Thảo luận về mô hình ngân hàng trung ương ở Việt Nam - Pdf 22

B GIO DC V ĐO TO
TRƯỜNG ĐI HỌC KINH TẾ THNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THẢO LUẬN VỀ MÔ HÌNH NGÂN
HÀNG TRUNG ƯƠNG Ở VIỆT NAM
TP.HCM, tháng 3 năm 2014
1
HỌ V TÊN LỚP
HUỲNH ĐĂNG KHOA KD001
NGUYỄN THỊ THÙY TRANG KD003
VŨ THỊ LAN PHƯƠNG KD003
NGUYỄN NGỌC DIỄM PHƯƠNG KD001
LÊ HONG H PHƯƠNG KD003
HONG THỊ THẢO KD002
ĐỖ THỊ HỒNG NHUNG KD003
TRẦN NGỌC NH KD001
LÊ THANH SƠN KD001
TRƯƠNG MINH NHỰT KD003
Đề tài tiểu luận:
Thảo luận về mô hình ngân hàng trung ương tại Việt Nam.
A. Tầm quan trọng của đề tài:
2
Will Rogers - một nhà văn hài hước người Mỹ từng nói: “There have been three
great inventions since the beginning of time: fire, the wheel, and central banking” (tạm
dịch là: “Có 3 phát minh vĩ đại từ khi bắt đầu sự sống của loài người: lửa, bánh xe và Ngân
hàng Trung ương”). Hàm ý sâu xa của câu nói này cho thấy Ngân hàng Trung ương
(NHTW) có tầm quan trọng như thế nào trong lịch sử phát triển của loài người.
Nếu hệ thống ngân hàng được ví là huyết mạch thì Ngân hàng Trung ương chính là

2. Hoạt động mở tài khoản, thanh toán và gây quỹ. 16
3. Hoạt động ngoại hối. 16
V. Những đóng góp của NHTW Việt Nam đối với nền kinh tế. 17
1. Đóng góp của NHTW. 17
2. Thành tựu đã đạt được. 18
4
3. Những cơ hội. 19
4. Thách thức. 20
VI. Phân tích chuyên sâu. 21
Thảo luận về vấn đề: “ Mô hình nào cho NHTW Việt Nam?”
1. Mô hình ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ. 21
2. Mô hình ngân hàng trung ương phụ thuộc chính phủ. 22
3. Thảo luận và một số ý kiến đánh giá của các chuyên gia. 23
C. Các nguồn tham khảo 26
I. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của NHTW Việt Nam.
1. Các giai đoạn hình thành và phát triển của NHTW Việt Nam.
Quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam kể từ khi Ngân hàng
Quốc gia Việt Nam ra đời đến nay có thể chia thành 4 thời kỳ như sau:
5
1. Thời kỳ 1951-1954: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập và
hoạt động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên:
Phát hành giấy bạc Ngân hàng, thu hồi giấy bạc Tài chính; Thực hiện quản lý Kho bạc
Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân sách; Phát
triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng
kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch.
2. Thời kỳ 1955-1975: Đây là thời kỳ cả nước kháng chiến chống Mỹ, miền
Bắc vừa xây dựng, chiến đấu, vừa chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam. Trong
thời kỳ này, Ngân hàng Quốc gia thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá, tạo
điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế trong chiến tranh phá hoại bằng

(Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á) được tái lập và
khơi thông.
- Ngày 2/12/1997, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức
tín dụng được Quốc hội khóa X chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày
1/10/1998.
- Ngày 16/6/2010 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức
tín dụng được Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2011. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính
phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngân
hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và
7
ngoại hối; thực hiện chức năng Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của
các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Hoạt động của Ngân
hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm sự an toàn hoạt động ngân hàng
và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán
quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Mô hình tổ chức của NHTW Việt Nam.
Trên cơ sở quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Chính phủ đã
ban hành Nghị định quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hiện nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện theo Nghị định số
96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ. Về cơ cấu tổ chức, theo Nghị định
96/2008/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước có 24 đơn vị trực thuộc, trong đó 19 đơn vị giúp
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng
Ngân hàng trung ương, 5 đơn vị là tổ chức sự nghiệp.
Mô hình NHTW Việt Nam:
8
KHỐI CHÍNH SÁCH
64 chi nhánh Tỉnh, Thành phố
• Vụ chính sách tiền tệ

