Tỷ giá và chính sách điều hành tỷ giá ở Việt Nam hiện nay - Pdf 22

LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ giá là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các phạm trù kinh tế
khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quả trong việc tác động đến
quan hệ kinh tế của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách
tiền tệ quốc gia. Đã bao thời nay, chúng ta đã và đang tiếp tục đứng trước một vấn đề có
tầm quan trọng đặc biệt này và cố gắng tiếp cận nó, mong tìm ra một nhận thức đúng đắn
để từ đó xác định và đưa vào vận hành trong thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm
biến nó trở thành một công cụ tích cực trong quản lý nền kinh tế ở mỗi nước.
Tỷ giá bị chi phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính trừu
tượng vốn có của bản thân nó. Tỷ giá là cái mà con người cần phải tiếp cận hàng ngày,
hàng giờ, sử dụng nó trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc xử lý những vấn đề
cụ thể liên quan đến các chính sách kinh tế trong nước và quốc tế. Và do vậy, nhận thức
một cách đúng đắn và sử lý một cách phù hợp một cách tỷ giá hối đoái là hết sức cần
thiết.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình quốc tế hoá đã bao
trùm tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc sống, thì sự gia tăng của hợp
tác quốc tế nhằm phát huy và sử dụng những lợi thế so sánh của mình đã làm cho việc
quản lý đời sống kinh tế của đất nước và là mối quan tâm đặc biệt của chính phủ các
nước trong quá trình phục hưng và phát triển kinh tế. Điều đó càng làm cho việc điều
chỉnh chính sách tỷ giá trở nên quan trọng. Cũng chính vì thế mà nhóm 01 đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài: “ Tỷ giá và chính sách điều hành tỷ giá ở Việt Nam hiện nay”.
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
1.1. Định nghĩa và phân loại tỷ giá
1.1.1 Khái niệm
Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền này được biểu thị thông qua một số đơn vị của
đồng tiền khác.
Ví dụ:
1USD = 21.200 VND
1EUR = 1,7 USD
1.1.2 Phân loại
Dựa vào những căn cứ khác nhau người ta chia ra nhiều loại tỷ giá khác nhau:

e) Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá chia ra làm hai
loại:
- Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào.
- Tỷ giá bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra.
1.2 Các chế độ tỷ giá
1.2.1 Tỷ giá hối đoái cố định bản vị vàng
Theo chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái được qui định căn cứ vào hàm lượng vàng
của các đồng tiền. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, khi thương mại quốc tế
tăng lên cùng với hoạt động đầu cơ, chế độ bản vị vàng này không đáp ứng được nhu cầu
phát triển và các nước thôi áp dụng từ năm 1971.
1.2.2 Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp
Loại tỷ giá hối đoái này được áp dụng tại các nước Xã hội chủ nghĩa thời kỳ kinh tế
kế hoạch hoá tập trung. Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp thường chênh lệch nhiều lần so
với tỷ giá hối đoái thị trường, không có vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô đối với xuất
nhập khẩu, loại tỷ giá hối đoái này được áp dụng tại Việt Nam trước năm 1989.
1.2.3 Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do
Theo chế độ tỷ giá hối đoái này, mức tỷ giá hối đoái được quyết định hoàn toàn bởi
các lực lượng cung cấp cầu về ngoại tệ. Trong hệ thống này chính phủ giữ thái độ thụ
động, để cho thị trường ngoại tệ đánh giá giá trị của ngoại tệ - loại tỷ giá hối đoái này ít
được áp dụng vì các thị trường tiền tệ thường không hoàn hảo và do vậy luôn cần có vai
trò can thiệp của nhà nước.
1.2.4 Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết
Theo chế độ này, chính phủ không cam kết duy trì một tỷ lệ cố định với ngoại tệ, mà
thả nổi đồng tiền của mình và có biện pháp can thiệp mỗi khi thị trường trở nên mất trật
tự , hoặc khi tỷ giá hối đoái đi chệch xa mức thích hợp loại tỷ giá hối đoái này hiện đang
được áp dụng tại các nước Tư Bản Chủ Nghĩa, nơi mà lạm phát đạt thấp, các thị trường
phát triển ở trình độ cao.
