ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM VÀO THỜI KỲ PHONG KIẾN VÀ HIỆN NAY - Pdf 22

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ








TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
(SAU ðẠI HỌC) TÊN ðỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO ðẾN ðỜI SỐNG XÃ HỘI
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM VÀO THỜI KỲ
PHONG KIẾN VÀ HIỆN NAY


HỌC PHẬT GIÁO 2

1.1 Hoàn cảnh ra ñời của Phật giáo 2

1.2 Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo 4

1.2.1 Quan ñiểm của Phật giáo về thế giới quan 4

1.2.2 Quan ñiểm của Phật giao về nhân sinh 5

1.3 Quá trình Phật giáo du nhập vào nước ta 8

1.3.1 Nguồn gốc nguyên thủy từ Ấn ðộ của Phật giáo Việt Nam 8

1.3.2 Phật giáo ở giai ñoạn ñầu du nhập vào Việt Nam 11

1.3.3. Sự du nhập từ Phật giáo phương Bắc 13

Chương 2: ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO ðẾN ðỜI SỐNG XÃ HỘI CỦA
DÂN TỘC VIỀT NAM VÀO CÁC TRIỀU ðẠI PHONG KIẾN VÀ NGÀY
NAY 15

2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo trong các triều ñại phong kiến 15

2.1.1. Ảnh hưởng của Phật giáo dưới thời ðinh, Tiền Lê 15

Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang ii
2.1.2. Ảnh hưởng của Phật giáo dưới thời nhà Lý 17


trong ñó có những nghiên cứu rất sâu sắc, rất cạn kẻ và cũng không ít nghiên cứu
chỉ ñể làm thêm hơn về vấn ñề nào ñó nhằm giải ñáp các thắc mắc sai lệch của ñại
ña số người dân. Không những thế, trong công cuộc giữ nước, chống các âm mưu
xiên tạt của kẻ thù, với mục ñich lợi dụng tôn giáo ñê gây mất ñoàn kết, chia rẽ nội
bộ dân tộc thì trong các lớp dân quân tự vệ hay tự vệ cơ quan Phật giáo cũng ñược
lòng ghép vào dạy trong các buổi học chính trị. ðiều này cho ta thấy ñược một
ñiều quan trọng là Phật giáo không chỉ tác ñộng ñến ñời sống tinh thần, vật chất
mà còn ảnh hưởng ñến sự ổn ñịnh về chính trị, ñời sống nhân dân và của cả ñất
nước ta.
Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang 2
3. Mục ñích và nhiệm vụ của ñề tài
Tìm hiểu ảnh hưởng Phật giáo ñến ñời sống xã hội của dân tộc Việt Nam
trong thời kỳ phong kiến và hiện nay một mặt tìm hiểu về phật giáo, một tôn giáo
lớn và xuất hiện lâu ñời của thế giới cũng như của Việt Nam. Mặt khác tìm ra các
tác ñộng của Phật giáo ñối với ñối với Việt Nam như thế nào, và từ những tác
ñộng ñó nhân dân và ðảng ta ñã xây dựng phát triển nên nền Phật giáo Việt Nam
như thế nào ñể tạo niềm tin cho nhân dân ñể nhân dân yên tâm sản xuất phát triển
kinh tế xã hội.
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận này ñược thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, ñược xây dựng tuân thủ theo nguyên tắc
thống nhất và logic trong tiến trình lịch sử, tìm hiểu trên nền tảng lịch sử và các tài
liệu ghi chép của các nhà nghiên cứu trước. ðồng thời tiểu luận cũng sử dụng các
phương pháp diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, so sánh, chứng minh khái quát hóa
nhằm hoàn thành yêu cầu ñặt ra.
B. NỘI DUNG
Chương 1: HOÀN CẢNH RA ðỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
1.1 Hoàn cảnh ra ñời của Phật giáo

