Thị trường lao động ở TP HỒ CHÍ MINH thực trạng và giải pháp phát triển - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
**************
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ SỐ 100
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở
TP HỒ CHÍ MINH: THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

GVHD : Thạc Sỹ NGUYỄN VĂN SÁNG
SVTH : NGUYỄN THỊ KIM THOA
LỚP : 60 KHÓA 33
2
TP HCM 11/2008
3
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN :


LỜI MỞ ĐẦU
Trong hệ thống thị trường, thị trường lao động là thị trường lớn nhất và
quan trọng nhất vì lao động là hoạt động chiếm nhiều thời gian nhất và thu
nhập do lao động là bộ phận chủ yếu trong tổng thu nhập của mọi tầng lớp.
Thị trường lao động có một vài điểm khác biệt so với các thị trường khác
trong đó Lao động không thể tách riêng khỏi người lao động. Do được thừa
nhận và hình thành muộn hơn so với các thị trường khác và các điều kiện kinh
tế-chính trị và thể chế, thị trường VIệt Nam sau hơn 10 năm đổi mới vẫn chỉ
bước đầu hình thành với nhiều vấn đề nổi cộm như: thị trường chính thức
chưa hình thành, cầu lao động yếu và lạc hậu, tình trạng việc làm, thu nhập
chậm cải thiện,thất nghiệp cao…Thị trường lao động Thành Phố Hồ Chí
Minh cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên Thành phố Hồ Chí Minh là một trung
tâm kinh tế của cả nước. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, thị trường
lao động trên địa bàn Thành phố đã xuất hiện sớm nhất so với các tỉnh thành
khác trong cả nước. Bởi vậy, đồng thời với việc nghiên cứu các điều kiện
kinh tế khách quan cần thiết phải nghiên cứu các chính sách tác động tới sự
hình thành và phát triển thị trường lao động trên địa bàn Thành phố. Điều đó
có ý nghĩa quan trọng đối với việc góp phần thúc đẩy phát triển thị trường lao
động ở nước ta.
Thông qua tìm hiểu trên sách báo, các phương tiện thông tin đại chúng,
mang Internet và sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Văn Sáng đã giúp em hoàn
thành đề tài này. Do quy mô và thời gian hạn chế nên em chỉ đề cập đến
những vấn đề cơ bản,không thể tránh khỏi những thiếu sót, bất cập, mong
được sự chỉ dẫn, đóng góp của thầy cô giáo.
6
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I.1 Hàng hóa sức lao động và thị trường lao động:
1. Hàng hóa sức lao động:
a. Lao động:

Theo các nhà khoa học kinh tế Việt Nam, khái niệm này đa dạng và
phong phú hơn nhiều: “Thị truờng lao động là toàn bộ các quan hệ lao động
được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động(nó bao gồm các quan hệ lao
động cơ bản nhất như thuê mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công,
bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao động…), ở đó diễn ra sự trao đổi, thỏa thuận
giữa một bên là người lao động tự do và một bên là nguời sử dụng lao động”.
Khái niệm mà nhà khoa học kinh tế Nga Kostin Leonit Alecxeevich
đưa ra được xem là đầy đủ nhất: “thị trường lao động – đó là một cơ chế hoạt
động tương hỗ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một
không gian kinh tế xác định, thể hiện những quan hệ kinh tế và pháp lý giữa
họ với nhau”.
I.2 Bản chất, đặc trưng, ý nghĩa của thị trường lao động và các mối quan
hệ lao động:
1. Bản chất của thị trường lao động:
Thị trường lao động được coi là nơi diễn ra sự trao đổi sức lao động.
Nói đến thị trường lao động là nói đến khối nhân lực đem ra trao đổi trên thị
trường, chủ yếu giữa hai loại người: người làm công( người đem sức lao động
của mình đi bán) và người sử dụng lao động( người mua sức lao động để sử
dụng). Thị trường lao động biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có
8
sức lao động và bên kia là người sử dụng sức lao động, nhằm xác định số
lượng và chất lượng lao động sẽ đem ra trao dổi và mức thù lao tương ứng.
Lao động dược mua bán trên thị trường không phải là lao động trừu
tượng, mà lao động thể hiện thành việc làm. Thị trường lao động là cơ chế
dung hòa những lợi ích của người bán và người mua, nhờ đó mà thực hiện
được tất cả các quyết định trong lĩnh vực việc làm. Một thị trường lao động
tốt là ở chổ đó, số lượng và chất lượng cung ứng việc làm (bán) và sử dụng
việc làm (mua) về cơ bản tương ứng với nhau.
2. Những đặc trưng của thị trường lao động:
Các đặc trưng phân biệt thị trường lao động với các loại thị trường