1.2.5 Tỷ giá hối đoái ổn định có điều tiết
Theo chế độ này, chính phủ không để ngoại tệ trôi nổi tự do, mà can thiệp vào thị
trường ngoại tệ bằng cách mua bán ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá qui định. Sau mỗi thời

Nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ được thực hiện thông qua việc NHTW tham gia
mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ. Một nghiệp vụ mua ngoại tệ trên thị trường của
NHTW làm giảm cung ngoại tệ do đó làm tăng tỷ giá hối đoái và ngược lại. Do đó đây là
công cụ có tác động mạnh lên tỷ giá hối đoái.
Nghiệp vụ thị trường mở nội tệ là việc NHTW mua bán có chứng từ có giá. Tuy
nhiên nó chỉ tác động gián tiếp đến tỷ giá mà lại có tác động trực tiếp đến các biến số kinh
tế vĩ mô khác (lãi suất, giá cả). Nó được dùng phối hợp với nghiệp vụ thị trường mở ngoại
tệ để khử đi sự tăng, giảm cung nội tệ do nghiệp vụ thị trường!mở gây ra.
Ngoài ra Chính phủ có thể sử dụng biện pháp can thiệp hành chính như biện pháp
kết hối, quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử
dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời gian mua
ngoại tệ, nhằm giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và giữ cho tỷ giá ổn định.
b. Nhóm công cụ gián tiếp
Lãi suất tái chiết khấu là công cụ hiệu quả nhất. Cơ chế tác động đến tỷ giá hối đoái
của nó như sau: Khi lãi suất chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi
suất trên thị trường. Từ đó tác động đến xu hướng dịch chuyển của dòng vốn quốc tế làm
thay đổi tài khoản vốn hoặc ít nhất làm cho người sở hữu vốn trong nước chuyển đổi đồng
vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi vốn của mình
sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái. Cụ thể lãi suất
tăng dẫn đến xu hướng là một dòng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào
trong nước và người sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có xu hướng chuyển đồng ngoại tệ
của mình sang nội tệ để thu lãi suất cao hơn do đó tỷ giá sẽ giảm (nội tệ tăng) và ngược lại
muốn tăng tỷ giá sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu.
Muốn giảm tỷ giá hối đoái thì Chính Phủ có thể quy định mức thuế quan cao, quy
định hạn ngạch và thực hiện trợ giá cho những mặt hàng xuất khẩu chiến lược. Và ngược
lại sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái.
Ngoài ra Chính Phủ có thể sử dụng một số biện pháp khác như điều chỉnh tỷ lệ dự
trữ bắt buộc bằng ngoại tệ với NHTW, quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền
gửi bằng ngoại tệ. Mục đích là phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm
áp lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối.

Năm
Tỉ giá USD/VND
Lạm phát
Giá chính thức
của nhà nước
Giá thị trường
tự do
Tăng giảm %
1989 4.200 4.570 +8.80 +34.070
1990 6.650 7.550 +13.50 +67.50
1991 12.720 12.550 -0.02 +68.00
1992 10.720 10.500 -0.02 +17.50
1993 10.835 10.736 -0.01 +5.20
Bảng số liệu trên cho chúng ta thấy, tỷ giá VND/USD qua các năm có biến động
lên xuống. Tuy nhiên tổng quát mà nói, trong khoảng thời gian này, tỷ giá VND/USD có
khuynh hướng tăng và được nhà nước điều chỉnh sát với giá thị trường tự do, điều này
chứng tỏ nhà nước bắt đầu thả nổi tỷ giá, quan hệ cung cầu ngoại tệ đã được quan tâm
đầy đủ hơn, tuy nhiên sự thả nổi tỷ giá đã:
- Kích thích tâm lý đầu cơ ngoại tệ, nhằm mục đích hưởng chênh lệch giá.
- Tình trạng tỷ giá thường xuyên đột biến và thiếu ngoại tệ đã gây nên những cơn
sốc USD làm mất ổn định nền kinh tế.
- Quản lý ngoại tệ của chính phủ không đạt được kết quả như mong muốn.
