đề luật hôn nhân gia đình có đáp án - Pdf 22

BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH HỆ THỐNG CÂU HỎI - BÀI TẬP ÁP DỤNG VÀ BÀI TẬP
KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Môn học: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
A. HỆ THỐNG CÂU HỎI – BÀI TẬP ÁP DỤNG
I. CÂU HỎI Trả lời/ phân tích/ làm sáng tỏ các câu hỏi sau
1. Phân tích khái niệm gia đình. Mô hình gia đình nào được Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 khuyến khích phát triển? Quan điểm cá nhân
về việc bảo vệ các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam khi có
nhiều thế hệ cùng sống chung?
2. Phân tích và nhận xét hiệu quả tác động của phương pháp điều chỉnh
của Luật Hôn nhân và gia đình đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
giữa các chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình qua một số ví
dụ.
3. Luật Hôn nhân và gia đình với các nguyên tắc bảo vệ quyền con
người?
4. Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình với việc
bảo vệ quyền con người tại cơ quan hành chính?
5. Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân các cấp với việc bảo vệ quyền con
người về hôn nhân và gia đình tại cơ quan hành chính ?
6. Trình bày cơ chế (pháp lý) đảm bảo việc thực hiện quyền kết hôn của
con người.
7. Quan điểm cá nhân về thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền
kết hôn hiện nay?
8. “Nghị quyết 02/2000/NQ ngày 23.12.2000 của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC đậm tính nhân văn”. Qua đường lối giải quyết hôn nhân vi
phạm Điều 9, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, hãy phân
tích và chứng minh nhận định trên.
9. So sánh kết hôn trái pháp luật và không công nhận quan hệ vợ chồng
và phân tích cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người trong trường hợp
hủy kết hôn trái pháp luật và không công nhận quan hệ vợ chồng
10. Thông qua chế định kết hôn và quan hệ pháp luật giữa vợ - chồng,

giá thú?
22. Quan điểm cá nhân về pháp luật thực định trong việc bảo đảm
quyền được khai sinh của trẻ em?
23. Trình bày khái niệm, mục đích và ý nghĩa của việc nhận nuôi con
nuôi.
24. Phân tích các điều kiện nhận nuôi con nuôi và đánh giá cơ chế cho
và nhận nuôi con nuôi trong việc đảm bảo quyền được nuôi con nuôi và
quyền được nhận làm con nuôi theo Luật nuôi con nuôi năm 2010.
25. Giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng có thể phát sinh quyền và
nghĩa vụ nhân thân và tài sản nào? Nêu căn cứ phát sinh các quyền và
nghĩa vụ đó. 26. Phân tích nội dung cơ bản của chế định hạn chế quyền
cha mẹ đối với con chưa thành niên. Đánh giá thực tiễn sự can thiệp của
các cơ quan, tổ chức trong việc bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành
niên khi con bị cha mẹ xâm hại?
27. Nêu quan điểm cá nhân về mặt tích cực và hạn chế của chế định chế
quyền cha mẹ đối với con chưa thành niên trong việc bảo vệ quyền lợi
của con.
28. Hôn nhân có thể chấm dứt trong những trường hợp nào? Cho biết sự
khác biệt về thời điểm và hậu quả pháp lý trong trường hợp hôn nhân
chấm dứt do một bên vợ hoặc chồng chết tự nhiên với trường hợp hôn
nhân chấm dứt do tòa án tuyên bố một bên vợ, chồng chết.
29. Quyền ly hôn của con người được pháp luật thừa nhận thế nào? Có
thể đại diện trong ly hôn?
30. Trình bày thủ tục tố tụng giải quyết các trường hợp ly hôn nhằm bảo
vệ quyền ly hôn của vợ chồng tại tòa án. 31. Việc hạn chế quyền ly hôn:
Các trường hợp, điều kiện và mục đích của việc hạn chế quyền yêu cầu
ly hôn ?
32. Phân tích các căn cứ cho ly hôn theo pháp luật hiện hành và cho biết
quan điểm cá nhân về tính khả thi của các căn cứ cho ly hôn trong thực
tiễn.

con chung là Quang, sinh ngày 04.12.2005 và cùng tạo dựng được khối
tài sản chung trị giá 900 triệu đồng. Ngày 15.03.2006, Hội Liên hiệp Phụ
nữ huyện NĐ nộp đơn yêu cầu tòa án nhân dân huyện NĐ huỷ việc kết
hôn của anh Đăng và chị Phượng. Hỏi, tòa án có thẩm quyền giải quyết
yêu cầu của Hội Liên hiệp Phụ nữ địa phương như thế nào, vì sao? Nếu
anh Đăng và chị Vân, anh Đăng và chị Phượng tranh chấp tài sản và
không thỏa thuận được về quyền lợi con chung thì tòa án phải giải quyết
các vấn đề này ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật ?
Tình huống 1.3: Tháng 11 năm 1954, ông Thăng kết hôn hợp pháp với
bà Linh tại tỉnh Nam Định. Hai người không có tài sản chung và con
chung. Tháng 2 năm1955, ông Thăng chuyển vào TPHCM rồi cưới và
sống cùng bà Lan. Do bà Lan không có khả năng sinh con và được sự
đồng ý của bà, năm 1979, ông Thăng đưa bà Ngọt về sống chung như vợ
chồng và có với bà Ngọt hai con chung là Thuận và Hòa. Ông Thăng, bà
Lan và bà Ngọt cùng chung sống tại căn nhà số 18A đường H, quận 5,
TPHCM. Nhà này do ông Thăng đứng tên, được xây dựng năm 1961 trị
giá 4 tỷ đồng. Năm 2007, ông Thăng mất không để lại di chúc.
Hỏi:
a. Ai là vợ ông Thăng theo pháp luật hiện hành?
b. Xác định di sản thừa kế của ông Thăng và cho biết đối tượng được
hưởng di sản thừa kế của ông theo tình huống trên.
Tình huống 1.4: Ông Bỉnh hỏi, cưới bà Nhị về làm vợ năm 1980. Năm
1981, mẹ đẻ ông Bỉnh lập hợp đồng tặng cho ông Bỉnh, bà Nhị 240 m2
đất tại xã X, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1984, Bà Nhị làm thủ tục kê
khai và đứng tên chủ sở hữu toàn bộ diện tích đất này. Do bà Nhị không
có khả năng sinh con nên năm 1983, ông Bỉnh và bà Nhị nhận chị Chà
làm con nuôi (Việc nhận con nuôi này là hợp pháp). Năm 1984, ông
Bỉnh đến địa phương khác chung sống với bà Ly như vợ chồng và có với
bà Ly một trai là Ngọc. Trong thời gian sống cùng bà Ly, hàng tháng ông
Bỉnh vẫn “đi về’ với bà Nhị. Tháng 2.1995, bà Nhị mất. Ông Bỉnh và bà