thân mình, cũng như nuôi sống gia đình mình.
Thông qua thị trường lao động các công ty, doanh nghiệp được trang bị
đồng bộ sức lao động cần thiết theo khối lượng đặt ra và chất lượng đòi hỏi,
chính thị trường lao động sẽ cung cấp đầy đủ những thông tin về cung, cầu
lao động và nghiệp vụ chuyên môn cần thiết.
Thị trường lao động đảm bảo việc phân chia và sắp xếp lại dân số hoạt
động kinh tế thường xuyên trong trường hợp cải cách cấu trúc nền kinh tế.
Thị trường lao động làm tăng tính cơ động, tích cực chuyển động của
sức lao động giữa các doanh nghiệp trong một ngành, giữa các ngành và các
khu vực với nhau.
I.3 Mối quan hệ giữa các yếu tố trong thị trường lao động:
1.Các yếu tố trong thị trường lao động:
Các yếu tố trong thị trường lao động bao gồm: cung lao động, cầu lao
động, giá cả sức lao động, cạnh tranh trên thị trường lao động. Trong 4 yếu tố
trên thì tổng cung lao động và tổng cầu lao động là quan trọng nhất.
10
Tổng cung lao động là bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có
khả năng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và một bộ
phận chưa có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc. Cung lao động phụ thuộc
vào các yếu tố cơ bản sau: quy mô và tốc độ tăng của dân số; quy mô và tốc
độ tăng của nguồn nhân lực; độ dài thời gian làm việc của người lao động;
khả năng thỏa mãn nhu cầu về mức sống đối với các tầng lớp dân cư khác
nhau. Số lượng và chất lượng của cung lao động sẽ phụ thuộc vào hệ thống
giáo dục - đào tạo và hệ thống đào tạo nghề ở mỗi thời kì. Tuổi lao động ở
nước ta được quy ước từ 15 đến 55 với nữ và 60 với nam.
Tổng cầu lao động là toàn bộ nhu cầu về sức lao động của nền kinh tế ở
một thời kì nhất định,bao gồm cả về mặt số lượng và chất lượng. Cầu trên thị
trường phụ thuộc vào nhân tố vĩ mô như khả năng phát triển kinh tế của đất
nước,cơ cấu ngành nghề và sự phân bố ngành nghề giữa nông thôn, thành
thị;giữa các vùng lãnh thổ; trình độ công nghệ, máy móc thiết bị được sử