ñể xuất gia. Ngài xuất gia vào ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch.
Sau khi xuất gia, Ngài ña theo học ñạo với ðạo sư A-La-La, Ngài ñã
chứng thiền Vô Sở Hữu Xứ. Rồi học với ðạo sư Uất-ðầu-Lam-Phất, Ngài ñã
chứng quả vị Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Sau ñó Ngài theo con ñương tu hành
khổ hạnh nhưng vẫn không ñạt kết quả mà còn bị ñe dọa ñến tánh mạng bởi bệnh
tật và ñói rét. Ngài ñã thọ dụng bát cháo sữa của cô bé Sujata, trở lại con ñường
trung ñạo ñể tu hành.
Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang 4
Thái tử ñã ngồi nhập ñịnh suốt 49 ngày ñêm dưới cội Bồ-ñề. Phương pháp
hành thiền ñưa ñến giác ngộ gồm bốn giai ñoạn nhập ñịnh là: Sơ thiền, Nhị thiền,
Tam thiền và Tứ thiền. Trong ñêm thứ 49 Ngài chứng ñược Tam minh (tức là Túc
mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh). Lúc ñó nhằm ngày mùng 8 tháng
12 âm lịch, khi ấy Ngài 30 tuổi.
Từ ñó Ngài cùng các ñệ tử của mình (là các người bạn ñồng tu tại vườn
Nai và một số người giác ngộ khác) ñi khắp nơi ñể truyền ñạo và Ngài ñược suy
tôn với nhiều danh hiệu khác nhau như: ðức Phật (Buddha), Người giác ngộ hay
Thích ca mâu ni (Sakynmuni), Thánh Thích ca (vị thánh dòng họ Thích ca). Vào
ngày rằm tháng hai năm 544 âm lịch trước Công nguyên Ngài ñã nhập Niết Bàn
tại rừng Sa-la ở xứ Câu –ly, cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm. Khi ñó Ngài ñã
80 tuổi.
1.2 Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo
Tư tưởng triết học Phật giáo ban ñầu chỉ là truyền miệng, sau ñó ñược viết
thành văn với thể thức kinh và ñược gọi là: “Tam tạng kinh”, gồm 3 tạng kinh ñiển
là: Tạng kinh, Tạng luật và Tạng luận, trong ñó thể hiện các quan ñiển về thế giới
quan và nhân sinh.
1.2.1 Quan ñiểm của Phật giáo về thế giới quan
Quan ñiểm về thế giới quan của Phật giáo ñược thể hiện tập trung ở nội
dung của ba phạm trù là: vô ngã, vô thường và duyên.
- Quan ñiểm “vô ngã” (không có cái “ta” cái “tôi” chân thực): Phật giáo

giới. Phật giáo cho rằng con người và sự vật ñược cấu thành từ các yếu tố vật chất
và tinh thần, các sự vật của thế giới nằm trong quá trình biến ñổi không ngừng. ðó
là quan ñiểm duy vật biện chứng về thế giới, mặc dù còn chất phác, mộc mạc
nhưng rất ñáng chân trọng.
1.2.2 Quan ñiểm của Phật giao về nhân sinh
Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang 6
Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo ñược thể hiện tập trung gồm:
“Nghiệp”, thuyết “Tứ diệu ñế” và “Ngũ giới”.
* Nghiệp báo:
Là một ñịnh luật nhân quả trong vấn ñề luân lý, hay như người phương
Tây thường nói là “ảnh hưởng của hành ñộng”. Phật giáo không nhìn nhận có một
linh hồn trường cữu ñược tạo nên một cách ngẫu nhiên và ñộc ñoán. Phật giáo tin
có ñịnh luật và công lý thiên nhiên không phải do một ñấng thượng ñế toàn năng
hay một ðức Phật ñại từ ñại bi tạo nên.
Theo nghiệp báo chúng ta không nhất ñịnh trói buộc một hoàn cảnh nào vì
nghiệp báo không phải là số mạng cũng không phải tiền ñịnh do một uy lực huyền
bí nào ñó ñịnh ñoạt cho ta một cách bất khả kháng. Chúng ta có ñủ khả năng ñể
chuyển phần nào cái nhiệp theo ý muốn của chúng ta.
Nghiệp không nhất thiết là hành ñộng trong quá khứ mà thôi mà nó bao
trùm cả quá khứ và hiện tại, nó nói lên quá khứ chúng ta hành ñộng như thế nào và
trong tương lai chúng ta sẽ như thế nào cũng tùy thuộc vào hành ñộng chúng ta
trong hiện tại.
Tóm lai: tất cả nghiệp lực tùy thuộc vào nơi biến ñổi của tâm lực, và luôn
luôn sẵn sàng phát hiện trong muôn ngàn hiện tượng mỗi khi có cơ hội. Nghiệp là
năng lực cá biệt ñược chuyển từ kiếp này sang kiếp khác. Nghiệp thủ vai trò quan
trọng trong việc cấu tạo nên tâm tính con người, nghiệp giải thích hiện tượng mà
ta gọi là vĩ nhân, thiên tài, thần ñồng….
* Tứ diệu ñế:
- Một là khổ ñế: Là triết lý về cuộc ñời của mỗi con người là một bể khổ,