tiền mặt là công cụ thứ nhất giúp ngân hàng trung ương điều tiết mức cung ứng tiền tổng
hợp.
Với việc độc quyền phát hành tiền thì chính phủ có thể điều chỉnh được lượng tiền
lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể tăng giảm lãi suất để tăng lượng
cầu hay giảm lượng cầu ứng với mỗi thời điểm của nền kinh tế.
2. Chủ ngân hàng của hệ thống các ngân hàng trung gian.
a. Ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của
các ngân hàng trung gian.
Vì các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính trong nước đều phải mở tài
khoản và kí quỹ tại ngân hàng trung ương nên hoàn toàn thực hiện được vai trò điều tiết
thanh toán giữa các ngân hàng giống như những thân chủ mua bán lẫn nhau cùng có một
tài khoản ở một ngân hàng. Vai trò này giúp ngân hàng trung ương kiểm soát, theo dõi,
quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính trong nước. Mặt khác có thể quản lý
được lượng tín dụng ra vào trong hệ thống tài chính vào những thời điểm nhất định.
b. Ngân hàng trung ương là ngân hàng quản lý dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân
hàng trung gian.
Dự trữ bắt buộc là tiền mặt, và tỉ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu là tỉ lệ % tiền mặt
trên tổng số tiền mặt do nhân dân gửi vào mà các ngân hàng thành viên phải lưu lại trong
kho tiền mặt của ngân hàng hay kí gửi tại ngân hàng trung ương, không được cho vay
hết.
Khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên, cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống ngân hàng
thương mại và tổ chức tài chính cũng giảm ngay tức khắc và ngược lại. Bằng cách việc
quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc ngân hàng trung ương quản lý một cách chặt chẽ tốc độ và
cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống ngân hàng trung gian.
c. Ngân hàng trung ương là cứu cánh cho vay cuối cùng của hệ thống ngân hàng
trung gian.
10
Không có ngân hàng trung gian nào hoặc tổ chức tín dụng nào dám khẳng định
rằng trong lịch sử hoạt động của mình chưa hề có lúc kẹt tiền mặt. Những đợt rút tiền ồ ạt
của nhân dân ( vì lãi suất thấp, vì lạm phát cao cho nên lãi suất trở thành âm, vì có thể

quan tới một ngân hàng thương mại cổ phần rất lớn đó là Sacombank. Trước những bài báo
gây xôn xao dư luận như: “ Sacombank, ACB, Eximbank sẽ là người một nhà” hay
“Thâu tóm Sacombank- tin đồn và sự thực” NHNN Việt Nam đã khẳng định những
nguồn tin này là chưa có cơ sở và không chính thức. NHNN với vai trò là cơ quan quản lý
nhà nước đối với Sacombank khẳng định: Đến nay Sacombank vẫn đang tiếp tục hoạt động
bình thường. NHNN đang khẩn trương làm rõ các nguồn thông tin vừa qua để có biện pháp
xử lý thích hợp.
3. Chức năng cố vấn đối với chính phủ.
Ngân sách có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế vĩ mô vì nếu hoạt động của
ngân sách không hài hòa với chính sách tiền tệ nó sẽ làm cản trở hiệu quả của chính sách
tiền tệ trong điều tiết vĩ mô.
Với lý do trên ngân hàng trung ương phải tham gia cố vấn cho chính phủ trong
chính sách tài chính và kinh tế. Với vai trò này ngân hàng trung ương gián tiếp ảnh hưởng
đến việc cung ứng trái phiếu của chính phủ và các hoạt động chi tiêu khác cho hợp lý với
ngân sách. Đây là một cách để điều tiết kinh tế vĩ mô.
4. Chức năng trực tiếp quản lí dự trữ quốc gia.
Dự trữ quốc gia bao gồm những dự trữ chiến lược cho những trường hợp khẩn cấp
như can thiệp vào điều tiết kinh tế, nhập khẩu hàng khẩn cấp để chống khan hiếm và chống
lạm phát, khi có thiên tai, chiến tranh…
Dự trữ bao gồm: vàng, tiền tệ, … Với tư cách là ngân hàng của chính phủ, ngân
hàng trung ương được giao phó nhiệm vụ quản lý dự trữ quốc gia. Khi nắm trong tay công
cụ này ngân hàng trung ương(NHTW) có thể can thiệt bất kì lúc nào vào thị trường ngoại
tệ để giữ giá đồng tiền trong nước, hay tăng hoặc giảm giá. NHTW với nghiệp vụ mua bán
12
trên thị trường vàng và ngoại tệ, nó tạo ra hai tác động quan trọng là thay đổi cung ứng tiền
và thay đổi tỉ giá hối đoái của đồng tiền trong nước. Hai điều này tác động đến tổng cầu,
sản xuất, thu nhập và giá cả và đương nhiên điều này có tác động đến kinh tế vĩ mô
5. Quản lí vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng.
Đây là chức năng quyết định bản chất ngân hàng trung ương của một ngân hàng
phát hành. Việc thực hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ ngân