cung, cầu lao động, cơ chế cạnh tranh, cơ chế tiền lương. Cơ chế thị trường
lao dộng, một mặt, ra đời một cách khách quan dựa vào tính quy luật vận
động nội tại của thị trường, mặt khác là sản phẩm chủ quan của con người, do
con người tạo dựng nên.
2. Tính đồng bộ của thị trường lao động với các thị trường khác:
Thị trường lao động là một bộ phận hữu cơ của kinh tế thị trường, và
chịu sự tác động của các quy luật chung của kinh tế thị trường như: quy luật
giá trị, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh… Các quy luật này tác động, chi
phối quan hệ cung cầu lao động.
Thị trường lao động có mối quan hệ với các thị trường khác như: thị
trường hàng hóa, thị trường tài chính, thị trường khoa học- công nghệ Vì vậy
12
sự phát triển của thị trường lao động chịu ảnh hưởng của các thị trường nói
trên.
Trong lịch sử phát triển, so với các thị trường khác thì thị trường lao
động được hình thành và phát triển chậm hơn. Để thị trường lao động phát
triển đồng bộ với các thị trường khác, nhà nước giữ vai trò quan trọng trong
việc tạo môi trường pháp lý để phát triển các yếu tố cung, cầu lao động và các
thể chế về quản lý thị trường lao động.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở
TP.HỒ CHÍ MINH
II.1 Quá trình hình thành và phát triển:
Sau 30 năm xây dựng và phát triển, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay
đã thực sự biến đổi về chất. Từ một thành phố tiêu thụ với các tệ nạn xã hội
và thất nghiệp tràn lan; với cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu phục vụ chiến
tranh, đã trở thành một thành phố sản xuất - kinh doanh, cung cấp sản phẩm
hàng hóa và dịch vụ quan trọng cho cả nước và xuất khẩu. Là một trung tâm
kinh tế lớn của cả nước có GDP chiếm 13% năm 1985, 20% năm 2005 và
năm 2007 là 19% trong cơ cấu GDP của cả nước; thu ngân sách tăng 10 lần
và chiếm tỷ trọng 1/3 tổng thu ngân sách quốc gia; giá trị sản xuất công

kết quả tổng điều tra dân số 1/4/1999 (9,19%). Tỷ suất nhập cư khu vực thành
thị cao hơn khu vực nông thôn do khu vực thành thị dễ tìm kiếm việc làm và
mức thu nhập cao hơn. Như vậy dân số TP.HCM còn tăng ở mức cao do tỷ lệ
tăng dân số cơ học có xu hướng tăng dần, mặc dù đã kìm hãm được tốc độ
tăng dân số tự nhiên.
14
Tỷ lệ gia tăng dân số thành phố qua các thời kỳ
Thời kỳ Tỷ lệ tăng cơ
học
Tỷ lệ tăng tự
nhiên
Tỷ lệ tăng chung
1979-1989 0,02% 1,61% 1,63%
1989-1999 0,84% 1,52% 2,36%
1999-2004 2,33% 1,27% 3,6%
Việc gia tăng dân số nhanh chóng trên đã tác động mạnh, trực tiếp đến
tổng nguồn cung ứng của thị trường lao động thành phố, làm cho nguồn lao
động hàng năm tăng theo. Theo Vietnamworks.com, trong quý 4/2007
TPHCM đứng đầu trong thu hút lao động,chiếm 43% cả nước.Điều này minh
chứng rằng TP.HCM có vai trò vị trí lớn,là đầu tàu có sức cuốn hút lôi kéo tạo
động lực của vùng,là môi trường đầu tư thậun lợi, có mức sống cao đã tạo lực
hút đối với dân cư của các địa phương khác, là những người đang thất nghiệp
hoặc bị thiên tai, lũ lụt phải di chuyển đến TP.HCM để sinh sống hay người ở
địa phương khác đến đây học tập, nghiên cứu rồi ở lại làm việc. Do tăng dân
số, tăng lao động này từ nhiều nguồn đã tạo ra những hình thức cung ứng lao
động đa dạng gồm: cung ứng lao động tại chỗ, cung ứng qua con đường nhập
cư, nhập khẩu. Với tốc độ tăng tự nhiên1,27% tính từ 1999-2004. Trung bình
hàng năm chỉ tính riêng dân số tăng về tự nhiên khoảng trên dưới200.000.
Điều đó cũng đồng nghĩa có một lượng dân số ở thành phố đến tuổi cần việc
làm, sau khi một lượng rất nhỏ được tiếp tục học lên ở các bậc cao hơn hoặc

