Đánh giá các loại kiểm tra GVHD:
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong quá trình học tập, việc tự nghiên cứu học hỏi, tìm tòi trên cơ sở những
kiến thức đã được thầy cô dạy nhằm phát huy tính tự chủ, sáng tạo, làm tiền đề
cho sau này làm đề tài nghiên cứu, đồ án tốt nghiệp.
Tuy nhiên để có hiệu quả cao, em tự nhận biết phải đề tài thuộc nội dung mà
trong quá trình học tập chưa được hiểu, vì thế em chọ đề tài “Đánh giá các loại
kiểm tra”. Làm đề tài tìm hiểu
2.Mục đích nghiện cứu
Kiểm tra là chức năng của mọi nhà quản trị, từ nhà quản trị cao cấp đến các
nhà quản trị cấp cơ sở trong một đơn vị. Mặc dù qui mô của đối tượng kiểm tra
và tầm quan trọng của sự kiểm tra thay đổi tùy theo cấp bậc của các nhà quản trị,
tất cả mọi nhà quản trị đều có trách nhiệm thực hiện các mục tiêu đã đề ra, do đó
chức năng kiểm tra là một chức năng cơ bản đối với mọi cấp quản trị.
Sau khi các mục tiêu được xác lập, các kế hoạch được hoạch định, cơ cấu tổ
chức được xác định và nhân viên được tuyển dụng, đào tạo và khuyến khích làm
việc thì sai sót vẫn có thể xảy ra. Để đảm bảo cho mọi việc đi đúng hướng, nhà
quản trị phải giám sát và đánh giá kết quả công việc. Kết quả thực tế phải được
so sánh với những mục tiêu đã xác lập trước đó để nhà quản trị có thể đưa ra
những hoạt động cần thiết, đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức đi
đúng quỹ đạo. Quá trình giám sát, so sánh, và hiệu chỉnh là nội dung của chức
năng kiểm soát.
Như vậy với đề tài đã chọn, mục đích nghiên cứu là:
- Tìm hiểu chung về kiểm tra.
- Tìm hiểu về tiến trình kiểm tra.
- Đánh giá các loại kiểm tra.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp: CDQT13TH
SVTH: Nhóm 11
PHOTO QUANG TUẤN
ĐT: 0972.246.583 & 0166.922.4176
SVTH: Nhóm 11
Đánh giá các loại kiểm tra GVHD:
- Xác định và dự đóan những chiều hướng chính và những thay đổi cần thiết
trong các vấn đề như: thị trường, sản phẩm, tài nguyên, tiện nghi, cơ sở vật
chất…
- Phát hiện kịp thời những vấn đề và những đơn vị bộ phận chịu trách nhiệm
để sửa sai.
- Làm đơn giản hóa các vấn đề ủy quyền, chỉ huy, quyền hành và trách nhiệm.
- Phác thảo các tiêu chuẩn tường trình báo cáo để lọai bớt những gì ít quan
trọng hay không cần thiết.
- Phổ biến những chỉ dẫn cần thiết một cách liên tục để cải tiến sự hòan tất
công tác tiết kiệm thời gian, công sức của mọi người để gia tăng năng suất và
đem lại lợi nhuận cao.
1.3. Tác dụng của công tác kiểm tra
Sự theo dõi thường xuyên công việc và sử dụng các biện pháp kiểm tra sẽ làm
nhẹ bớt gánh nặng của cấp chỉ huy phải thường xuyên theo dõi và giải thích báo
cáo và các số liệu hàng ngày.
Kiểm tra là khâu sau cùng trong khâu họach định, cơ cấu tổ chức thực hiện và
điều khiển nhân viên và động viên họ. một nhà quản trị hữu hiệu cần phài theo
dõi để biết chắc những công việc mà nhân viên phải làm, những mục tiêu mà họ
cần phải đạt , thực sự họ được làm và đã đạt.
Song công tác kiểm tra không phải là viên thuốc thần chữa được bách bệnh,
giải quyết được mọi vấn đế. Tự nó không giải quyết được gì cả mà chỉ phát huy
tác dụng nếu nó được nhà quản trị sử dụng một cách khéo léo, nghĩa là phải có
năng lực giải thích các số liệu thống kê và các bảng biểu mà hình thức nội dung
đã được phác họa một cách cẩn thận.