- Nhà nước không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ. Tình trạng leo thang của giá
đồng Đôla đã kích thích tâm lý dự trữ Đôla. Ngoại tệ vốn đã khan hiếm lại không được
dùng cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn bị buôn bán vòng vèo giữa các tổ chức trong
nước. Mọi cố gắng quản lý ngoại tệ của chính phủ ít đem lại kết quả, thậm chí có những
quyết định của chính phủ về quản lý ngoại tệ đã bị mất hiệu lực ngay khi vừa mới công
bố. Giai đoạn này, ngân hàng không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ.
Trước tình hình đó, từ năm 1992 chính phủ đã chọn con đường thay đổi cách quản
lý ngoại tệ và đổi mới cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái VND/USD. Nội dung chính của

3 sau đây:
Bảng 3: Số liệu xuất nhập khẩu qua các năm (đơn vị tính: triệu USD)
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu So sánh
1 2 3 4=3-2
1993 2.985 3.924 -939
1994 4.054 5.825 -1.771
1995 5.448,9 8.155,4 -2.706,5
1996 7.255 11.143 -3.888
(số liệu lấy từ nguồn thời báo kinh tế Sài gòn của UBND Thành phố HCM
qua các năm 1996-1997-1998)
Tình trạng nhập siêu liên tục trong giai đoạn này đã tác động xấu đến xuất khẩu và
khuyến khích nhập khẩu, gây thâm hụt cán cân thương mại dẫn tới tình trạng hoặc phải
tiêu giảm dự trữ ngoại hối quốc gia, hoặc phải vay nợ nước ngoài để bù đắp cán cân
thanh toán. Tuy cơ cấu nhập khẩu có thay đổi, tỷ trọng nhập máy móc thiết bị công nghệ
này càng tăng, nhưng nhập siêu vẫn kéo dài làm đất nước lún sâu vào nợ nần, khó khăn
cho nền tài chính quốc gia.
Trở lại bảng 2, ta thấy qua 4 năm phát triển kinh tế đất nước (1993 - 1996) tốc độ
lạm phát tăng tổng cộng là 36,8% trong khi tỷ giá VND so với USD chỉ tăng 2% đưa đến
thực tế giá bán hàng nội địa đã tăng trên 30% so với hàng nhập ngoại. Hàng nhập ngoại
đã trở nên rẻ hơn và được nhập vào thị trường nước ta với số lượng lớn cạnh tranh với
hàng nội địa, thể hiện qua sự gia tăng thâm hụt cán thương mại quốc tế của nước ta trong
những năm 1993-1996 từ nhập siêu 939 triệu USD năm 1993 lên 1,7 tỷ USD năm 1994
lên 2,7 tỷ USD năm 1995 lên 3,8 tỷ USD năm 1996 .
Đứng trước tình hình đó, ngay từ năm 1997 cho đến nay nhà nước đã có những chỉ
đạo:
+ Chỉ đạo xử lý nợ quá hạn từ năm 1994, hạn chế kịp thời tình trạng mở LC thanh
toán tràn lan và cuối năm 1996 thông qua khống chế mức mở LC At Sight là chủ yếu,
hạn chế mở LC trả chậm, xem xét cho nhập khẩu những mặt hàng cần thiết chủ yếu là
những mặt hàng về tư liệu sản xuất, dựa vào huy động vốn trung và dài hạn ngày càng
được nâng cao và huy động vốn bằng mọi biện pháp thông qua mức ký quỹ bắt buộc.

-Nguyên nhân nhập siêu trong thời gian qua là do Ngân hàng điều chỉnh tỷ giá bị
đông cứng, đúng là tỷ giá có tác động lớn đến xuất nhập khẩu bởi nó là giá cả của hoạt
động mua ( nhập khẩu ) và hoạt động bán 9 xuất khẩu). Tỷ giá đứng ( trên thực tế là giảm
so với biến động giá trong nước ) làm cho bán cũng rẻ mà mua cũng rẻ. Bán rẻ sẽ không
khuyến khích bán, mua rẻ sẽ khuyến khích mua. Mua thì được khuyến khích, bán thì bị
hạn chế, do đó đưa đến tình trạng nhập siêu. Ngoài ra còn nguyên nhân khác nữa là định
hướng xuất khẩu yếu, tình trạng nhập lậu tràn lan, trốn thuế chưa được quản lý chặt.
