LỜI MỞ ĐẦU
Chăm lo cho thế hệ học sinh là công việc có ý nghĩa quan trọng, không
chỉ ở hiện tại mà còn có tác dụng to lớn để xây dựng xã hội tốt đẹp trong tương
lai. Vì vậy, việc bảo đảm cho thế hệ trẻ được phát triển lành mạnh cả về thể chất
và tinh thần chính là chăm lo cho xã hội phát triển cả về thế và lực. Với quan
điểm chăm lo cho thế hệ trẻ là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn xã hội, Đảng và
nhà nước ta đã không ngừng chỉ đạo các cấp, các ngành có liên quan thực hiện
chủ chương đó nhằm mục đích chăm sóc và bảo vệ cho thế hệ trẻ.
Để cùng gánh vác với xã hội trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ trẻ em, các
công ty bảo hiểm đã triển khai nghiệp vụ bảo hiểm toàn diện học sinh. Mục đích
nhằm giúp gia đình, nhà trường và bản thân các em biết cách đề phòng và hạn
chế rủi ro, và quan trọng hơn là bảo hiểm sẽ giúp những học sinh gặp tai nạn rủi
ro và gia đình có thể ổn định được tài chính, khắc phục những khó khăn khi rủi
ro xảy ra.
Trong lĩnh vực bảo hiểm toàn diện học sinh, Bảo Việt là công ty đầu tiên
triển khai kinh doanh trên thị trường.Vốn là một trong những nghiệp vụ truyền
thống, Bảo Việt đã cung cấp dịch vụ này tới hầu hết các em,và chiếm hơn 60%
thì phần trên thị trường. Hiện nay, Bảo Việt Hà Nội cũng đang tích cực triển
khai nhằm ngày một hoàn thiện mình, qua đó cung cấp tới các em một dịch vụ
tốt nhất. Chính vì vậy, trong quá trình thực tập tại Bảo Việt Hà Nội-Chi nhánh
Bảo Việt Cầu Giấy, em đã chọn nghiệp vụ bảo hiểm toàn diện học sinh làm luận
văn của mình với tên luận văn “Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ bảo hiểm
toàn diện học sinh tại Công ty Bảo Việt Hà Nội- Chi nhánh Bảo Việt Cầu
Giấy”
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 Chương sau:
Chương I: Lý luận chung về nghiệp vụ bảo hiểm học sinh và hiệu quả
kinh doanh nghiệp vụ.
1
Chương II: Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm toàn diện học sinh
tại Bảo Việt Hà Nội - Chi nhánh bảo Việt Cầu Giấy giai đoạn 2001 - 2005
Chương III: Giải pháp nhằm hoàn thịên nghiệp vụ bảo hiểm toàn diện học
hành động của mình, hay bị quấn hút vào những trò nguy hiểm. Vì vậy mà
những nguy cơ rủi ro luôn rình rập.
Từ khi sinh ra và lớn lên các em đều được sống trong vòng tay yêu thương,
sự quan tâm chăm sóc của gia đình, nhà trường và xã hội. Họ luôn tạo những
điều kiện tốt nhất để các em được tự do phát triển về thể lực, chí lực, tuy vậy các
em cũng không thể tránh khỏi những nguy cơ ốm đau, bệnh tật. Mặt khác nhận
thức của các em ở lứa này còn chưa hoàn thiện, thiếu sự hiểu biết về pháp luật,
chưa đủ nhận thức để tự bảo vệ mình nên thường hành động thiếu suy nghĩ,
chưa ý thức được cái tốt cái xấu, dễ bị lôi kéo vào những trò chơi nguy hiểm mà
không lường trước được hậu quả của nó. Vì vậy, ở lứa tuổi học sinh nguy cơ xảy
ra rủi ro cao hơn so với các lứa tuổi khác.
Khi không may xảy ra rủi ro, trẻ em rất cần được sự chăm sóc, chữa trị để
hồi phục sức khoẻ, nếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ.
3
Trong khi đó chi phí chăm sóc này đôi khi là rất lớn mà không phải gia đình nào
cũng có được, điều này là một thiệt thòi rất lớn cho các em. Vì vậy, vấn đề đặt ra
mà bất khì xã hội nào cũng quan tâm là làm thế nào để khắc phục được những
hậu quả khi xảy ra rủi ro để đảm bảo cuộc sống cho các em? Để trả lời cho câu
hỏi đó mỗi quốc gia, mỗi xã hội đều giành sự quan tâm đặc biệt đến vẫn đề này.