1.4. Các nguyên tắc xây dựng cơ chế kiểm tra
- Kiểm tra phải được thiết kế căn cứ trên kế hoạch hoạt động của tổ chức và
căn cứ theo cấp bậc của đối tượng được kiểm tra Cơ sở để tiến hành kiểm tra
thường là dựa vào kế hoạch. Do vậy, nó phải được thiết kế theo kế hoạch hoạt
- Kiểm tra phải khách quan: Quá trình quản trị dĩ nhiên là bao gồm nhiều yếu
tố chủ quan của nhà quản trị, nhưng việc xem xét các bộ phận cấp dưới có đang
làm tốt công việc hay không, thì không phải là sự phán đoán chủ quan.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp: CDQT13TH
SVTH: Nhóm 11
Đánh giá các loại kiểm tra GVHD:
Nếu như thực hiện kiểm tra với những định kiến có sẵn sẽ không cho chúng
ta được những nhận xét và đánh giá đúng mức về đối tượng được kiểm tra, kết
quả kiểm tra sẽ bị sai lệch và sẽ làm cho tổ chức gặp phải những tổn thất lớn.
Vì vậy, kiểm tra cần phải được thực hiện với thái độ khách quan trong quá
trình thực hiện nó. Đây là một yêu cầu rất cần thiết để đảm bảo kết quả và các
kết luận kiểm tra được chính xác.
- Hệ thống kiểm tra phải phù hợp với bầu không khí của doanh nghiệp: Để
cho việc kiểm tra có hiệu quả cao cần xây dựng một qui trình và các nguyên tắc
kiểm tra phù hợp với nét văn hóa của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp phong
cách lãnh đạo dân chủ, nhân viên được độc lập trong công việc, được phát huy
sự sáng tạo của mình thì việc kiểm tra không nên thiết lập một cách trực tiếp và
quá chặt chẽ. Ngược lại, nếu các nhân viên cấp dưới quen làm việc với các nhà
quản trị có phong cách độc đoán, thường xuyên chỉ đạo chặt chẽ, chi tiết và
nhân viên cấp dưới có tính ỷ lại, không có khả năng linh hoạt thì không thể áp
dụng cách kiểm tra, trong đó nhấn mạnh đến sự tự giác hay tự điều chỉnh của
mỗi người.
- Việc kiểm tra cần phải tiết kiệm và bảo đảm tính hiệu quả kinh tế: Mặc dù
nguyên tắc này là đơn giản nhưng thường khó trong thực hành. Thông thường
các nhà quản trị tốn kém rất nhiều cho công tác kiểm tra, nhưng kết quả thu
hoạch được do việc kiểm tra lại không tương xứng.
- Việc kiểm tra phải đưa đến hành động: Việc kiểm tra chỉ được coi là đúng
đắn nếu những sai lệch so với kế hoạch được tiến hành điều chỉnh, thông qua
việc làm lại kế hoạch, sắp xếp lại tổ chức; điều động và đào tạo lại nhân viên,
hoặc thay đổi phong cách lãnh đạo. Nếu tiến hành kiểm tra, nhận ra cái sai lệch
tiện để xác định một cách chính xác rằng cấp dưới đang làm gì, các nhà quản trị
có thể đánh giá thành quả thực tế của những nhân viên dưới quyền của họ. Tuy
nhiên, sự đánh giá đó không phải bao giờ cũng thực hiện được. Có nhiều hoạt
động khó có thể nêu ra các tiêu chuẩn chính xác, và có nhiều hoạt động khó cho
sự đo lường. Ví dụ, nếu người ta có thể đo lường số sản phẩm của một phân
xưởng sản xuất một cách tương đối dễ dàng, thì ngược lại rất khó để kiểm tra
công việc của Phòng Giao tế công cộng trong xí nghiệp. Gặp trường hợp này,
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp: CDQT13TH
SVTH: Nhóm 11
Đánh giá các loại kiểm tra GVHD:
các nhà quản trị thường dùng những tiêu chuẩn gián tiếp, ví dụ thái độ của báo
chí và công chúng đối với xí nghiệp, hay uy tín của xí nghiệp trong xã hội.
2.1.3. Điều chỉnh các sai lệch
Nếu những tiêu chuẩn đặt ra phản ánh được cơ cấu tổ chức và hoạt động của
doanh nghiệp thì hiệu quả công việc cũng được kiểm định trên cơ sở những tiêu
chuẩn đó. Khi khám phá ra sự sai lệch, người quản trị cần phải tập trung phân
tích sự kiện tìm nguyên nhân sai lệch. Nếu đã biết rõ nguyên nhân thì ông ta
không khó khăn gì thực hiện các biện pháp thích hợp để điều chỉnh.