Trang 8
-Bốn là ñạo ñế: Là con ñường tu ñạo ñể hoàn thiện ñạo ñức cá nhân, ñó
cũng là con ñường giải thoát khỏi nỗi khổ ñể ñạt tới hạnh phúc. Phật giáo ñưa ra
tám con ñường chân chính gọi là“Bát chính ñạo”.
1. Chính kiến: Là hiểu ñúng ñắn tứ diệu ñế;
2. Chính tư duy: Là suy nghĩ ñúng ñắn;
3. Chính ngữ: Nói năng phải ñúng ñắn;
4. Chính nghiệp: Giữ nghiệp một cách ñúng ñắn, không làm việc xấu, nên
làm việc thiện;
5. Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng ñúng ñắn;
6. Chính tinh tiến: Cố gắng nỗ lực ñúng hướng;
7. Chính niệm: Là tâm niệm tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát;
8. Chính ñịnh: Là kiên ñịnh, tập trung tư tưởng cao ñộ mà suy nghĩ về tứ
diệu ñế, về vô ngã, vô thường.
Theo con ñường bát chính ñạo nói trên, con người có thể diệt trừ ñược vô
minh, ñạt tới sự giải thoát, nhập vào Niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng
suốt, chấm dứt sinh tử luân hồi.
* Ngũ giới
Phật giáo ñưa ra năm ñiều răn ñể mỗi người chủ ñộng thực hiện nhằm ñem
lại lợi ích cho mình và cho mọi người ñó là “Ngũ giới”: bất sát (không ñược sát
sinh); bất dâm (không ñược dâm dục); bất vọng ngữ (không ñược nói năng thô tục,
bậy bạ); bất ẩm tữu (không ñược rượu trà); bất ñạo (không ñược trộm cướp). Năm
ñiều này dựa trên quan niệm từ bi bác ái, bình ñăng trên phương diện từ bỏ tội lỗi
cá nhân mà ñem lại trật tự an vui cho xã hội.
1.3 Quá trình Phật giáo du nhập vào nước ta
1.3.1 Nguồn gốc nguyên thủy từ Ấn ðộ của Phật giáo Việt Nam
Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang 9
Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản ñầu tiên thật
ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là ñược truyền sang trực tiếp từ