Rất nhiều biện pháp đã được đặt ra như cứu trợ xã hội, sự giúp đỡ của các tổ
chức, cá nhân. Trong đó, có một biện pháp hiệu quả cao rất phổ biến trên thế
giới đó là bảo hiểm toàn diện học sinh. Theo công ước “quyền trẻ em”của liên
hợp quốc đã ghi rõ “các quốc gia thành viên đều thừa nhận mọi trẻ em đều
được hưởng an toàn xã hội bao gồm cả bảo hiểm xã hôị, và phải thi hành những
biện pháp cần thiết để thực hiện các quền đó phù hợp với pháp luật của quốc gia
mình”.
Ở Việt Nam, theo thống kê số lượng học sinh ở nước ta chiểm khoảng 20%
dân số cả nước. Đây chính là nguồn nhân lực, nguồn hy vọng của đất nước trong
sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ các em là
nghĩa vụ quan trọng mà Đảng ta đã xác định “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì
trong trường hợp xảy ra rủi ro với các em mà cần được điều trị ngay. Để khắc
phục được những nhược điểm của các biện pháp trên, bảo hiểm toàn diện học
sinh đã ra đời. Với một số tiền nhỏ khi tham gia bảo hiểm nếu xảy ra tai nạn thì
học sinh đó sẽ được trợ cấp một phần hoặc toàn bộ chi phí chăm sóc sức khoẻ từ
phía các công ty bảo hiểm. Như vậy, sẽ đảm bảo được hưởng những quền lợi
chính đáng trong việc chăm sóc hồi phục sức khoẻ khi không may xảy ra tai nạn.
Đây là biện pháp rất tích cực và đạt hiệu quả cao, nó vừa mang tích chủ động,
lại có phạm vị rộng lớn vì không bị giới hạn với bất cứ học sinh nào, hơn nữa
việc giải quyết hậu quả khi sảy ra tại nạn lại được tiến hành nhanh chóng.
Như vậy, sự ra đời của bảo hiểm học sinh là một tất yếu khách quan để bảo
đảm cho moi học sinh đều nhận được sự chăm sóc cần thiết khi không may gặp
rủi ro. Bảo hiểm học sinh là phương thức thiết thực nhất đảm bảo sức khoẻ, tính
mạng cho các em. Là người bạn, người bảo vệ đắc lực cho an toàn của các em.
5
2. Tác dụng của bảo hiểm toàn diện học sinh
a. Đối với học sinh, sinh viên
Như đã nói ở trên, bảo hiểm toàn diện học sinh là là sự đảm bảo về quyền
lợi cho các em theo công ước quốc tế và luật chăm sóc giáo dục trẻ em. Vì vậy,
trước hết bảo hiểm toàn diện học sinh là để phục vụ cho lợi ích của chính các em
thể hiện:
+ Việc tham gia bảo hiểm giúp các em và gia đình có nguồn tài chính phục
vụ chăm sóc phục hồi sức khoẻ sau khi bị tai nạn, ốm đau bệnh tật để nhanh
chóng trở lại học tâp. Chỉ một số tiền đóng phí bảo hiểm nhỏ nhưng khi có rủi ro
xảy ra các em sẽ được công ty bảo hiểm trả tiền gấp nhiều lần để trang trải các
chi phí y tế và từ đó các em sẽ có điều kiện được chăm sóc tốt. Điều này đặc biệt
có ý nghĩa với các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn như học sinh ở nông
thôn, miền núi, cao nguyên…khi mà chỉ duy trì cho các em đi học cũng rất vất
vả, thì sẽ không có điều kiện chi trả chăm sóc khi gặp tai nạn. Do đó, bảo hiểm
toàn diện học sinh thực sự là người bạn tin cậy đảm bảo cho các em có điều kiện
được học tập liên tục.
dạy của nhà trường được đảm bảo đúng kế hoạch. Qua bảo hiểm học sinh nhà
trường được trang bị thêm các kiến thức về phong tránh giảm thiểu rủi ro cho
học sinh, đồng thời nhà trường có thể phối hợp cùng với các bậc phụ huynh và
công ty bảo hiểm mở thêm các lớp ngoại khoá để giáo dục các em ý thức tự bảo
vệ mình, nhờ đó mà chương trình giảng dạy của nhà trường sẽ được phong phú
hơn. Giúp nhà trường tạo được sự tin cậy và nâng cao uy tín của mình với các
bặc phụ huynh.