Sự khắc phục những sai lầm trong công việc có thể là điều chỉnh sai lệch
bằng cách tổ chức lại bộ máy trong xí nghiệp, phân công lại các bộ phận, đào tạo
lại nhân viên, tuyển thêm lao động mới, thay đổi tác phong lãnh đạo của chính
họ, hoặc thậm chí có thể phải điều chỉnh mục tiêu.
Ở các trung tâm thương mại, các siêu thị, nhờ hoạt động kiểm tra thường
xuyên người ta có thể biết ngay số tồn kho, số lượng bán được, doanh số, lợi
nhuận, các sai lệch ngay khi chúng mới xuất hiện.
Ở các xí nghiệp sản xuất thường có hệ thống kiểm tra hữu hiệu để có thể báo
cáo bất kỳ thời điểm nào về mức sản xuất đã đạt, số giờ lao động đã được thực
hiện nhờ đó người ta biết được kế hoạch đúng hạn hay bị chậm trễ trong quá
trình sản xuất để có những điều chỉnh kịp thời, nếu cần thiết.
2.2. Đánh giá các hình thức kiểm tra
- Kiểm tra lường trước trong kỹ thuật công trình. Thí dụ kiểm tra nhiệt độ
trước khi luồng nước chảy ra vòi.
- Kiểm tra lường trước trong các hệ thống phản ứng của con người.Thí dụ
người thợ săn sẽ luôn luôn ngắm đoán trước đường bay của chú vịt trời để điều
chỉnh thời gian giữa lúc bắn và lúc viên đạn trúng đích. Hoặc một người đi xe
máy, muốn giữ tốc độ không đổi thì thường không đợi cho đồng hồ báo tốc độ
giảm mới gia tăng tốc độ khi đang lên dốc. Thay vào đó, khi biết rằng đồi dốc
chính là một đại lượng gây nên sự giảm tốc độ, người lái xe đã điều chỉnh tốc độ
bằng cách tăng ga để tăng tốc trước khi tốc độ giảm xuống.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp: CDQT13TH
SVTH: Nhóm 11
Đánh giá các loại kiểm tra GVHD:
2.2.2. Kiểm tra đồng thời
Kiểm tra đồng thời là loại kiểm tra được tiến hành trong khi hoạt động đang
diễn ra. Loại hình kiểm tra này còn có những danh xưng khác: Kiểm tra
đạt/không đạt (Yes/no control). Hình thức kiểm tra đồng thời thông dụng nhất
là giám sát trực tiếp (direct supervision). Khi một quản trị viên xem xét trực tiếp
các hoạt động của thuộc viên, thì ông ta có thể đánh giá (hoặc thẩm định) việc
làm của thuộc viên, đồng thời điều chỉnh ngay các sai sót (nếu có) của thuộc
viên đó. Nếu có trì hoãn của diễn tiến hoạt động do tác động điều chỉnh
(corrective action), thì mức độ trì hoãn hoặc chậm trễ thường chiếm thời gian ít
nhất.
Các thiết bị kỹ thuật thường được thiết kế theo phương thức kiểm tra đồng
thời. Thí dụ: Hầu hết các máy vi tính đều có thể báo cho ta biết ngay khi một
phép tính hay một thuật toán vượt ngoài khả năng thực hiện hoặc cho ta biết
nhập liệu là sai. Máy tính sẽ từ chối thực hiện lệnh của ta và báo cho ta biết tại
sao lệnh đó sai.
2.2.3. Kiểm tra phản hồi
Kiểm tra phản hồi là loại kiểm tra được thực hiện sau khi hoạt động đã xảy
ra. Nhược điểm chính của loại kiểm tra này là độ trễ về thời gian thường khá lớn
thời gian, khỏang trống và sự sử dụng những vật liệu – nguồn lực. Ngân sách
được thông dụng như thế là vì nó có thể áp dụng cho đủ lọai tổ chức khác nhau
và những đơn vị của những tổ chức ấy. Hơn nữa hầu hết các thứ đều có thể qui
thành tiền.
Không có lĩnh vực nào mà không thể áp dụng ngân sách. Những lọai thường
gặp nhất là:
* Ngân sách lợi nhuận: Được quản lý dùng như một cách kiểm soát nhưng
thường thấy trong những tổ chức lớn. Nó kết hợp ngân sách doanh thu với ngân
sách chi phí làm một.