Mục tiêu:
- Chính sách tiền tệ phải phục vụ cho mục đích đảm bảo cho nền kinh tế có tăng
trưởng, tức là giảm thất nghiệp, gia tăng thu nhập quốc dân và mở rộng tiềm năng
sản xuất, chống suy thoái…
- Chính sách tiền tệ phải hướng về ổn định giá cả
- Phải tạo cho nền kinh tế có một nền tảng tài chính ổn định
- Góp phần mở rộng sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, khai thác và phát triển
các ngưồn lực một cách có hiệu quả nhất.
3. Các công cụ điều tiết.
• Nghiệp vụ thị trường mở:
Bằng cách mua hoặc bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán, NHTW sẽ
làm thay đổi dự trữ trong hệ thống ngân hàng, từ đó làm thay đổi lượng tiền cung ứng.
14
Tùy theo tình hình của nền kinh tế NHTW sẽ quyết định mua và hay bán chứng khoán ra
cho thích hợp.
Khi NHTW bán chứng khoán ra: Lượng chứng khoán tăng lên, chứng khoán trở
nên thừa và giá của nó sẽ giảm xuống, lãi suất của nó sẽ tăng lên. Lãi suất chứng khoán
tăng lên buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất để tránh tình trạng người dân rút tiền ra
khỏi ngân hàng để đầu tư vào chứng khoán. Lãi suất ngân hàng tăng làm lượng tiền cung
ứng giảm và do đó tiền trở nên khan hiếm, do đó tỉ giá và giá cả hàng hóa giảm xuống.
Và sẽ ngược lại khi NHTW mua chứng khoán vào.
Cũng theo quy định của NHNN Việt Nam thì những loại giấy tờ có giá được sử
dụng trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở bao gồm:
1. Tín phiếu ngân hàng nhà nước
2. Trái phiếu Chính phủ, bao gồm: Tín phiếu Kho bạc; Trái phiếu Kho bạc;
Trái phiếu công trình Trung ương; Công trái xây dựng Tổ quốc; Trái phiếu
Chính phủ do Ngân hàng Phát triển Việt Nam (trước đây là Quỹ Hỗ trợ
phát triển) được Thủ tướng Chính phủ chỉ định phát hành.
3. Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, bao gồm: Trái phiếu do Ngân hàng
Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành được Chính