Sau khi thu phí bảo hiểm công ty bảo hiểm sẽ trích một phần phí bảo hiểm
để lại trường được sử dụng vào công tác đề phòng hạn chế tổn thất như mua sắm
các trang thiết bị y tế, sách báo, thuốc men… giúp nhà trường giảm bớt được
những chi phí này.
7
d. Đối với các công ty bảo hiểm
Mục tiêu của các công ty bảo hiểm khi tiến hành kinh doanh là thu được lợi
nhuận. Tuy nhiên, do bảo hiểm học sinh là một nghiệp vụ bảo hiểm có liên quan
đến các định hướng, chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước, đồng thời thể
hiện sự quan tâm của các xã hội đến các thế hệ tương lai vì vậy các công ty bảo
hiểm không chỉ coi trọng mục tiêu hiệu quả kinh doanh mà còn hết sức chú ý
đến hiệu quả xã hội của nghiệp vụ này.
Là một nghiệp vụ bảo hiểm ra đời từ rất sớm, bảo hiểm toàn diện học sinh
chiếm một phần khá lớn trong tổng thu của công ty bảo hiểm, vừa góp phần làm
tăng doanh thu đồng thời thông qua công tác tuyên truyền quảng bá đã đưa được
hình ảnh của công ty tới đông đảo công chúng. Thực hiện tốt nghiệp vụ này sẽ
góp phần năng cao uy tín của công ty tới công chúng đây là tác dụng rất lớn đối
với công ty. Giúp công ty có thể dễ dàng bán các loại hình bảo hiểm khác. Đồng
thời, việc học sinh tham gia bảo hiểm ngay từ khi còn nhỏ sẽ giúp các em hiểu
rõ về bảo hiểm, đây sẽ là một thị trường bảo hiểm đầy tiềm năng trong tương lai.
e. Đối với xã hội
Bảo hiểm toàn diện học sinh góp phần quan trọng vào công tác xã hội hoá
giáo dục với mục tiêu chuẩn bị cho thế hệ tương lại một lền tảng vững chắc về
hiểm tai nạn học sinh 24/24giờ. Phí bảo hiểm được năng cao lên thành từ 1000-
3000đồng/ một học sinh. số tiền bảo hiểm là 1.000.000 - 2.000.000 đồng/vụ.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng sôi động, sau nghị định 100/CP
của chính phủ, hàng loạt các công ty bảo hiểm được thành lập cạnh tranh với
nhau. Các doanh nghiệp tìm mọi cách để hoàn thiện sản phẩm bảo hiểm của
mình để tăng tính cạnh tranh. Nghiệp vụ bảo hiểm học sinh cũng không ngừng
đổi mới để phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Trong quá
trình đó người ta nhận thấy rằng bên cạnh những rủi ro do tai nạn ảnh hưởng đến
tính mạng, sức khoẻ và sự phát triển của trẻ, những rủi ro ốm đau, bệnh tật
cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của các em. Hơn nữa, những rủi ro
9
ốm đau, bệnh tật lại khá nhiều. Điều này dẫn đến đòi hỏi tù phía các em học
sinh, cũng như các bặc cha mẹ muốn các công ty bảo hiểm tiếp tục mở rộng
phạm vi bảo hiểm, không chỉ giới hạn bởi những rủi ro xảy ra trong và ngoài giờ
học mà còn bảo hiểm cho cả những rủi ro ốm đau, bệnh tật. Chính vì vậy, năm
học 1995-1996 bảo hiểm tai nạn học sinh được triển khai thành bảo hiểm toàn
điện học sinh với ba điều kiện bảo hiểm:
1. Điều kiện A: chết do mọi nguyên nhân.
2. Điều kiện B: Thương tật do tan nạn.