* Ngân sách tiền mặt: Dự trù số lượng tiền mặt mà tổ chức phải có trong tay
và số lượng cần cho những chi phí. Nó có thể phát hiện những thiếu hụt tiềm
tàng và tiền mặt dư sẵn có thể đầu tư ngắn hạn.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp: CDQT13TH
SVTH: Nhóm 11
Đánh giá các loại kiểm tra GVHD:
* Ngân sách chi tiêu vốn: Liên quan đến những chi tiêu về tài sản, nhà cửa và
thiết bị. Nó giúp quản lý tiên liệu được nhu cầu vốn tương lai.
Tất cả những ngân sách ở trên đều gọi là cố định, vì chúng được giả thiết cố
định khối lượng sản xuất và tiêu thụ. Nhưng phần lớn những tổ chức không biết
khối lượng đó, và những chi phí thay dổi theo khối lượng đó. Những ngân sách
này thay đổi có thể đáp ứng với những thay đổi trong kế họach.
3.1.2. Phân tích tài chính:
* Bảng cân đối (quyết toán) được coi như là một tấm hình về tình hình tài
chính của một tổ chức hay đơn vị trong một thời điểm nào đó. Nó cho biết tình
trạng tài chính của một tổ chức hay đơn vị trong một thời điểm. Nó giúp cho nhà
quản lý:
- Một phương tiện để kiểm soát khả năng của một đơn vị đáp ứng với những
nghĩa vụ bình thường, bằng cách đổi những tài sản thành tiền mặt.
- Một hình ảnh về điều kiện tài chính tổng quát của tổ chức.
* Bảng kết toán thu nhập: Bảng này phân tích họat động tài chính của tổ chức
Lọai thứ hai cấu tạo bằng cách nhân ( thu nhập/ đầu tư ) với ( lợi nhuận/ thu
nhập). Tỷ số này là một trong những cách thông dụng nhất để đo khả năng lợi
nhuận của một xí nghiệp.
3.1.3. Phân tích trường hợp hòa vốn
Đó là trường hợp không có lời hay lỗ với một số sản phẩm nhất định. Trên số
đó là lời, dưới là lỗ.Đây là một lối công thức hóa đơn giản, nhưng có giá trị cho
những nhà quản trị, chỉ ra sự tương quan giữa thu nhập, chi phí và lợi nhuận.
Muốn tính ra điểm hòa vốn, nhà quản trị phải biết giá đơn vị của sản phẩm đem
bán, chi phí biến đổi của mỗi đơn vị và tổng chi phí bất biến. Những chi phí biến
đổi như giá nguyên vật liệu, nhân công, năng lượng …Sau đó, sử dụng các tài
khoản dưới dạng tỷ lệ phần trăm của doanh thu, theo mối liên hệ thống kê, hoặc
tỷ lệ, các báo cáo sẽ được lập kế họach xung quanh mức doanh thu tại điểm hòa
vốn.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp: CDQT13TH
SVTH: Nhóm 11
Đánh giá các loại kiểm tra GVHD:
3.1.4. Kiểm toán:
Kiểm toán là một sự kiểm điểm chính thức những tài khỏan, hồ sơ, họat động
hay thực hiện của một đơn vị, chủ yếu là để kiểm tra những cơ chế kiểm soát
của một tổ chức.
Có hai loại kiểm toán:
* Kiểm toán từ bên ngoài: do một bộ phận kế toán độc lập ở ngoài tổ chức
thực hiện. Lối kiểm tra này là để bảo vệ những cổ đông. Đối với quản lý thì nó
chỉ có một tác dụng gián tiếp là làm những nhân viên kế toán của tổ chức phải
nghiêm túc trong công tác kế toán của mình.
* Kiểm toán từ bên trong: thực hiện bởi những nhân viên kế tóan của tổ chức,
bao gồm những công việc như kể trên. Ngoài ra còn có sự đánh giá những họat
động và chính sách của tổ chức cùng với những đề nghị cải thiện.
3.2. Kiểm tra hành vi:
Những công việc quản trị thực hiện được bằng sự đóng góp của những nhân
vấn đề gì không, để có thể biện minh cho hành vi của mình và xem nhân viên đó
có ý định sửa đổi hay không. Khi hai bên đã thỏa thuận nhưng rồi vấn đề không
được giải quyết thì nhà quản trị phải dùng biện pháp nặng hơn.
* Cảnh cáo viết: đây là bước chính thức đầu tiên. Bước này chỉ khác ở chỗ, nó
kết thúc bằng một văn bản viết sẽ được xếp vào hồ sơ cá nhân đương sự.