xa lạ với những chuẩn mực ñạo ñức, xã hội của Khổng, Lão. Do ñó mà Phật giáo
rất khó ñể có thể thâm nhập. Người Hán muốn ñưa Phật giáo vào, sau ñó ñã phải
mượn thuyết “hóa Hồ” ñể dễ dàng hơn trong việc thực hiện công việc này. Trong
khi ñó, ở Giao Châu, Phật giáo xem ra rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian, nên
việc thâm nhập không gặp trở ngại, mà lại còn dễ dàng và nhanh chóng.
Vào thời ñó, dù từ Trung Hoa ñã có con ñường bộ ñi ñến Ấn gần hơn
ñường biển, nhưng con ñường xuyên qua Trung Á lại chứa ñựng nhiều hiểm nguy,
và ñường biển lại là con ñường an ninh hơn, không có núi non, sa mạc, hay cướp
bóc, giết chóc. Bằng chứng là vào ñầu thế kỷ thứ IV, con ñường bộ ñã dễ ñi hơn,
nhưng ñến cuối thế kỷ này, Pháp Hiển mới từ Trung Hoa sang Ấn, và ñến tận thế
kỷ thứ VII, Huyền Trang ñã phải trải qua không biết bao nhiêu gian nan mới ñi
trọn vẹn con ñường.
Ngoài ra còn có hai chứng liệu rất quan trọng cho nguồn gốc rất sớm của
Phật giáo Việt Nam. Thứ nhất, tập luận thuyết Phật giáo ñầu tiên bằng Hán tự, Lý
Hoặc Luận của Mâu Tử năm 198 ñã ñược viết ở Giao Chỉ, chứ không phải ở một
nơi nào khác sâu trong nội ñịa Hán. Thứ hai, vào thế kỷ thứ II, ở Giao Chỉ ñã có
một tăng ñoàn ñến 500 vị và khoảng 15 bộ kinh, trong khi ñến thế kỷ thứ III ở Hán
mới có tăng ñoàn.
Cũng do Phật giáo ñã ñược truyền trực tiếp từ Ấn ðộ vào Việt Nam ngay
từ ñầu công nguyên nên từ Buddha tiếng Phạn ñã ñược phiên âm trực tiếp sang
tiếng Việt thành Bụt. Phật giáo lúc này mang màu sắc Tiểu thừa Nam tông. Và
trong con mắt của người Việt Nam nông nghiệp, Bụt như một vị thần luôn có mặt
ở khắp nơi, sẵn sàng xuất hiện cứu giúp người tốt và trừng trị kẻ xấu. Sau này,
sang thế kỷ IV – V, lại có thêm luồng Phật giáo ðại thừa Bắc tông từ Trung Hoa
Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang 11
tràn vào. Chẳng mấy chốc, nó ñã lấn át và thay thế luồng Nam tông có từ trước ñó.
Từ Buddha vào tiếng Hán phiên âm thành Phật; từ ñây từ Phật dần dần thay thế
cho từ Bụt: Bụt chỉ còn trong các quán ngữ với nghĩa ban ñầu (ví dụ: Gần chùa gọi
Bụt bằng anh), hoặc chuyển thành nghĩa ông tiên trong các truyện dân gian (như