2.2 Ưu điểm và nhược điểm trong cơ chế điều hành
2.2.1 Lợi thế
Cơ chế điều hành tỷ giá trên qui định tỷ giá chính thức tạo điều kiện cho Ngân
hàng trung ương dễ dàng kiểm soát, điều tiết được thị trường hối đoái. Trước hết là thị
trường ngoại tệ trên Ngân hàng. Biên độ giao động quanh tỷ giá chính thức là một công
cụ hữu hiệu trong suốt giai đoạn vừa qua giới hạn này mà chúng ta đã đạt sự ổn định
tương đối của tỷ giá hối đoái trong những năm qua, góp phần không nhỏ để đạt mục tiêu
ổn định và tăng trưởng cho nền kinh tế.
- Thông qua tỷ giá của các Ngân hàng thương mại trong biên độ qui định. Ngân
hàng Nhà nước có thể dễ dàng nắm bắt được diễn biến cung - cầu ngoại tệ thực tế của
nền kinh tế, nhận biết được xu hướng vận động của tỷ giá hối đoái để có kế hoạch điều
chỉnh kịp thời. Qui định chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán cho các Ngân hàng
Thương mại, ở một mức độ nào đó, hạn chế khả năng đầu cơ tỷ giá của các Ngân hàng
tránh trường hợp tỷ giá mua và tỷ giá bán quá chênh lệch.
- Cơ chế tỷ giá thống nhất đã tạo ra một môi trường pháp lý vững chắc cho các
hoạt động kinh tế - thương mại trong tổng hoá các mối quan hệ của nền kinh tế. Đồng
thời tỷ giá chính thức tạo ra được một cơ sở pháp lý, mang tính chủ quyền cho đồng tiền
Việt Nam trong các quan hệ đối ngoại.
2.2.2 Nhược điểm
- Cơ chế công bố tỷ giá chính thức hàng ngày theo phương pháp hiện tại, đôi lúc
tỏ ra có nhiều khó khăn trong việc hướng thị trường, vận động theo mục tiêu Ngân hàng
Trung ương đặt ra. Trước những biến động của tỷ giá thị trường, việc thay đổi tỷ giá
chính thức ở một chừng mực nào đó không thể giải quyết ngay lập tức biên độ để cho

định này được. Thứ hai, khung qui định chênh lệch như vậy là tương đối chặt chẽ đối với
hoạt động kinh doanh. Bởi lẽ các Ngân hàng Thương mại đã phải xác định chênh lệch .tỷ
giá mua, bán phải tuỳ theo vào cung - cầu của mỗi Ngân hàng, tuỳ thuộc vào khả năng dự
tính về lợi nhuận và khả năng của mỗi Ngân hàng. Thực chất qui định chênh lệch tỷ giá
mua bán quá chặt chẽ như vậy không khuyến khích hoạt động trên thị trường theo đúng
các quan hệ nội tại của nó và phần nào không tạo ra một môi trường cạnh tranh hoàn hảo
trong kinh doanh.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP CHO CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM
3.1. Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Bước sang thế kỷ 21, xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên
mạnh mẽ. Sự hội nhập quốc tế của kinh tế Việt Nam thông qua cơ chế thị trường mở là
nhu cầu khách quan và tất yếu, từ đó đặt ra yêu cầu cấp bách về cải cách thể chế và pháp
luật, hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô nói chung, và chính sách tỷ giá hối đoái nói riêng.
Những năm vừa qua, chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam đã đạt được một số
thành tựu bước đầu, đặc biệt trong việc ổn định sức mua đối nội và đối ngoại của đồng
Việt Nam, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện cán cân thương mại và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, các nhân tố trong cơ chế
thị trường ngày càng phát huy tác dụng thì cơ chế điều hành chính sách tỷ giá hối đoái như
hiện nay mặc dù đã hoàn thiện căn bản, phù hợp với hướng phát triển thị trường mở nhưng
vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện hơn trong thời gian tới. Để góp phần khai thác tối đa
những lợi ích và giảm thiểu những rủi ro từ hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách tỷ giá hối
đoái Việt Nam trong thời gian tới cần hoàn thiện theo những định hướng cơ bản sau:
3.1.1. Chính sách tỷ giá phải được điều chỉnh linh hoạt và theo hướng thị
trường hơn.
Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập, việc cam kết thực hiện các
điều kiện của tự do hóa thương mại đòi hỏi phi cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế
quan, cùng với sự nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khi tham gia vào thị trường
quốc tế, các nhà sản xuất của Việt Nam sẽ gặp phải sự cạnh tranh mãnh liệt từ các nhà
cung ứng nước ngoài. Với tư cách là nước đi sau, mới tham gia vào thị trường quốc tế,
nhiều doanh nghiệp có thể đứng trước nguy cơ phá sản nếu như không có một sự bảo hộ

3.2. Giải pháp chính sách tỷ giá hối đoái Việt Nam
3.2.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng nhà nước trên thị trường
ngoại hối.
Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng cơ chế quản lý tỷ giá mới của Ngân hàng
nhà nước mà thị trường ngoại hối Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể. Sự thành công
của cơ chế mới thể hiện ở tỷ giá USD/VNĐ, cả trên thị trường chính thức và thị trường tự
do đã đạt đến trạng thái ổn định, ít biến động. Tình hình đó đã tác động tích cực đến hoạt
động xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, kiềm chế lạm phát… NHNN
đã có những can thiệp đúng lúc và hiệu quả, có thể nói là đã có vai trò lớn trong việc bình
ổn thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, vẫn còn có những rào cản cứng nhắc, những văn bản
pháp quy về điều hành tỷ giá chưa phù hợp, chồng chéo, NHNN vẫn cần phải có những
thay đổi tích cực hơn nữa tiến tới một cơ chế TGHĐ linh hoạt, theo hướng thị trường. Cụ
thể về các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của NHNN như sau:
+ NHNN tiếp tục và nhất quán thực hiện chủ trương điều hành tỷ giá linh hoạt, theo
hướng thị trường, chủ động can thiệp khi cần thiết.
Với vai trò là NHTW, hiện nay NHNN quản lý thị trường ngoại tệ chủ yếu thông
qua can thiệp mua bán, công bố tỷ giá bình quân giao dịch liên ngân hàng, quy định trần
tỷ giá giao ngay, tỷ lệ % gia tăng của tỷ giá kỳ hạn và các biện pháp quản lý ngoại hối.
Trong giai đoạn trước mắt thì các biện pháp này còn cần thiết, nhưng cần phải nới lỏng
từng bước vì các biện pháp này không phải lúc nào cũng hiệu quả, đôi khi lại trở thành
lực cản cho sự phát triển thị trường ngoại hối. Nhà nước không thể thay được vai trò của
thị trường ngoại hối trong xu thế hội nhập, mà Nhà nước chỉ can thiệp bằng các công cụ,
nghiệp vụ của mình, tránh xảy ra các cú sốc cho nền kinh tế.
Trước mắt, có thể nới ngay biên độ dao động từ mức ±0.25% lên ±0.5%, đồng thời
bỏ mức trần tỷ giá kỳ hạn. Điều này sẽ tạo điều kiện để các NHTM yết tỷ giá cạnh tranh
và tăng mức độ khách quan của tỷ giá. Về lâu dài, NHNN nên dỡ bỏ biên độ dao động và
không trực tiếp ấn định tỷ giá, mà chỉ tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối để tỷ
giá biến động có lợi cho nền kinh tế; chuyển hướng từ từ sang sử dụng công cụ lãi suất để
điều tiết thị trường ngoại tệ.
+ Việc can thiệp của NHNN cần phải diễn ra kịp thời với quy mô thích hợp.

của thị trường ngoại hối .
Tiến tới hoàn thiện thị trường ngoại tệ liên ngân hàng với đúng nghĩa là một “thị
trường thực sự” làm cơ sở xác định tỷ giá bình quân liên ngân hàng sát với cung- cầu
ngoại tệ trên thị trường. Thị trường ngoại tệ LNH là một cơ sở hạ tầng quan trọng để
NHNN can thiệp và điều hành tỷ giá, do đó thị trường ngoại tệ LNH phải hoạt động
thông suốt, liên tục, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian để tạo điều kiện cho
các ngân hàng trong hoạt động mua bán ngoại tệ, qua đó giải quyết nhanh chóng nhu cầu
thanh toán ngoại tệ cho các doanh nghiệp. Đồng thời có cơ chế ràng buộc các tổ chức tài
chính, tín dụng tham gia trên thị trường ý thức được trách nhiệm và quyền lợi của mình
để xây dựng một mô hình thị trường ngoại tệ liên NH hoàn thiện, điều tiết can thiệp mua,
bán ngoại tệ nhằm cân đối cung cầu và thực hiện chính sách tỷ giá theo định hướng của
Nhà nước.
Củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên NH với đầy đủ các nghiệp vụ hoạt động
của nó để tạo điều kiện cho NHNN phối hợp, điều hòa giữa hai khu vực thị trường ngoại
tệ và nội tệ một cách thông suốt.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy phù
hợp. Các văn bản pháp quy về điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối cần được rà soát lại,
thống nhất và đơn giản hoá, bãi bỏ những quy định không phù hợp hay chồng chéo.
Thông qua cơ chế chính sách, các biện pháp quản lý hành chính của Chính phủ có thể tác
động đến hoạt động của thị trường hối đoái, quản lý các nguồn ngoại tệ trôi nổi trên thị
trường, chống những hiện tượng đầu cơ, buôn bán trái phép ngoại tệ, góp phần ổn định
TGHĐ.
Đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, thông thạo ngoại ngữ,
có trình độ sử dụng các phưng tiện hiện đại phục vụ cho chuyên môn. Đầu tư các phương
tiện thông tin hiện đại để phục vụ công tác giao dịch trong nước và quốc tế cho các ngân
hàng.
3.2.3. Phá giá nhẹ đồng Việt Nam.
Nền kinh tế Việt Nam hiện đang ở tình trạng vừa thâm hụt cán cân tài khoản vãng
lai vừa có tình trạng thất nghiệp cao. Việc đánh giá cao đồng nội tệ sẽ là bất lợi vì đồng
nội tệ tăng giá thực tế có nghĩa là hàng Việt Nam trở nên đắt hơn so với hàng ngoại trên

khác.
Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách tỷ giá hối đoái đối với nền kinh
tế, cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá
và chính sách tiền tệ.
Cần duy trì chính sách tài khoá thận trọng và tiến hành điều chỉnh các chính sách
thuế. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và đàm phán ra nhập WTO, chính phủ cần
cắt giảm thuế quan, giảm thiểu và tiến tới xoá bỏ những hàng rào phi thuế quan đang cản
trở các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế. Trong chính sách chi tiêu cần phải có các
ưu tiên hợp lý hơn trong chi tiêu, loại bỏ những khoản chi không cần thiết, tăng tỉ lệ chi
đầu tư xây dựng cơ bản và có biện pháp hạn chế thất thoát lãng phí. Đảm bảo thâm hụt
ngân sách trong phạm vi có thể quản lý được, tức là ở mức có thể bù đắp được mà không
gây mất ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên chính sách tài khóa không nên thắt chặt quá
mức vì điều này sẽ gây tổn hại tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Bên cạnh đó, chúng ta cần tiến hành chuyển đổi các công cụ của chính sách tiền tệ
từ trực tiếp hiện nay sang gián tiếp nhằm điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt hơn, hiệu
quả hơn và ít gây tiêu cực đối với nền kinh tế. Hơn nữa, khi thị trường tiền tệ phát triển,
giá cả trên thị trường (lãi suất, tỷ giá …) được hình thành theo quan hệ cung cầu, các
nguồn vốn được phân bổ hiệu quả, thị trường không bị chia cắt sẽ tránh được tình trạng
mất cân bằng kinh tế vĩ mô. từ đó tăng tính hiệu quả của việc điều hành chính sách tiền
tệ.
Như vậy, việc hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái cần phối hợp đồng bộ nhiều
giải pháp, không chỉ từ hướng NHTW. Tuỳ theo điều kiện thực tế để lựa chọn công cụ,
hay biện pháp phù hợp, nhằm thực hiện một chính sách tỷ giá theo xu hướng chung và
đem lại hiệu quả tốt nhất.
MỤC LỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status