầu năm
2004).
CHƯƠNG III : LIÊN HỆ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH
SÁCH VÀ GIẢI PHÁP
Chính phủ nhất trí điều chỉnh mục tiêu chống lạm phát và mức tăng trưởng
trong năm 2008 thích hợp trong tình hình mới và nêu 5 giải pháp cần tập trung chỉ
đạo và điều hành nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh
xã hội và duy trì tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế.
I. Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng
Chính phủ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng theo nguyên
tắc thị trường một cách chặt chẽ, chủ động và linh hoạt, bảo đảm mục tiêu chống
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm huy động các nguồn vốn phục vụ phát
triển kinh tế.
lực giảm chi tiêu công của Chính phủ chỉ thực sự có hiệu lực nếu như Chính phủ
đồng thời có cơ chế để đảm bảo những khoản đầu tư còn lại có hiệu quả.
Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm chi tiêu, Chính
phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng ngân sách phụ
thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn thu không bền vững từ dầu mỏ và
thuế nhập khẩu như hiện nay. Cải cách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân (hiện
chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khi con số này ở các nền kinh tế hiện
đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động sản.
III. Cân đối cung cầu trong nền kinh tế
Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành phải chịu trách nhiệm đảm bảo cân đối
cung cầu các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất như xăng, dầu, gạo,
GVHD: Lê Thùy Linh Lớp: DHKT7BTH
SVTT: Hồ Thị Mỹ Linh Trang 9
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
thuốc, xi măng, sắt, thép, phân bón gắn liền với kiểm soát chặt chẽ giá cả. Khẳng
định không tăng giá bán than cho ngành điện, không tăng giá điện và giá xăng dầu.
Nhà nước tiếp tục bù lỗ cho các mặt hàng này nhằm ổn định giá.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất kinh doanh để duy
trì tăng trưởng. Phấn đấu với tinh thần cao nhất để giải quyết vốn cho các doanh
nghiệp, nhất là vốn lưu động. Thủ tướng cũng chỉ đạo các Bộ ngành tích cực, chủ
động hơn nữa trong việc tháo gỡ khó khăn. Đặc biệt, các Bộ trưởng phải chịu trách
nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của các tập đoàn, Tổng công ty thuộc bộ mình
quản lí.
IV. Ổn định giá cả thị trường
Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, chính quyền các địa phương, hiệp hội các
ngành hàng tăng cường các biện pháp quản lý thị trường giá cả, tổ chức tốt thương
mại trong nước, kêu gọi các doanh nghiệp có trách nhiệm với đất nước không đầu
cơ trục lợi và tăng giá các mặt hàng. Chính phủ đã xác định nguyên tắc ưu tiên là từ
nay đến cuối năm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo đà cho những năm
tiếp theo, đảm bảo an sinh xã hội. Và trong việc ổn định giá các mặt hàng thiết yếu,
nhập siêu trong năm 2008 tương đương năm ngoái, tiến tới cân bằng cán cân
thương mại
Trong đó, 11 tỷ USD là con số nhập siêu trong bốn tháng đầu năm, chiếm
60% tổng kim ngạch xuất khẩu. Do đó, Thủ tướng yêu cầu phải đẩy mạnh xuất
khẩu, tránh mất cân bằng cán cân thanh toán. Ngoài ra, Thủ tướng cũng chỉ đạo Bộ
Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung quản lý chặt việc
kiểm soát giá các mặt hàng xăng, dầu, lương thực, thực phẩm. “Bộ Công thương
kiểm soát chặt chẽ tình hình giá cả tại các địa phương, Bộ Công an phối hợp với
các cơ quan xử lý nghiêm các trường hợp đầu cơ, nâng giá trục lợi.
GVHD: Lê Thùy Linh Lớp: DHKT7BTH
SVTT: Hồ Thị Mỹ Linh Trang 11
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
VI. Chính sách tỷ giá hối đoái và biện pháp thu hút USD trong việc giảm
lạm phát
Các công cụ lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở đã không thành công và gây
nên nhiều biến động khó lường. Lạm phát cần phải có một phương thuốc mới để
điều trị phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay. Cần nhớ rằng, khi tỷ giá giảm thì
cái lợi đầu tiên là chúng ta sẽ nhập khẩu nguyên, nhiên liệu với giá rẻ hơn, dẫn đến
chi phí sản xuất trong nước giảm làm cho giá cả hàng hóa trong nước giảm. Cái lợi
thứ hai là xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng cũng sẽ làm tăng tổng cung cho nền kinh
tế trong nước. Tác động gộp của các yếu tố này có thể làm giảm lạm phát . Em cho
rằng các biện pháp trên là thích hợp, lợi ích chúng ta nhận được là giảm lạm phát
và chi phí sản xuất, giảm lượng USD quá nhiều mà nền kinh tế chưa thể hấp thụ
hết, ổn định tâm lý của người dân và bảo đảm tính thanh khoản của ngân hàng
trong khi chỉ phải trả một khoản thiệt hại cho thâm hụt cán cân thương mại hay
giảm tốc độ tăng trưởng. Như vậy, nền kinh tế vẫn còn lời?
GVHD: Lê Thùy Linh Lớp: DHKT7BTH
SVTT: Hồ Thị Mỹ Linh Trang 12
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
VÀ GIẢI PHÁP 08
I. Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng 08
II. Giảm thâm hụt ngân sách nhà nước 09
III. Cân đối cung cầu trong nền kinh tế 09
IV. Ổn định giá cả thị trường 10
V. Đẩy mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu 11
VI. Chính sách tỷ giá hối đoái và biện pháp thu hút USD
trong việc giảm lạm phát 12
KẾT LUẬN 13
GVHD: Lê Thùy Linh Lớp: DHKT7BTH
SVTT: Hồ Thị Mỹ Linh Trang 14
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Giáo trình Tài Chính- Tiền Tệ
2.Tiền Tệ Ngân Hàng và thị trường Tài Chính – Mishkin.
3.Bài giảng Tài Chính -Tiền Tệ
4.Các trang web:
http:// tapchicongsan.org.vn/
/>GVHD: Lê Thùy Linh Lớp: DHKT7BTH
SVTT: Hồ Thị Mỹ Linh Trang 15