3. Điều kiện C: Bảo hiểm cho những rủi ro ốm đau, bệnh tật phải nằm viện
phẫu thuật.
Người tham gia bảo hiểm được phép lựa chọn hình thức tham gia bảo hiểm
có thể tham gia một điều kiện hoặc tham gia kết hợp hai hoặc ba trong ba điều
kiện trên, với mỗi hình thức tham gia sẽ tương ứng với một mức phí khác nhau.
Với sự phân chia các điều kiên bảo hiểm A,B,C đã tạo điều kiện thuận lợi cho
người tham gia bảo hiểm, từ đó bảo hiểm học sinh đã nhanh chóng thu hút được
nhiều khách hàng, chiếm tỷ trọng doanh thu cao trong cơ cấu doanh thu của các
công ty bảo hiểm, thể hiện được vị thế của mình trên thị trường bảo hiểm.
Để tiếp tục hoàn thiện nghiệp vụ bảo hiểm toàn diện học sinh công ty bảo
hiểm tiếp tục đổi mới mở rộng phạm vi bảo hiểm. Hiện nay, bảo hiểm học sinh
Người tham gia bảo hiểm có thể lựa chọn hai hay nhiều điều kiện bảo hiểm
được quy đinh dưới đây:
A. Điều kiện bảo hiểm A.
+ Rủi ro được bảo hiểm: bảo hiểm do trường hợp chết do ốm đau bệnh tật.
+Hiệu lực bảo hiểm: hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực sau 30 ngày kể từ
ngày đóng phí bảo hiểm. Những hợp đồng tái tục mặc nhiên có hiệu lực ngay
sau khi người tham gia bảo hiểm đóng phí cho kì tiếp theo.
B. Điều kiện bảo hiểm B.
11
+ Rủi ro được bảo hiểm: Bảo hiểm cho trường hợp chết hoặc thương tật
thân thể do tai nạn.
+ Hiệu lực bảo hiểm: Có hiệu lực ngay khi người tham gia bảo hiểm hoàn
thành thủ tục đóng phí theo quy định.
C. Điều kiện bảo hiểm C.
+ Rủi ro được bảo hiểm: Bảo hiểm cho những trường hợp ốm đau bệnh tật.
+ Hiệu lực bảo hiểm: Có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày đóng phí bảo
hiểm.
D. Điều kiện bảo hiểm D.
+ Rủi ro được bảo hiểm: Nằm viện do ốm đau, bệnh tật, thương tật thân thể
do tai nạn.
+ Hiệu lực bảo hiểm: hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực sau 30 ngày kể từ
ngày đóng phí bảo hiểm đầy đủ theo quy định. Hợp đồng tái tụng mặc nhiên có
hiệu lực kể từ khi đóng phí cho kì tiếp theo.
E. Những trường hợp không thuộc phạm vi bảo hiểm
• Đối tượng không nhận bảo hiểm gồm: những người bị mắc bệnh thần
kinh, tâm thần, phong. Những người bị tàn phế hoặc bị thương tật vĩnh viễn từ
50% trở lên. Những người đang trong giai đoạn điều trị bệnh tật hoặc thương tật.
• Những loại trừ áp dụng chung cho các điều kiện:
- Hành vi cố ý của người được bảo hiểm hoặc người được thụ hưởng quyền
lợi bảo hiểm.
bảo hiểm đã được trả tiền bảo hiểm, trong vòng 01 năm kể từ ngày xảy ra tai nạn
người được bảo hiểm chết do chính hậu quả của tai nạn đó, công ty sẽ trả phần
chênh lệch giữa số tiền bảo hiểm ghi trên hợp đồng hoặc giấy chứng nhận bảo
hiểm với số tiền đã trả cho tai nạn trước đó. Hoặc trong vòng 01 năm kể từ ngày
xảy ra tai nạn mức độ thương tật trầm trọng hơn thì công ty bảo hiểm sẽ trả phần
chênh lệch giữa số tiền ứng theo tỷ lệ thương tật với số tiền đã trả cho tai nạn
trước đó.
13
C. Điều kiện bảo hiểm C. Trong trường hợp người được bảo hiểm phải phẫu
thuật do ốm đau, bệnh tật công ty bảo hiểm sẽ trả tiền theo bảng tỷ lệ phẫu thuật
do công ty ban hành.