* Ngưng việc: bước này chỉ áp dụng khi hai bước đầu không có kết quả hay vi
phạm mới mức độ nặng hơn hai mức của hai bước trên. Bước này có thể kéo dài
từ một ngày đến mấy tuần. Nhiều tổ chức không thực hiện bước này vì nó có tác
hại cho cả nhân viên lẫn doanh nghiệp. Tuy nhiên người ta vẫn sử dụng vì cho
rằng một kỳ nghỉ không lương ngắn ngày có thể thuyết phục được nhân viên
nhận ra lỗivà sửa chữa.
* Sa thải: bước cuối cùng này chỉ áp dụng cho những vi phạm quá nặng có thể
làm xáo trộn họat động của tổ chức hay bộ phận. Quyết định sa thải phải được
suy nghĩ rất kỹ, nhất là đối với những người đã làm việc lâu năm với doanh
nghiệp, hay đã quá 50 tuổi không dễ dàng tìm việc mới. Hơn nữa còn có trường
hợp họ kiện lại tổ chức, vì có nhiều trường hợp họ không thể bị sa thải. Người ta
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp: CDQT13TH
SVTH: Nhóm 11
Đánh giá các loại kiểm tra GVHD:
cho rằng để hạn chế những sự vi phạm thì tưởng thưởng là một cách giải quyết
tích cực. Hiển nhiên là sự tưởng thưởng tăng cường hành vi tốt, nhà quản trị
phải chú trọng tới dùng tưởng thưởng. Tiền thưởng là dấu hiệu khen thưởng rõ
rệt nhất, nhưng nên nhớ là còn nhiều cách thưởng khác như khen ngợi, giao phó
công việc tốt, thăng cấp và những giải thưởng đặc biệt.
3.2.2. Những hình thức thay thế cho kiểm tra trực tiếp:
Những nhà quản trị có thể dùng những phương pháp gián tiếp để kiểm tra
những hành vi của nhân viên, như tiến trình chọn lọc hiệu quả, sự chấp nhận nếp
văn hóa của tổ chức, tiêu chuẩn văn hóa, và huấn luyện nhân viên. Mỗi phương
thức kiểm soát này có thể giảm bớt những sai lệch của nhân viên so với tiêu
chuẩn. Những cơ chế kiểm tra gián tiếp trên là tinh tế, cụ thể và hiệu quả có thể
trạng hay vắng mặt hay thôi việc của nhân viên, và có thể chỉ ra nhu cầu thực thi
những thái độ cải thiện sự hài lòng của nhân viên với công việc.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp: CDQT13TH
SVTH: Nhóm 11
Đánh giá các loại kiểm tra GVHD:
KẾT LUẬN
Với sự đa đạng của hình thức kinh doanh, với mức độ tăng truởng ngày càng
cao của nguồn vốn kinh doanh tại mỗi doanh nghiệp, đặc biệt với quá trình đẩy
nhanh việc vốn hoá thị trường vốn của môi trường kinh doanh tại Việt Nam,
hiện nay, nhà đầu tư vốn đã và đang dần tách rời khỏi vai trò quản lý doanh
nghiệp.
Chính vì vậy một hệ thống kiểm tra trong doanh nghiệp vững mạnh đang
là một nhu cầu bức thiết, một công cụ tối ưu để xác định sự an toàn của nguồn
vốn đầu tư, xác định hiệu quả điều hành của Ban điều hành doanh nghiệp cũng
như kịp thời nắm bắt hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Các chức năng, nhiệm vụ, vai trò, tầm quan trọng, cách thức xây dựng
một hệ thống Kiểm soát nội bộ hữu hiệu đã được nhắc đến trong bài tiểu luận
này. Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, em muốn đưa ra và thảo luận về khái
niệm, đặc điểm, vai trò và quy trinh tổ chức kiểm tra phù hợp với hình thức
doanh nghiệp Việt Nam.
Để xây dựng một hệ thống kiểm tra phù hợp nhất cho mỗi doanh nghiệp,
trước hết, cần xác định rõ những đặc điểm trọng yếu của lĩnh vực kinh doanh,
hình thức quản trị, cơ cầu hệ thống các phòng ban điều hành, mối quan hệ tác
nghiệp của mỗi phòng ban trong từng doanh nghiệp cụ thể.
Kế đến, ta phải đề ra được một chính sách kiểm tra rõ ràng, minh bạch để tất
cả Ban điều hành đều thấu hiểu được tầm quan trọng cũng như hiệu quả hỗ trợ
cho công tác điều hành từ các công cụ tích cực của hệ thống kiểm tra.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp: CDQT13TH
SVTH: Nhóm 11
Đánh giá các loại kiểm tra GVHD:
KẾT LUẬN 18
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp: CDQT13TH
SVTH: Nhóm 11