Hồ Chí Minh sẽ thu hút lao động cho 270.000 chỗ làm việc, trong đó 120.000
chỗ làm việc mới. Trong năm 2007, các khu vực kinh tế tại thành phố sẽ thu
hút trên 250.000 lao động, trong đó 75.000 lao động phân bổ vào khu vực
doanh nghiệp tư nhân trong nước, 80.000 lao động vào các khu chế xuất, khu
công nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 60.000 lao động vào
các cơ sở dịch vụ kinh doanh nhỏ, hộ kinh tế gia đình, kinh tế trang trại,
16
35.000 lao động vào các doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần có vốn Nhà
nước. Trong tổng số nhu cầu tuyển dụng tại thành phố năm 2007, có trên 30%
nhu cầu lao động chất lượng cao với các ngành nghề kỹ thuật công nghệ
thông tin, quản lý kinh tế, tài chính, hành chính, giáo dục, y tế. Một số ngành
nghề có nhiều nhu cầu lao động thường xuyên là kỹ thuật cơ khí, hóa chất,
kiến trúc, xây dựng vận hành máy, lắp ráp điện tử, kỹ thuật đồ họa, kỹ thuật
điện – điện lạnh, kế toán, điều hành kinh doanh, quản lý sản xuất, nhu cầu
tuyển lao động kỹ thuật và quản lý gồm có trình độ ngoại ngữ, kỹ năng tổ
chức công việc. Hoạt động sản xuất kinh doanh tại thành phố cũng cần tuyển
nhiều lao động có nghề và lao động phổ thông cho các ngành sản xuất điện tử,
dệt, da, may, chế biến thực phẩm, tiếp thị, phục vụ ăn uống, du lịch, bán
hàng
Theo bản báo cáo, trong quý 1/2008, Tp. HCM tiếp tục dẫn đầu về cơ
hội việc làm, theo sau là Hà Nội. Cả hai thành phố đều có chỉ số việc làm
tăng. Tp.HCM tăng 9% so với quý trước, trong khi Hà Nội chỉ tăng 2%.
Trong quý 1/2008, cầu lao động trực tuyến đối với ứng viên có kinh
nghiệm không thuộc cấp quản lý chiếm đa số, với tỷ lệ 67,47%, trong khi cấp
quản lý chỉ chiếm 17,62%. Theo sau là cấp trưởng nhóm, giám sát tăng
8,71%; cấp giám đốc tăng 3,4%; cấp bậc mới ra trường, thực tập tăng 2,6%;
cấp bậc CEO, chủ tịch, phó chủ tịch tăng 0,2%. Quý 1/2008, bán hàng là lĩnh
vực có chỉ số cung và cầu cao nhất trong tất cả ngành nghề. So với quý
4/2007, chỉ số cung của ngành bán hàng tăng đến 40%, trong khi chỉ số cầu
chỉ tăng 24%. Cung và cầu nhân lực trực tuyến của 2 lĩnh vực hành chính,thư

cầu ở đây khá phong phú đa dạng cả về nguồn cung ứng lao động và khả năng
tạo cầu để thu hút lao động trên thị trường. Diễn biến những năm qua cho
18
thấy mối quan hệ cung cầu trên thị trường là hết sức lớn, tổng nguồn cung lao
động của thị trường thành phố tuy còn nhiều bất cập nhưng phong phú đa
dạng, chứa đựng nhiều yếu tố thuận lợi, nguồn cầu cũng đầy tiềm năng và
ngày càng được mở rộng trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế.
Bên cạnh đó,thị trường lao động thành phố vừa có lực lượng đồi dào lại
đến từ nhiều nguồn, nhiều địa phương trong cả nước, nhiều nước trên thế
giới, đa phần là lực lượng trẻ có khả năng thích ứng nhanh trước những ngành
nghề mới Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy trong thị truờng lao động thành
phố còn hình thành sự phân biệt giữa thị trường lao động có hộ khẩu và
không có hộ khẩu, thị trường lao động lao động có đăng ký và thị trường lao
động không có đăng ký, thị trường đăng ký chính thức và không chính thức…
đã tạo ra sự rối loạn khó kiểm soát và rất khó quản lý, điều tiết trong bố trí, sử
dụng. Trên thực tế Nhà nước thành phố không kiểm soát và quản lý được các
nguồn cung ứng, luồng di chuyển nhân công dẫn đến thị trường phát triển tự
phát thiếu định hướng làm ảnh hưởng đến phát triẻn kinh tế xã hội nói chung
và nguồn nhân lực nói riêng.
Ngoài ra, do nhà nước chưa kkiểm soát được thị trường nên sự phát
triển tự phát của thị trường đã gây ra sự mâu thuẫn rất lớn giữa cung và cầu.
Sự mâu thuẫn đó là lực lượng lao động nhiều nhưng chất lượng lao động thấp,
chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thành phố trong hiện tại và những
năm tiếp theo, trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp và cơ cấu các loại trình
độ chưa hợp lý, có nhiều ngành đào tạo thừa không sử dụng hết, song lại có
nhiều ngành nghề quá thiếu quản lý như quản lý kinh tế, các chuyên gia kỹ
thuật, lao động nghiệp vụ vừa có chuyên môn vừa có ngoại ngữ tin học…,
đặc biệt là đội ngũ công nhân kỹ thậut thiếu hầu hết ở các ngành, khu vực
kinh tế. Tình trạng lao động ngành nghề cung cấp không đủ ở những vùng đô
thị hóa, các khu công nghiệp, khu chế xuất đang diễn ra gay gắt, làm cản trở