D. Điều kiện bảo hiểm D. Trường hợp người được bảo hiểm ốm đau, bệnh
tật, tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm phải nằm viện, Bảo Việt sẽ trợ cấp mỗi ngày
0,3% số tiền bảo hiểm, nhưng không quá 60 ngày trong năm.
*Mở rộng quyền lợi bảo hiểm.
• Học sinh tham gia điều kiện D được hưởng trợ cấp nằm viện trong cả
trường hợpbị tai nạn. Số ngày nằm viện không quá 60 ngày/ năm.
• Học sinh tham gia bảo hiểm kết hợp cả B+C+D khi ốm đau, bệnh tật
phải nằm điều trị, phẫu thuật tại bệnh viện nhưng không qua khỏi dẫn đến tử
vong, được trợ cấp mai táng phí 1.000.000 đ/ ng.
• Học sinh bị tai nạn, nhưng không nằm viện được cấp 0.2% số tiền bảo
hiểm trên ngày, không quá 07 ngày/ vụ.
4. Phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
4.1. Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là hạn mức trách nhiệm của các công ty bảo hiểm. Đây là
cơ sở quan trọng để xác định số tiền bồi thường. Đối với nghiệp vụ bảo hiểm
học sinh hiện nay số tiền bảo hiểm giao động trong khoảng từ 1.000.000 đến
10.000.000 đồng/vụ. Trong thực tế hạn mức trách nhiệm mà học sinh tham gia
phổ biến hiện nay khoảng từ 4.000.000 đến 6.000.000. đồng/vụ.
4.2. Phí bảo hiểm
i
n
i
ii
L
TC
1
1 1
Trong đó:
Ci: số tiền trả cho những người bị tai nạn và sau đó bị chết năm thứ i
Ti: Số tiền trả cho những người bị thương tật năm thứ i
Li: Số người tham gia bảo hiểm học sinh
Phụ phí d bao gồm:
- Chi cho hoạt động quản lý của công ty bảo hiểm, thông thường từ
5%15%.
- Chi trích lập quỹ dự trữ bảo hiểm, đề phòng và hạn chế tổn thất.
- Khoản thuế mà công ty phải nộp theo quy định của nhà nước.
- Các khoản khác..
2. Phí bảo hiểm được xác định dựa trên số tiền bảo hiểm.
Phí bảo hiểm= tỷ lệ phí* số tiền bảo hiểm
15
Trong thực tế triển khai bảo hiểm toàn diện học sinh, hầu hết các công ty
bảo hiểm, trong đó có Bảo Việt thường áp dụng cách tính phí theo tỷ lệ phí và số
tiền bảo hiểm.
5. Thu phí bảo hiểm.
Phí bảo hiểm nộp 01 kì vào đầu năm học. khi nộp phí bảo hiểm trường cần
nộp đầy đủ danh sách học sinh tham gia bảo hiểm. Trường hợp nộp phí không
có danh sách thì những sự cố tai nạn sẽ không có căn cứ giải quyết.
6. Hoa hồng đại lý
Hoa hồng đại lý trả đến mức tối đa theo quy định tại thông tư số
A.Trách nhiệm của công ty bảo hiểm
Phối hợp cùng với nhà trường tuyên truyền, phổ biến rộng rãi quyền lợi của
người được bảo hiểm.
Giải quyết tốt việc bồi thường cho học sinh khi không may rủi ro tại nạn
xảy ra.
Phối hợp cùng với nhà trường làm tốt công tác đề phòng hạn chế rủi ro tai
nạn.
Thanh quyết toán các chi chí liên quan.
B. Trách nhiệm của bên tham gia bảo hiểm
khi có yêu cầu bảo hiểm người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho
công ty bảo hiểm. Có thể là nộp trực tiếp hoặc thông qua nhà trường để đóng.
Khi xảy ra rủi ro người được bảo hiểm hoặc thân nhân của người được
bảo hiểm phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và có thể thực hiện để cứu chữa
nạn nhân.
Phải trung thực khai báo và cung cấp các chứng từ chính xác về rủi ro
được bảo hiểm.
C.Trách nhiệm của nhà trường
17
Nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ các đại lý viên thu phí bảo hiểm và lập
danh sách tham gia bảo hiểm đúng kế hoạch hướng dẫn.