d. Góp vốn mua cổ phần:
NHTW không được góp vốn mua cổ phần của TCTD và các doanh nghiệp khác.
2. Hoạt động mở tài khoản, thanh toán và gây quỹ:
a. Mở tài khoản:
16
NHTW được mở tài khoản ở ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ va ngân hàng
quốc tế.
b. Thanh toán :
NHTW tổ chức hệ thống thanh toán liên ngân hàng và cung cấp các dịch vụ thanh
toán.
c. Đại lý kho bạc:
NHTW làm đại lý cho kho bạc nhà nước trong việc đấu thầu, phát hành va thanh
toán tín phiếu, trái phiếu kho bạc.
3. Hoạt động ngọai hối:
NHTW thực hiện mua bán ngoại hối trên thị trường trong nước vì mục tiêu chính
sách tiền tệ quốc gia, mua, bán ngoại hối trên thị trường quốc tế và thực hiện các giao dịch
ngoại hối khác theo quy định của chính phủ.
Mục đích quản lý dự trữ ngoại hối:
-Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
-Bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế
-Bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước
Tỷ giá ngoại hối tại sở giao dịch NHNN Việt Nam ngày 28/2/2012.
17
Tỷ giá áp dụng cho ngày 28/02/2012
Đơn vị: Việt Nam Đồng
STT Ngoại tệ Tên ngoại tệ Mua Bán
1 USD Đô la Mỹ 20.850,00 21.036,00
2 EUR Đồng Euro 27.640,00 28.198,00
3 JPY Yên Nhật 256,90 262,09
4 GBP Bảng Anh 32.641,00 33.300,00

củng cố, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động ngân hàng. Năng lực xây dựng và điều
hành, quản lý tiền tệ – tín dụng – ngân hàng của NHTW đã được nâng lên một tầm cao
mới, thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia và hoạt động có hiệu quả;
Chính sách lãi suất đang từng bước được đổi mới, phù hợp với cơ chế thị trường.
Trên cơ sở lãi suất cơ bản do NHTW công bố, các TCTD chủ động ấn định lãi suất huy
động và cho vay theo hướng đảm bảo các qui định an toàn và hiệu quả trong kinh doanh
ngân hàng;
Chính sách quản lý ngoại hối từng bước được tự do hóa; xóa bỏ nhiều loại giấy
phép theo hướng phù hợp dần với thông lệ quốc tế và yêu cầu hội nhập quốc tế; bước đầu
đã đáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính, của Luật Doanh nghiệp trong việc
phân định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của doanh nghiệp; tạo ra sự thông thoáng hơn cho
hoạt động kinh tế đối ngoại. Việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối đã được tiến
hành theo hướng đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền quản lý để nâng cao tinh thần trách nhiệm
và hiệu quả hoạt động của các địa phương, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp và
người dân thực hiện các giao dịch ngoại hối, giúp NHTW có điều kiện tập trung nghiên
cứu cơ chế, chính sách theo mô hình ngân hàng trung ương hiện đại;
19
Chính sách tỉ giá đã bước đầu được điều hành tương đối linh hoạt theo quan hệ
cung cầu ngoại tệ trên cơ sở rổ tiền tệ, tỉ giá vì thế đã phản ánh tương đối chính xác sức
mua của VND và tương quan giữa VND với các loại ngoại tệ của các nước có quan hệ
thương mại, đầu tư và tín dụng với Việt Nam. Việc điều chỉnh tỉ giá linh hoạt đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các NHTM và NHTW tăng mua ngoại tệ từ thị trường, đáp ứng phần
lớn các nhu cầu ngoại tệ của khách hàng và đảm bảo mục tiêu tăng dự trữ ngoại hối nhà
nước;
Xây dựng được bộ máy quản lý và mạng lưới tổ chức phù hợp với yêu cầu phát
triển trong từng thời kỳ. Trong đó, đội ngũ cán bộ trong ngành ngân hàng trưởng thành
nhanh chóng, có khả năng tiếp cận kiến thức mới và công nghệ ngân hàng hiện đại, có
năng lực điều hành và thực hiện các hoạt động ngân hàng ngày càng có tính chuyên
nghiệp hơn theo yêu cầu của nền kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế về tài
chính – ngân hàng;