thực hiện hết nhiệm vụ.Nguyên nhân là mạng lưới và nội dung hoạt động của
các trung tâm này chưa cung cấp đầy đủ thông tin về thị trường lao động.Các
hình thức tuyển dụng và giao dịch trong tuyển dụng hiện nay bao gồm: qua bổ
nhiệm,sở lao động địa phương,thông báo qua báo đài, trường đào tạo, trung
tâm giới thiệi việc làm,giới thiệu của cá nhân đáng tin cậy,tự tìm hiểu,gia đình
và các doanh nghiệp khác.
Cũng phải thừa nhận, sau nhiều năm hoạt động, các Trung tâm giới
thiệu việc làm, DN dịch vụ việc làm chân chính đã làm chiếc cầu nối cho
hàng trăm ngàn người lao động kiếm được việc làm. Tuy nhiên, một số DN
lợi dụng kẽ hở của pháp luật, hoạt động bất chấp luật pháp tạo nên mảng tối
trong thị trường giới thiệu, cung ứng lao động tại TP.HCM, khiến lĩnh vực
kinh doanh này được liệt vào “ngành nghề nhạy cảm”. Vì vậy, để chấn chỉnh
hoạt động trong lĩnh vực này, ngày 28/02/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 19/2005/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động
của tổ chức GTVL trên địa bàn TP.HCM.Theo tinh thần nghị định trên, sau
30/11, các DN (DN), chi nhánh có đăng ký chức năng dịch vụ lao động không
gởi hồ sơ lên cơ quan này xin cấp giấy phép hoạt động đều được coi là hoạt
động bất hợp pháp. Thế nhưng. căn cứ theo số hồ sơ mà các DN nộp cho Sở
LĐTB&XH, số DN hợp pháp chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong khi đó,
TP.HCM có trên 2000 DN GTVL.
II.4 Thất nghiệp:
1.Khái niệm:
Theo kinh tế học, thất nghiệp được định nghĩa là những người trong độ
tuổi lao động, đang tích cực tìm việc, mong muốn được làm việc nhưng
không có việc làm. Tùy theo các phân loại mà thất nghiệp được chia thành
các dạng khác nhau. Thông thường được chia thành 2 dạng: thất nghiệp tự
21
nhiên và thất nghiệp chu kì, trong đó thất nghiệp tự nhiên còn được chia thành
thất nghiệp cọ xát và thất nghiệp cơ cấu
2.Thực trạng thất nghiệp ở TPHCM:

phố, hiện nay các huyện ngoại thành còn khoảmh 20% thanh niên nông thôn
tham gia sản xuất nông nghiệp, số còn lại về nội thành để kiếm sống, chủ yếu
là lao động phổ thông, dịch vụ nhỏ. Các khu chế xuất Tân Thuận (quận 7),
Linh trung ( Thủ đức) có nhu cầu lao động cao nhưng chỉ thu nhập khoảng
40% lao động địa phương, do đó số lao động địa phương này có trình độ văn
hóa thấp không có chuyên mon nghiệp vị. Một số điều tra của Viện kinh tế ở
khu vực đô thị hóa mới đây cho thấy có tới trên 26% lực lượng lao động
chuyển từ nông nghiệp qua là khó tìm việc là mới ở khu vực đô thị mới. Như
vạy tỉ lệ này chính là thất nghiệp cơ cấu do lực lượng lao động này không có
khả năng chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và các ngành nghề khác phi
công nghiệp.
II.5 Thực trạng về tiền lương – tiền công:
Bộ Luật Lao Động của Việt Nam đã được Quốc hội nước CHXHCN
Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994.
Chương VI của Bộ Luật Lao Động đã có 13 điều (Điều 55-Điều 67) qui định
về tiền lương, theo đó tiền lương của người lao động là do hai bên (người
thuê và người được thuê) thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Chính phủ
quyết định và công bố mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng,
mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn
lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động. Chính phủ công
bố thang bảng lương để làm cơ sở tính các chế độ bảo hiểm xã hội, y tế, tiền
lương làm thêm giờ, nghỉ chế độ Người sử dụng lao động có quyền chọn các
23
hình thức trả lương theo sản phẩm hoặc theo thời gian.
Do tác động của việc phân hóa quá lớn về mức thu nhập, giá tiền công
trên thị trường lao động đã có sự thuyên chuyển các luồng nhân công quá lớn
giữa các vùng, giữa các ngành kinh tế, và giữa các khu vực kinh tế. Mức tiền
công, thu nhập của TP Hồ Chí Minh cao hơn bất kỳ khu vực, vùng, tỉnh nào
trong cả nước nên dễ lý giải tại sao lao động nhập cư vào thành phố theo kết
quả điều tra này có tỷ lệ khá cao trên 50%. Số liệu về kết quả điều tra đã cho

nghiệp hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Các
doanh nghiệp hoạt động trên các địa bàn còn lại áp dụng mức 650.000 đồng…
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO
ĐỘNG Ở TP.HỒ CHÍ MINH
Với thực trạng thị trường lao động ở thành phố Hồ Chí Minh như trên
cần có giải pháp cần thiết để phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Sau quá
trình nghiên cứu và tìm hiểu tài liệu em xin đưa ra một số giải pháp cơ bản
như sau:
Thứ nhất,cần nghiên cứu đổi mới quản lý, điều tiết thị trường và điều
kiện phù hợp với cơ chế thị trường và chính sách kinh tế xã hội của thành
phố. Về các phương thức giao dịch trên thị trừơng lao động. Cần rà soát tháo
bỏ những quy định, thủ tục hành chính là rào cản đối với sự chuyển dịch tự do
của “hàng hóa sức lao động” từ địa phương này đến địa phương khác như
việc cư trú , hộ khẩu, xin cho con cái đi học, khám và chữa bệnh…việc ngăn
sông cấm chợ sự lưu thông tự do “ hàng hoa sức lao động” tuy có thể giảm
nhẹ một phần công tác quản lý của cấp chính quyền , nhưng sẽ là một thiệt
25
hại lớn cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung trên giác độ cạnh tranh của
hàng hóa sức lao động, chỉ có thể điều chỉnh nó bằng cơ chế chính sách chứ
không phải biện pháp hành chính.
Cần có sự bình đẳng pháp lý đối với các hoạt động mua bán, môi giới,
thuê mướn sức lao động giữa các loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
không phải cuả nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ
chức sự nghiệp, tổ chức xã hội để tạo ra một mặt bằng pháp lý. Cần cấm mọi
hoạt động mua bán lao động dưới mọi hình thức. Ngoài ra cần xem xét những
cơ sở nào chưa có pháp nhân mà đủ điều kiện quy định thì nên cho phép
thành lập pháp nhân để hoạt động đúng quy luật pháp luật, nhưng cơ sở còn
lại không đáp ứng đủ yêu cầu cho lập pháp nhân thì kiên quyết giải tán.
Nên cho hình thành những tổ chức “dịch vụ xuất khẩu lao động”-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status