kinh Phạn. Quan niệm về nghiệp báo, luân hồi là ở sự làm lành gặp lành. Người ta
cũng quan niệm về từ bi, về công ñức. Làm công ñức cho kiếp sau ñược tốt ñẹp là
dâng thức ăn cho tăng môn, bố thí cho người nghèo khó. Quan niệm tiết dục cũng
là ở chỗ bỏ bớt những hưởng thụ cho riêng mình, ñể cho người khốn khó.
Vào thế kỷ thứ II, sự thâm nhập của Phật giáo ñã ở vào một giai ñoạn mới.
ðã hình thành tăng ñoàn, công việc hành ñạo từ ñó mà cũng ñi vào tổ chức, các
tăng sĩ bắt ñầu dịch kinh, sáng tác, chùa chiền cũng ñã ñược xây cất. Ở thế kỷ này,
sự hành ñạo cũng gặp một ít trở ngại từ phía những người ủng hộ Khổng, Lão.
Tuy nhiên, ñiều ñó không thể ngăn cản ñược ảnh hưởng của Phật giáo vì nó ñã
thâm nhập vào dân gian.
Tích Quang và Nhâm Diên là hai thái thú của hai quận Giao Chỉ và Cửu
Chân. Hai người này ñã ñẩy mạnh việc truyền bá văn hóa Hán cả trong sinh hoạt
kinh tế, phong tục tập quán, lẫn trong việc giáo dục, văn học. ðến ñời thái thú Sĩ
Nhiếp thì Hán học phát triển rất mạnh, nhưng chính ñiều này lại ñóng vai trò lớn
trong việc truyền bá tư tưởng, văn hóa Phật giáo. Việc ra ñời của Lý Hoặc Luận,
hay Kinh Tứ Thập Nhị Chương, những tác phẩm Phật học viết bằng Hán tự, là
minh chứng cho ñiều này.
Những kinh ñiển ñầu tiên ñược phiên dịch (như Tứ Thập Nhị Chương) là
ñã nhắm vào người xuất gia, chứ không phải vào quần chúng Phật tử trong dân
gian, do xuất phát từ một thực tế là sự du nhập và ñịnh hình Phật giáo giai ñoạn
này ñã mang tính học thuật chuyên sâu hơn. ðiều này cũng ñược thể hiện thông
qua hệ thống quan niệm giáo lý ñã mang nhiều nét kinh kệ hơn trước.
Quan niệm về Phật thì vẫn nối tiếp tín ngưỡng bình dân về Phật trong thế kỷ trước,
Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang 13
nhưng ñã mang màu sắc Hán hơn khi những khái niệm của Khổng, Lão ñược ñưa
vào. Trong Lý Hoặc Luận, Phật ñã ñược trình bày như nguyên tổ của ðạo và ðức
nhưng vẫn mang màu sắc biến hóa thần thông. Về Pháp, giới Phật tử trí thức có
cách quan niệm gần với “ñạo” (sau thành “ñạo pháp”). Trong giới Phật tử dân dã,
pháp vẫn là phép Phật, là phép tam quy, ngũ giới, cúng dường. Tăng ñồ thì coi ñạo

Hội có một vai trò lớn ñến ñâu thì sử sách cũng ghi nhận rằng trong thế kỷ này,
các kinh sách về thiền ñã ñược ñem từ Lạc Dương xuống, và Tăng Hội cũng là
một người ñã học tập, lĩnh hội ñược tư tưởng Phật giáo ðại thừa Trung Hoa.
ðại thừa (Mahayana) hoàn toàn không xa rời Phật pháp, nhưng về chủ
trương, nó khác với Tiểu thừa (Hinayana) vốn xuất phát từ Phật giáo Nguyên thủy
(Thérévada). ðại thừa không cố chấp vào kinh ñiển, trong khi Tiểu thừa thì phải
nhất nhất bám sát vào ñó. ðại thừa chủ trương “tự giác” và “giác tha”, tức giác
ngộ cho chính mình và cho người khác, trong khi Tiểu thừa chỉ nhắm vào việc
giác ngộ cho bản thân. Tiểu thừa chỉ thờ một Phật Thích Ca và bậc tu cao nhất là
ñến La Hán. ðối với ðại thừa, họ thờ nhiều Phật, và bậc tu cao nhất lên ñến Bồ
Tát. Có thể nói những quan niệm, chủ trương của ðại thừa - một trong những tông
phái lớn nhất của Phật giáo (một tông phái lớn khác là Kim Cang thừa) có xuất
phát ñiểm từ Trung Hoa, ñã có một sự thâm nhập mạnh mẽ xuống phương Nam kể
từ thế kỷ thứ ba trở ñi, ñể lại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo,
cũng như trong tín ngưỡng dân gian.
Sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau ñó còn ñược thể hiện ở việc
các thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có vị trí lớn trong lịch
sử Phật giáo Việt Nam, ñều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu Phật giáo Trung Hoa.
Thiền sư Tỳ Ni ða Lưu Chi (sống vào thế kỷ thứ VI), người sáng lập ra
thiền phái mang tên ông, truyền ñến 19 ñời, ñến ñầu thế kỷ XIII, là một người gốc
nam Thiên Trúc, vân du về phía ñông bắc (562), tiếp xúc với Phật giáo Trung Hoa
và hành ñạo tại ñây, ñến năm 580 thì vào nước ta.
Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang 15
Năm 820, thiền sư Vô Ngôn Thông

sinh năm 759 tại Quảng Châu, Trung
Quốc
,
từ nội ñịa Trung Hoa xuống Giao Châu và sáng lập thiền phái này.