nới lỏng các qui định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, trong khi các tổ chức tài
chính Việt Nam còn nhiều yếu kém, trình độ chuyên môn và trình độ quản lý còn bất cập,
hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh thấp, nợ quá hạn cao, khả năng chống đỡ rủi ro còn
kém. Vì thế, NHTW Việt Nam sẽ khó có thể kiểm soát ngân hàng trong nước. Các ngân
hàng trong nước mất dần lợi thế cạnh tranh về qui mô, khách hàng và hệ thống kênh phân
phối Đáng chú ý, rủi ro đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể tăng lên do các
ngân hàng nước ngoài nắm quyền kiểm soát một số tổ chức tài chính trong nước thông
qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, liên kết kinh doanh; một số tổ chức tài chính trong
nước sẽ gặp rủi ro và có nguy cơ thua lỗ, phá sản do sức cạnh tranh kém và không có khả
năng kiểm soát rủi ro khi tham gia các hoạt động ngân hàng quốc tế.
Mở cửa thị trường tài chính trong nước cũng làm tăng rủi ro do những tác động từ
bên ngoài, cơ hội tận dụng chênh lệch tỉ giá, lãi suất giữa thị trường trong nước và thị
21
trường quốc tế giảm dần. NHTW cũng phải đối mặt với các cơn sốc kinh tế, tài chính
quốc tế và nguy cơ khủng hoảng.
VI. Phân tích chuyên sâu và thảo luận.
Trước khi nghiên cứu trực tiếp vấn đề này, chúng ta cần nắm được hai mô hình ngân
hàng trung ương (NHTW): ngân hàng trung ương độc lập chính phủ; ngân hàng trung
ương phụ thuộc chính phủ, cùng với những ưu và nhược điểm của hai mô hình này từ đó
đưa ra những nhận định về việc xây dựng mô hình nào cho ngân hàng trung ương Việt
Nam trong tương lai.
Mô hình ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ:
Khái niệm:
Mô hình ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ là mô hình trong đó ngân
hàng trung ương không chịu sự quản lý của chính phủ mà chịu sự quản lý của quốc hội.
Quan hệ giữa ngân hàng trung ương và chính phủ là quan hệ hợp tác. Các NHTW theo mô
hình này là Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ, NHTW Thụy sĩ, Anh, Pháp, Đức, Nhật bản và
gần đây là NHTW châu Âu (ECB).
Ưu điểm:
- Tăng hiệu quả mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giảm

Nhược điểm:
- NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.
- Làm cho NHTW dễ xa rời mục tiêu dài hạn của mình.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc cải cách Ngân hàng Nhà nước (NHTW)
đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động khó
23
lường, Đảng và Chính phủ đã xác định rõ: “ Tổ chức lại NHTW với cơ cấu và tính chất
hoạt động như một Ngân hàng trung ương hiện đại, hoạt động theo cơ chế thị trường định
hướng XHCN”.
Tháng 12/1997, Luật NHTW của nước CHXHCN Việt Nam ra đời và có hiệu lực
thi hành từ 1/1/1998. Theo đó NHTW là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của
các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Kể từ đó đến nay,
ngành ngân hàng nói chung và NHTW Việt Nam nói riêng đã có những bước tiến khá dài
trên con đường phát triển. Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII vừa thông qua Luật NHTW
Việt Nam (sửa đổi) và Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi). So với Luật NHTW Việt Nam
năm 1997 và Luật NHTW được sửa đổi, bổ sung năm 2003, Luật NHTW Việt Nam năm
2010 có những điểm mới, tiến bộ sau đây:
Về địa vị pháp lý, NHTW Việt Nam vẫn giữ nguyên như thể hiện trong Luật
NHTW Việt Nam 1997 để phù hợp với thể chế chính trị và Hiến pháp 1992. Tuy nhiên,
cách thiết kế trong Luật NHTW 2010 đã thể hiện rõ hơn vị trí của NHTW là cơ quan ngang
Bộ của Chính phủ, đồng thời xác định rõ các chức năng, nhiệm vụ của NHTW với tư cách
là NHTƯ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện các chức năng về quản
lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, qua đó, khẳng định mối quan hệ
chặt chẽ giữa hai chức năng quan trọng của một NHTƯ: Thực thi CSTT và giám sát an
toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng
Tuy nhiên trong bối cảnh kinh tế thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động
khó lường, những hạn chế của ngành ngân hàng nói chung và NHTW nói riêng là điều khó
tránh khỏi và cần có sự cải cách như Đảng và nhà nước đã đề ra ở trên. Như vậy, một câu
hỏi được đặt ra là:

Theo ý kiến của các chuyên gia, tại thời điểm hiện nay, cấp độ “Độc lập tự chủ
trong lựa chọn công cụ điều hành” tỏ ra phù hợp với NHTW Việt Nam hơn cả, đặc
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status