Giúp học sinh về thủ tục lập hồ sơ yêu cầu bảo hiểm
Giải quyết bồi thường những vụ tai nạn nhỏ.
Mở sổ theo dõi chi tiết việc thực hiện những khoản chi 15% tổng số phí để lại
trường theo đúng chế độ hướng dẫn và quyết toán với công ty bảo hiểm sau khi
kết thúc năm học.
10. Trả tiền bảo hiểm
1. Hồ sơ yêu cầu trả tiền bảo hiểm
Khi yêu cầu công ty bảo hiểm trả tiền bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc
người được thụ hưởng phải gửi cho công ty bảo hiểm các giấy tờ sau trong vòng
một năm kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm:
+ Trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật mà nguyên nhân gây ra
thuộc phạm vi bảo hiểm:
Số tiền bồi thường = Tỉ lệ thương tật * Số tiền bảo hiểm
Tỷ lệ thương tật được ghi rõ trong bảng “tỷ lệ chi trả tiền bảo hiểm
thương tật” do bộ tài chính ban hành ngày 02/07/1991.
+ Trường hợp người tham gia bảo hiểm phải nằm viện do ốm đau bệnh
tật:
Số tiền bồi thường = Tỷ lệ trở cấp nằm viện*STBH*Số ngày nằm viện
Tỷ lệ trợ cấp nằm viện thường được quy định theo năm, tuy nhiên theo quy
định chung số ngày nằm viện không quá 60 ngày/ 1 người/ 1 năm.
+ Trường hợp người được bảo hiểm phải phẫu thuật do ốm đau, bệnh tật
thì trả tiền theo bảng tỷlệ trả tiền phẫu thuật.
Số tiền bồi thường = tỷ lệ phẫu thuật* Số tiền bảo hiểm
Trong trường hợp sau khi bị tai nạn hoặc phẫu thuật đã nhận được tiền bồi
thường, nhưng sau một thời gian điều trị (tối đa là một năm) lại bị tử vong do
19
chính nguyên nhân cũ gây ra thì sẽ được công ty trả tiền bảo hiểm trong trường
hợp chết:
Số tiền trả thêm = STBH - Số tiền bồi thường đã nhận trước đó
11. Thời hạn khiếu nạn và giải quyết tranh chấp.
A. Thời hạn khiếu nại: thời hạn khiếu nại về việc giải quyết trả tiền bảo
hiểm là 6 tháng kể từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết của công ty.
Quá thời hạn trên mọi khiếu nại đều không có giá trị.
B. Giải quyết tranh chấp: Mọi tranh chấp có liên quan đến hợp đồng bảo
hiểm này, nếu các bên không giải quyết được bằng thương lượng thì một trong
hai bên có quyền đưa ra giải quyết tại toà án theo pháp luật hiện hành.
12. Giám định tổn thất
1. Giám định
Giám định tổn thất là một trong những công việc cơ bản của công ty bảo
hiểm. Thông qua giám định người ta nắm được mức độ thiệt hại khi rủi ro xảy
mặc dù trong bảo hiểm học sinh việc giám định tổn thất không khó khăn như:
bảo hiểm thân tàu, xây dựng lắp đặt hoặc bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu,
nhưng cũng không thể xem nhẹ, bỏ qua, bởi trong thực tế những trường hợp
gian lận để trục lợi bảo hiểm vẫn xảy ra.
Các bước tiến hành giám định:
- Sau khi nhận được hồ sơ, cán bộ bảo hiểm sẽ đối chiếu với giấy chứng
nhận bảo hiểm và danh sách tham gia bảo hiểm từ đó xác định mức độ và loại
hình bảo hiểm.
- Kiểm tra biên bản tai nạn trong trường hợp xảy ra tai nạn xem xét các
chứng từ y tế để xác định rõ tình trạng xảy ra tai nạn: có nằm viện hay hoặc
phẫu thuật không? thời gian nằm viện… trong trường hợp có nghi vấn phải đi
xác minh lại tại bệnh viện.