đăng ký kết hôn. Đến ngày 31-3-2003, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Kha
cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nhưng không tuân thủ đúng quy
định của pháp luật (thiếu chữ ký của anh N trong Giấy chứng nhận kết
hôn). Quá trình chung sống của Chị A, anh N đã phát sinh mâu thuẫn.
Từ tháng 8/2003, mâu thuẫn căng thẳng, chị A xin ly hôn. Anh A cũng
đồng ý ly hôn. – Về con chung: Có 1 con chung là Lâm Bảo N, sinh
năm: 2000. Cả hai bên đều có yêu cầu xin được nuôi con. – Về tài sản:
Hai bên khai thống nhất có các tài sản gồm: 01 tủ đồng hồ, 01 tủ kiếng
nhôm, 01 xe máy Dream Trung Quốc do anh N đứng tên. Theo anh N
khai, ngoài những tài sản trên vợ chồng còn có 01 đôi bông 01 chỉ vàng
24K, 02 nhẫn vàng 02 chỉ 24K, 01 bộ vòng 18 chiếc, 01 dây chuyền 9,9
chỉ vàng 18K và 11.997m2 đất nông nghiệp do cha, mẹ vợ cho. Anh N
yêu cầu chia tài sản theo pháp luật. Chị A cho rằng trước khi cưới chị đã
có bộ vòng 6,5 chỉ 18K, sợi dây chuyền 2,5 chỉ vàng 18K và chiếc lắc
tay 4 chỉ vàng 18K. Sau khi cưới, cha mẹ có cho thêm tiền nên chị đã
đổi thành bộ vòng 18 chiếc 12,5 chỉ vàng và sợi dây chuyền 9,9 chỉ vàng
18K, chiếc lắc tay 5 chỉ vàng 18K, hiện nay 03 loại trang sức này là của
riêng chị đang giữ. Còn đất nông nghiệp do chị đứng tên trên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là đứng hộ cho cha mẹ chị chứ không
phải của vợ chồng chị. Vào năm 2003, chị có thế chấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để vay Ngân hàng cho mẹ anh N là bà Dương Thị Hải
số tiền 15.000.000 đồng nay chị yêu cầu bà Hải và anh N phải trả
15.000.000 đồng cùng với lãi suất để chị trả nợ cho Ngân hàng.
* Ông Nguyễn Văn Suông trình bày: Do gia đình ông có nhiều đất nên
có nhờ N đứng tên dùm 11.997m2 đất nông nghiệp chứ không phải cho
vợ chồng anh nay yêu cầu trả đất.
* Bà Dương Thị Hải thừa nhận có nhờ chị A vay hộ 15.000.000 đồng
nay đồng ý trả nợ.
* Ngân hàng thương mại và cổ phần Đông Á trình bày: Ngày 5-9-2003
chị A ký khế ước vay 15.000.000 đồng lãi suất 1,2%/năm thời hạn 03

* Tại bản án phúc thẩm số 51/HNPT ngày 29/7/2004 của Tòa án nhân
dân tỉnh An Giang quyết định:
– Sửa một phần bản án sơ thẩm.
– Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị A và anh
Lâm Thế N.
– Về tài sản:
• Anh N được chia những tài sản sau:
+ 01 chiếc xe Dream Trung Quốc biển số 67H2-8353 do anh A đứng
tên, 01 tủ kiếng nhôm, 01 tủ đồng hồ trị giá tổng cộng 12.000.000 đồng.
+ 3,5 chỉ vàng 18K (do chị A hoàn lại).
+ 5.997m2 đất nông nghiệp. Anh N phải có nghĩa vụ hoàn lại cho chị
A số tiền chênh lệch tài sản là 6.000.000 đồng.
• Chị A được chia những tài sản sau:
+ 6.000.000 đồng do anh N hoàn lại.
+ 7 chỉ vàng 18K.
+ 6.000m2 đất nông nghiệp.
Chị A phải có nghĩa vụ hoàn lại cho anh N 3,5 chỉ vàng 18K. Kiến nghị
Ủy ban nhân dân huyện Thoại Sơn thu hồi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 01367/QSDĐ là cấp ngày 11-8-2003 diện tích 11.997m2 do
chị Nguyễn Thị A đứng tên. Anh Lâm Thế N và chị Nguyễn Thị A có
trách nhiệm liên hệ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai
đăng ký quyền sử dụng đối với phần diện tích đất được chia, cụ thể anh
N 5.997m2, chị A 6.000m2. Sau khi xét xử phúc thẩm, chị A có đơn
khiếu nại với lý do diện tích 11.997m2 chị được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất do cha mẹ chị cho riêng không phải là tài sản chung
của vợ chồng. Việc chị và anh N đứng đơn xin xác nhận ngày 3-9-2003
để bổ túc hồ sơ xin vay vốn ngân hàng cho bà Hải chứ không phải căn
cứ để xác định chị đã nhập tài sản chung của vợ chồng. Tại quyết định
kháng nghị số 153/2005/DS-KN ngày 27-10-2005, Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao đề nghị hủy phần chia tài sản, giao hồ sơ vụ án về Tòa

- Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Th.
- Buộc bà Ng, ông V phải có nghĩa vụ trả cho bà Th số tiền vốn vay là
300.000.000đ và tiền lãi là 72.967.000đ. Tổng cộng là: 372.967.000đ. -
Bà Trần Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Ng và ông V hai giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 mang tên Nguyễn Quốc
V do UBND huyện Cao Lãnh cấp ngày 29/11/2005. Ngoài ra, Tòa án
cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, lệ và quyền kháng cáo của các
đương sự. Ngày 16/6/2008, bà Khương Hồng Ng và ông Nguyễn Quốc
V kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm nêu trên. Tại bản án dân
sự phúc thẩm số 434/2008/DSPT ngày 19/9/2008, Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp đã quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Khương Hồng Ng và ông
Nguyễn Quốc V.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2008/DSST ngày 03/6/2008
của Tòa án nhân dân huyện Cao lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bà Trần Thị Th.
- Buộc bà Khương Hồng Ng và ông Trần Quốc V có nghĩa vụ trả cho bà
Trần Thị Th số tiền vốn vay là 300.000.000 đồng và 72.967.000 đồng
tiền lãi. Tổng cộng là: 372.967.000 đồng. - Bà Trần Thị Th có nghĩa vụ
trả cho bà Khương Hồng Ng và ông Trần Quốc V hai giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 do Ủy ban nhân dân
huyện Cao Lãnh cấp ngày 29/11/2005 và ngày 26/10/2005 do ông
Nguyễn Quốc V đứng tên. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết
định về án phí, lãi suất chậm trả theo luật định. Ngày 20/10/2008, ông
Nguyễn Quốc V có đơn khiếu nại với nội dung không đồng ý liên đới
cùng bà Ng trả số tiền 372.967.000 đồng cho bà Th. Tại Quyết định số
445/2010/KG-DS ngày 16/6/2010, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã
kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 434/2008/DSPT ngày
19/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về phần xác định nghĩa
vụ liên đới thanh tóan nợ vay của các bên đương sự .

nhân và gia đình, quyết định: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê N Sương về
việc nuôi con; bác yêu cầu của anh Kha Tấn Tài về việc yêu cầu nuôi
con; chị Lê N Sương nuôi con Kha Lê Trọng Tín sinh ngày 23-01-2003
cho đến khi trưởng thành; chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng;
anh Tài được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được ngăn cản;
anh Tài có trách nhiệm giao cháu Tín cho chị Sương nuôi dưỡng; tạm
giao cháu Tín cho anh Tài quản lý cho đến khi án có hiệu lực. Ngoài ra,
Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của
các đương sự theo quy định của pháp luật. Ngày 11-9-2006 anh Kha Tấn
Tài có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Tại bản án hôn nhân gia đình
phúc thẩm số 04/2007/HNGĐ-PT ngày 22-01-2007, Toà án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp không chấp nhận kháng cáo của anh Kha Tấn Tài, giữ
nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm như sau: Giao cho chị Lê N
Sương được nuôi con là Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 cho
đến khi trưởng thành. Chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng nuôi
con. Anh Kha Tấn Tài được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai
được ngăn cản. Anh Kha Tấn Tài có trách nhiệm giao cháu Kha Lê
Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 cho chị Lê N Sương nuôi dưỡng.
Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí. Sau khi xét xử
phúc thẩm, anh Kha Tấn Tài có đơn khiếu nại. Cơ quan Thi hành án dân
sự thị xã Sa Đéc có công văn số 28/ĐN-THA ngày 25-01-2008 đề nghị
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kháng
nghị bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu trên. Ngày 22-8-2008,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 114/QĐ-
KNGĐT-V5 kháng nghị đề nghị Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao xét
xử giám đốc thẩm huỷ bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số
19/2006/HNGĐ-ST ngày 31-8-2006 của Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc,
tỉnh Đồng Tháp và bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu trên, giao
hồ sơ về Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc xét xử lại sơ thẩm lại. Trên cơ sở
qui định của pháp luật hiện hành và đường lối xét xử nêu trên, anh (chị)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status