chọn ngày cho việc xây cất, khai trương làm ăn… Giới tăng sĩ vốn là thành phần
có học thức, lại không thuộc thành phần thống trị, gần gũi với dân chúng, nên có
ñược sự cảm thông, chia sẻ nỗi khổ của người dân trong cảnh ñô hộ. Và từ ñó nhà
chùa ñã thực sự trở thành nơi hun ñúc lòng yêu nước, một trung tâm của ý thức và
niềm tin vào ñộc lập dân tộc, có sức ảnh hưởng rộng khắp trong dân gian. Ngay
trong thời kỳ tiền ñộc lập, Phật giáo ñã ñóng một vai trò rất lớn về mặt tinh thần, ý
chí trên bước ñường ñấu tranh của dân tộc.
Sau Ngô Quyền, các triều ñại ðinh, Tiền Lê, Lý ñã nỗ lực xây dựng một
quốc gia ñộc lập về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, và ñóng góp của
Phật giáo trong buổi ñầu này rất quan trọng.
Vào thời ðinh, Lê, thiền phái Tỳ Ni ða Lưu Chi ñã truyền ñến ñời thứ 11,
12, và ảnh hưởng của họ trong dân gian vẫn rất mạnh. Những thiên chức xã hội mà
nhà Phật ñã gánh vác trong những thế kỷ vừa qua, nay vẫn tiếp tục. Mặt khác triều
ñình cũng biết trọng dụng họ, xem những cao tăng uyên bác như những cố vấn, có
thể bàn luận, giải quyết những vấn ñề chính sự.
Thiền phái Tỳ Ni ða Lưu Chi vốn mang nhiều yếu tố Mật giáo. Mật giáo
quan niệm trong vũ trụ có một lực lượng siêu nhiên mà nếu biết sử dụng, người tu
hành sẽ bước mau trên con ñường thành ñạo, có thể là tức thời. Mật giáo chú trọng
cúng bái, thần chú, ấn quyết. Thêm vào ñó, sấm vĩ, phong thủy cũng là một yếu tố
của Phật giáo Việt Nam trong một thời kỳ dài. Sấm vĩ là sự suy trắc về tương lai
trên cơ sở âm dương, ngũ hành tương khắc. Phong thủy là môn thuật xem xét ñịa
thế trong tương quan với thành bại, vận mệnh của công việc, con người, quốc gia,
trên cơ sở sự sắp xếp tinh tú trên bầu trời và “long mạch” trên mặt ñất. Chính sự
kết hợp của Mật giáo, sấm vĩ, phong thủy ñã ñẩy mạnh vai trò xã hội của Phật giáo
Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang 17
trong những thế kỷ trước khi giành ñược ñộc lập, và ngay cả ở buổi ñầu của kỷ
nguyên này.
Sự thực hành, trì chú Mật giáo rất phổ biến ở thời ðinh và Tiền Lê. Vào
năm 1965, tại làng Trường Yên thuộc kinh ñô Hoa Lư cũ, ñã tìm thấy một bia ñá

Các tăng sư Phật giáo cũng trực tiếp tham dự chính sự qua việc trực tiếp
thiết lập các kế hoạch, thảo văn thư, tiếp sứ thần, bàn luận cả những vấn ñề về
quân sự. Tuy can dự vào chính sự nhưng tăng sư Phật giáo không hề chủ trương
tham gia chính quyền, nên sau ñó, khi triều ñình ñã vững mạnh hơn, có thể tự
mình gánh vác tất cả, thì họ lại tự nhiên lui về với chức năng vốn có của mình, là
hướng dẫn tinh thần và ñạo ñức, lui về với việc tu ñạo của mình khi nhiệm vụ ñối
với quốc gia, với quảng ñại quần chúng ñã hoàn thành.
Phật giáo thời Lý cũng có ảnh hưởng rất lớn lên văn hóa - nghệ thuật.
Về phương diện học thuật, Phật giáo Việt Nam giai ñoạn này, mà chủ thể
là các tăng sĩ, thiền sư, ñã có công ñào tạo một lớp trí thức có trình ñộ uyên thâm
cả Phật, Nho, Lão, nhưng lại không cố chấp và biết dung hợp những dị biệt giữa
ba hệ thức triết lý này. Nhiều thiền sư am tường cả tam giáo (Khuông Việt, Vạn
Hạnh, ðạo Hạnh, Viên giác, Mẫn Giác…), và sẵn sàng truyền thụ cho các môn ñệ
những tinh túy của các quan niệm chính trị - xã hội của Nho giáo. Khi nghị bàn
chính sự họ cũng sẵn sàng sử dụng lý luận Nho học. Kiến thức Nho ñược sử dụng
theo tinh thần Phật giáo ñã ñóng góp khá nhiều cho học thuật và chính trị ñời Lý.
Dưới sự tác ñộng, hướng dẫn tinh thần của các thiền sư, Phật giáo dưới
thời Lý ñã tạo dựng một bản sắc văn hóa chính trị ñầy tính nhân bản. Nhà Lý ñã
ñược xem như một triều ñại thuần từ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Các
vị vua của triều ñại này có cuộc sống ñạo ñức và tâm linh. ðã không có cảnh tranh
ñoạt, bạo loạn, cực hình, mà thay vào ñó bằng một ñường lối chính trị khoan dung,
ñộ lượng, từ bi với thần dân và với cả kẻ thù (vua Lý Thái Tông tha tội cho Nùng
Trí Cao, vua Lý Thánh Tông không giết Chế Củ, vua Chiêm Thành). Xã hội vì ñó
Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang 19
mà bình an, phú cường, ñoàn kết, tạo nên những chiến tích trước Chiêm Thành
phía Nam và cả Tống quốc hùng mạnh phương Bắc.
Phật giáo giai ñoạn này cũng có những ñóng góp to lớn ñối với sinh hoạt
văn học. Văn học Phật giáo ñã trở thành dòng văn học chủ ñạo của thời này.
Những công trình kiến trúc và ñiêu khắc Phật giáo cũng ñóng góp những

Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) lại là một chân truyền chính thức ñời
thứ sáu của Yên Tử, ông xuất gia năm 1299, sau 21 năm làm vua, lấy hiệu là Trúc
Lâm ðầu ðà [3] . Ông là người có công ñầu trong việc xây dựng một giáo hội
hoàn toàn thống nhất, chính thức dựng nên thiền phái Trúc Lâm chủ trương nhập
thế.
Tư tưởng Phật học của thiền phái Trúc Lâm có thể có những biến thể ít
nhiều khác nhau, trình bày khác nhau, nhưng tựu trung có thể xem tư tưởng của
Tuệ Trung Thượng Sĩ, là ñiển hình nhất, ñộc ñáo nhất. Người này ñã phát triển
học thuật của Yên Tử theo khuynh hướng thực chứng, không cố chấp vào kinh kệ,
ñiển tự. Ông quan niệm giáo lý, việc học ñạo không phải ở lý thuyết, mà là ở tồn
tại của chính mình, hãy quay về chính bản thân mình, không phải ñi tìm kiếm ở
Phật tổ. Ông nổi tiếng ở những quan niệm trái ngược với thái ñộ cả chấp, như từng
giảng rằng “sắc chẳng phải không, không chẳng phải sắc”. Ông cũng phê phán
rằng khi ñặt ra vấn ñề giải thoát chính là ñã dựng lên ranh giới giữa phiền trượt và
giải thoát, giữa mê và ngộ, giữa phàm và thánh, giữa sinh tử và niết bàn. Chính sự
“nhị kiến”này làm ta bị bó buộc vào vòng sinh tử, khiến người ta mãi mãi là kẻ
phàm nhân. Ông cũng ñả kích sự cả chấp trong việc thực hành trì giới. Theo ông,
sự siêu việt vượt lên trên tội - phúc khi trì giới là ở chỗ không có sự ràng buộc vô
ích vào nó. Với những quan niệm như vậy, quả thật vị thiền sư này ñã khai mở
một ñường hướng mới sâu sắc, uyên thâm ñích thực trong Phật học Việt Nam.
Trong buổi ñầu nhà Lý, các thiền sư còn can dự trực tiếp vào công việc
chính sự. Triều ñình cần ñến sức học, tài ngoại giao, khả năng giáo dục, sự liên kết
Trường ðại học Cần Thơ Tiểu luận Triết học Sau ñại học
Trang 21
nhân tâm của họ. Nhưng ñến ñời Trần, tình hình ñã khác ñi. Các vua Trần là
những người có tri thức, lại uyên bác Phật học. Nhưng dù vị trí trực tiếp trong
công việc chính sự của các tăng sĩ không còn nữa, Phật giáo lại vẫn phát triển rực
rỡ hơn bao giờ hết, ảnh hưởng trực tiếp lên chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội ñời
Trần, trở thành một tinh thần dân tộc thời bấy giờ.
Với sự việc vua Trần Thái Tông chuyên tâm học Phật, vua Trần Nhân

tâm thiền quán.
Sinh hoạt Phật giáo cũng là một nét ñáng kể trong ñặc ñiểm văn hóa thời
kỳ này. Việc vua Nhân Tông (người ñã ñánh bại quân Nguyên, ñem thịnh trị, an
bình về cho xã tắc) xuất gia, khiến cả nước hướng về ngọn núi Yên Tử, việc tu
luyện Phật pháp thật sự sôi nổi trong nước. Chùa, tháp mọc lên khắp nơi, khiến
Nho gia Lê Bá Quát ñã than rằng dân chúng chỉ lo lập chùa mà không lo lập
trường học, văn miếu. Sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thì nói “số người
cắt tóc làm tăng ni cũng bằng nửa số dân thường”. Tất nhiên thực tế khó mà ñến
mức như vậy, nhưng ñiều ñó cho thấy tầm mức quá sức rộng lớn của sinh hoạt
Phật giáo lúc ñó, ñến nỗi, ý thức ñược nguy cơ tăng sĩ quá ñông mà không thủ trì
nghiêm túc giới luật sẽ dẫn ñến suy vong của chính giáo hội, phái Trúc Lâm ñã in
Tứ Thần Luật và tổ chức học tập cho giới tăng sĩ về giới luật, ñịnh ra những quy
chế rõ ràng trong việc tổ chức, sinh hoạt, quản lý giáo hội.
Vào thời này nhà chùa cũng ñã thực sự trở thành một lực lượng kinh tế.
ðiều này cũng dễ hiểu trước sự ủng hộ của triều ñình và thế lực chính trị, xã hội,
tinh thần của Phật giáo. Chùa chiền khắp nơi ñã chiếm hữu nhiều ruộng ñất. Sử
sách còn ghi lại là ruộng ñất ñược dâng tặng rất nhiều cho các chùa Báo Ân,
Quỳnh Lâm, Sùng Nghiêm, Vĩnh Nghiêm, Thanh Mai, Côn Sơn, là những chùa
lớn thời ñó. Riêng chùa Quỳnh Lâm ñã có hơn 1.000 mẫu ñất và có tới 1.000
người làm ruộng. Lợi tức thu ñược từ ñây có lẽ ñã ñược sử dụng vào Phật sự và
tăng sự của toàn giáo hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status