Lập xác minh theo mẫu của công ty, sau khi lập song cán bộ xác minh phải
kí rõ họ tên, nội dung chủ yếu của biên bản xác minh bao gồm: Họ tên người bị
tai nạn, địa chỉ số tiền bảo hiểm, số hợp đồng, số danh sách, điều kiện bảo hiểm,
21
thời gian xảy ra tai nạn. Công việc này nếu thực hiện nghiêm túc sẽ giúp được
công ty bảo hiểm tránh được sai lầm trong khâu bồi thường, phát hiện được các
trường hợp trục lợi bảo hiểm.
13. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
Do đặc thù riêng của ngành bảo hiểm, công tác đề phòng hạn chế tổn thất
có vai trò rất quan trọng, càng làm tốt công tác này thì chí phí lớn nhất của
ngành bảo hiểm là chi bồi thường sẽ càng ít do đó lợi nhận, hiệu quả kinh doanh
của công ty càng cao.
Mặc dù chỉ bảo hiểm cho những rủi ro mang tích bất ngờ, ngẫu nhiên,
nhưng chúng ta cũng có thể tác động làm giảm khả năng xảy ra của những rủi ro
đó. Đối với bảo hiểm toàn diện học sinh thì biện pháp đề phòng giáo dục tốt
nhất là làm sao để các em tự nhận thức được các mối nguy hiểm, ý thức được
hành động của mình. Để làm được điều đó, công ty bảo hiểm cần phối hợp hoạt
động tốt với gia đình và nhà trường, thường xuyên nhắc nhở các em phải chú ý
tích theo các hướng sau:
+ Phân tích theo cơ cấu doanh thu chi phí .
+ Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và lợi nhuận.
+ Phân tích sự biến động của doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo thời
gian .
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận.
2. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
2.1. Khái niệm
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là thước đo sự phát triển
của doanh nghiệp bảo hiểm đó và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc
tạo ra những kết quả kinh doanh nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Với tư cách là thước đo sự phát triển của doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu quả
kinh doanh thể hiện ở các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế, xã hội khác nhau. Hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm luôn gắn với các mục tiêu kinh tế - xã
hội. Trước hết là những mục tiêu của doanh nghiệp, sau đó là của ngành bảo
hiểm và toàn bộ nền kinh tế- xã hội. Bởi vì kinh doanh bảo hiểm mà đặc biệt là
bảo hiểm toàn diện học sinh không chỉ mang tính kinh tế mà còn mang tích xã
hội. Cho nên khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp bảo hiểm
không chỉ xét trên góc độ kinh tế mà còn phải xét trên góc độ phục vụ xã hội.
23
2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
Xét trên phương diện thống kê, để biểu hiện và đo lường hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp bảo hiểm không thể dùng một chỉ tiêu, mà phải có hệ
thống các chỉ tiêu. Bởi vì nội dung của phạm trù hiệu quả kinh doanh rất rộng và
rất phức tạp nên phải dùng hệ thống các chỉ tiêu, mỗi chỉ tiêu phản ánh một mặt,
một quá trình kinh tế nào đó.
Nếu kí hiệu một chỉ tiêu chi phí nào đó là C và một chỉ tiêu kết quả kinh
doanh nào đó là K, thì chỉ tiêu hiệu quả được tính theo hai chỉ tiêu trên là :
H= K/C hoặc H=C/K
Do đó về nguyên tắc cứ mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh so sánh
H
X
2
= K
BT
/ C
BH
.
Trong đó:
H
X
: Hiệu quả xã hội của công ty bảo hiểm.
24
C
BH
: Tổng chi phí cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong kì.
K
TG
: Số khách hàng tham gia bảo hiểm trong kì.
K
TB
Số khách hàng đuợc bồi thường trong kì
2.3. Phân tích hiệu quả kinh doanh theo các khâu công việc đối với bảo hiểm
toàn diện học sinh
Cũng như các nghiệp vụ khác quá trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm
toàn diện học sinh bao gồm các khâu công việc: khâu khai thác, khâu giám định
và bồi thường tổn thất, khâu đề phòng và hạn chế tổn thất ... Để nâng cao hiệu
quả của nghiệp vụ, đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả của từng khâu. Điều đó có
nghĩa là phải xác định hiệu quả từng khâu. Sau đó đánh giá xem xét xem khâu
nào chưa mang lại hiệu quả để tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục.