Lời nói đầu
Từ hàng chục năm nay, chính sách Bảo hiểm xã hội đã góp phần quan trọng
trong việc trợ cấp vật chất, hỗ trợ đời sống cho những đối tợng hởng bảo hiểm xã
hội và gia đình họ khi gặp phải rủi ro, biến cố trong cuộc sống nh ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hoặc chết dẫn đến giảm hoặc mất nguồn thu
nhập.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng với sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế và có sự quản lý của Nhà nớc theo định h-
ớng XHCN. Bớc sang cơ chế kinh tế mới với quan hệ lao động phong phú, đa
dạng, chính sách BHXH trong cơ chế cũ không còn phù hợp nữa. Do đó việc
nghiên cứu, tìm hiểu và xây dựng cơ sở lý luận nhằm đổi mới hoàn thiện chính
sách BHXH cho phù hợp với tình hình mới là một yêu cầu cấp thiết.
Quỹ BHXH là một nội dung rất quan trọng trong chính sách BHXH. Quỹ
BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng nó vừa mang tính
kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng
đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, việc đảm
bảo hệ thống tài chính cho quỹ BHXH là hết sức cần thiết và mang ý nghĩa sống
còn đối với hoạt động của BHXH. Thông qua việc xem xét đánh giá cơ chế quản lý
BHXH ở Việt nam .
Từ những lý do trên em đã chọn đề tàI : Một số vấn đề về quản lý quỹ bảo
hiểm xã hội Việt nam .
Kết cấu đề tài gồm ba chơng:
Chơng 1 : Lý luận chung về Bảo hiểm xã hội.
Chơng 2 : Thực trạng quản lý quỹ Bảo hiểm XH Việt Nam.
Chơng 3 : Một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý quỹ
BHXH ở Việt Nam.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn nhiệt tình của cô giáo
Do thời gian có hạn, kiến thức về lý luận và thực tiễn còn hạn chế nên đề tài
của em không tránh khỏi những khiếm khuyết .
1
Ch ơng I
phản ánh bản chất của một chế độ xã hội nhất định.
2.4. Về mặt xã hội:
BHXH đợc xem nh là một loạt các hoạt động mang tính xã hội nhằm đảm
bảo đời sống cho ngời dân và làm lành mạnh xã hội. BHXH mang tính nhân văn,
nhân đạo sâu sắc vì lợi ích của con ngời trong những hoàn cảnh gặp khó khăn, vì
an toàn xã hội và có ý nghĩa xã hội lâu dài.
3. Vai trò của BHXH trong nền KTQD
3.1. Vai trò của BHXH:
Con ngời muốn tồn tại và phát triển luôn cần phải thoả mãn các nhu cầu tối
thiểu về vật chất và tinh thần và để thoả mãn các nhu cầu đó con ngời phải lao
động, sáng tạo sản xuất ra các sản phẩm. Mặt khác, con ngời ai cũng phải trải qua
các giai đoạn phát triển của đời ngời đó là: sinh ra, lớn lên, trởng thành và chết.
Bởi vậy, muốn đảm bảo duy trì cuộc sống ngời lao động làm thế nào để tạo ra
nguồn thu nhập thay thế hoặc bù đắp.
Ngành công nghiệp hình thành cùng với nền kinh tế hàng hoá phát triển đã
làm xuất hiện quan hệ thuê mớn nhân công. Những ngời làm công phải hoàn toàn
dựa vào tiền lơng làm nguồn sống chủ yếu. Có việc thì mới có lơng dù đó là đồng
lơng ít ỏi. Khi ốm đau, tai nạn, sinh đẻ ... thì phải nghỉ việc và không có lơng, cuộc
sống bị đe doạ. Ngời lao động đã ý thức đợc sự cần thiết phải có thu nhập đề phòng
khi họ gặp rủi ro, tai nạn bất ngờ nên họ đấu tranh đòi giới chủ phải cam kết đảm
bảo một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi ốm
đau, thai sản ... Lúc đầu giới chủ cam kết đảm bảo cho ngời lao động những khoản
thu nhập nhất định đó. Song nhiều khi rủi ro xảy ra liên tục buộc ngời chủ phải chi
ra những khoản tiền lớn mà họ không muốn. Do vậy, giới chủ đã chi ít hơn nên
xuất hiện mâu thuẫn và tranh chấp giữa chủ và thợ, mâu thuẫn này ngày càng gay
gắt.
3
Để giải quyết mâu thuẫn này dần xuất hiện một bên thứ ba, đóng vai trò
trung gian nhằm giải quyết mâu thuẫn và điều hoà lợi ích giữa chủ và thợ. Điều đó
thay cho việc giới chủ và giới thợ phải trả trực tiếp một khoản tiền khi ngời lao
nguyên tắc lấy số đông bù số ít và vì vậy ngời lao động bình đẳng trong nghĩa vụ
đóng góp cũng nh trong quyền lợi nhận đợc từ quỹ BHXH. Thực hiện chức năng
phân phối lại, BHXH cũng đồng thời góp phần thực hiện công bằng xã hội.
d. BHXH tập trung đợc nguồn vốn lớn cho phát triển sản xuất.
Nguồn quỹ hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia cũng là nguồn
vốn nhàn rỗi có thể dùng để đầu t vào nền kinh tế quốc dân. Quỹ BHXH có thể có
số d và phần quỹ nhàn rỗi đợc đầu t cho các chơng trình kinh tế, xã hội, vừa đóng
góp vào xây dựng đất nớc vừa làm tăng trởng quỹ. Trong điều kiện hiện nay hoạt
động này có ý nghĩa rất quan trọng.
4. Một số nội dung cơ bản của BHXH.
a. Đối tợng của BHXH
Đối tợng tham gia BHXH là ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Tuy
vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nớc mà đối tợng này có
thể là tất cả hoặc một bộ phận những ngời lao động nào đó.
Hầu hết các nớc khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối với
các viên chức Nhà nớc, những ngời làm công hởng lơng. Việt nam cũng không vợt
ra khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng nh vậy là không bình đẳng giữa tất cả những
ngời lao động.
b. Các loại chế độ BHXH.
Theo công ớc số 102 Công ớc về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội quy
định gồm có 9 chế độ BHXH nh sau:
1) Chăm sóc y tế.
2) Trợ cấp ốm đau.
3) Trợ cấp thất nghiệp.
4) Trợ cấp tuổi già.
5) Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
5
6) Trợ cấp gia đình.
7) Trợ cấp thai sản.
bản thân và gia đình họ trong lúc gặp rủi ro hoặc tuổi già thì tất yếu phải lập quỹ
dự trữ bảo hiểm thích hợp, đủ lớn để có thu nhập ổn định đảm bảo cuộc sống cho
bản thân và gia đình trong tơng lai.
Mặt khác do quy luật bảo toàn nòi giống, duy trì lức lợng lao động cho tơng
lai của xã hội, những ngời lao động nữ họ còn phải làm nghĩa vụ sinh con, nuôi
con và chăm sóc khi con ốm đau ... cũng đòi hỏi phải có quỹ bảo hiẻm giúp đỡ...
Việc tạo lập quỹ BHXH cho ngời lao động những lúc gặp rủi ro bất ngờ hoặc lúc
tuổi già có thể đợc tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau. Do vậy, quỹ BHXH
có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của ngời lao động.
Trong thực tế không ai muốn mất việc làm hoặc mất, giảm khả năng lao
động để đợc hởng trợ cấp từ quỹ BHXH, do đó nó phù hợp với nguyên tắc lấy số
đông bù số ít. Nguyên tắc này thể hiện việc phân phối lại thu nhập giữa những ng-
ời lao động có thu nhập khác nhau, giữa những ngời khoẻ mạnh đang làm việc và
những ngời đang ốm đau phải nghỉ việc hay giữa những ngời đang hởng trợ cấp
BHXH khác nhau. Từ đó cũng thấy rằng khả năng, vai trò của quỹ BHXH trong
việc phân phối lại thu nhập và công bằng xã hội, động viên ngời lao động hăng hái
làm việc: Khi ngời lao động đang làm việc sẽ có thu nhập, còn khi mất khả năng
lao động thì họ lại đợc hởng trợ cấp từ quỹ BHXH. Nh vậy, họ đã có van an toàn
để đảm bảo cuộc sống cho họ, đó là chỗ dựa vững chắc khi họ không có khả năng
lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn và làm cho ngời lao động yên tâm gắn bó với
công việc.
Bên cạnh đó quỹ BHXH đầu t một phần vào các hoạt động kinh tế - xã hội,
khoản này không những tạo thêm khả năng mở rộng quỹ BHXH mà còn góp phần
phát triển kinh tế - xã hội.
Qũy BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết hậu quả
của rủi ro cho ngời tham gia, đảm bảo an toàn kinh tế cho ngời lao động và gia
đình họ, giảm thiểu tối đa thiệt hại kinh tế cho ngời sử dụng lao động, tiết kiệm
cho ngân sách Nhà nớc. Quỹ sử dụng để trợ cấp cho ngời lao động và gia đình họ
khi họ gặp phải rủi ro và một phần chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH.
2. Nguồn hình thành và các mục đích sử dụng của quỹ BHXH.
Nguyên tắc hoạt động của quỹ BHXH là cân đối thu- chi.
8
* mục đích sử dụng
quỹ BHXH đợc sử dụng chủ yếu cho hai mục đích sau .
- chi trả và trợ cấp các chế độ BHXH.
- Chi phí cho sự ngiệp quả lý.
3. Phân loại quỹ BHXH.
Để quản lý và sử dụng quỹ BHXH một cách có hiệu quả cần phải phân loại
quỹ BHXH. Có nhiều cách phân loại quỹ BHXH theo các tiêu thức khác nhau, có
thể phân loại nh sau:
* Phân loại theo tính chất sử dụng.
- Quỹ ngắn hạn: Chi trả cho các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp nhẹ.
- Quỹ dài hạn: Chi trả trợ cấp hu trí, tử tuất, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp nặng. Quỹ này chịu ảnh hởng của tài chính tiền tệ.
* Phân loại theo các chế độ.
- Quỹ hu trí, tử tuất.
- Quỹ TNLĐ và BNN.
- Quỹ thất nghiệp.
- Quỹ ốm đau, thai sản.
* Phân loại theo đối tợng.
- Quỹ cho công chức.
- Quỹ cho lực lợng vũ trang.
- Quỹ cho ngời lao động trong các doanh nghiệp.
- Quỹ cho các loại lao động khác.
4. Quản lý quỹ BHXH.
Chính sách BHXH không phải là hoạt động tinh thần mà nó phải giải quyết
quan hệ xã hội cụ thể. Quản lý BHXH bao gồm hai phần khăng khít:
* Quản lý Nhà nớc về BHXH (mặt vĩ mô)
9
đối tợng này đợc ngân sách đài thọ hoàn toàn).
Giai đoạn từ quý II năm 1964 đến năm 1986.
Để phù hợp với yêu cầu quản lý mới, theo Quyết định số 62/CP ngày
10/04/1964 của Hội Đồng Bộ Trởng giao bớt nhiệm vụ quản lý một phần quỹ bảo
hiểm xã hội cho Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội. Trong đó tỷ lệ thu phí bảo
hiểm xã hội là 4,7% quỹ tiền lơng chỉ để lại cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam số thu 3,7% tổng quỹ tiền lơng để chi trả cho 3 chế độ ngắn hạn và chi sự
11
nghiệp khác, còn 1% do Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội thu.
Giai đoạn từ năm 1987 đến tháng 9 năm 1995
Trong giai đoạn từ năm 1987 đến tháng 9/1995, thực hiện theo Quyết định số
181/HĐBT ngày 30/10/1986 của Hội Đồng Bộ Trởng nâng mức đóng góp của
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý từ 3,7% tổng quỹ lơng lên 5% tổng
quỹ lơng.
Từ khi có Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số12/CP ngày
26/01/1995 và Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ, hệ thống Bảo
hiểm xã hội Việt Nam đợc thành lập để quản lý thống nhất quỹ và sự nghiệp bảo
hiểm xã hội trên cơ sở thống nhất các tổ chức bảo hiểm xã hội hiện nay ở Trung -
ơng và địa phơng thuộc hệ thống Lao động Thơng binh và Xã hội và Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam để giúp Thủ Tớng Chính phủ chỉ đạo công tác quản lý
quỹ bảo hiểm xã hội và thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội theo
pháp luật của Nhà nớc.
Theo qui định hiện hành thì quĩ đợc hình thành trên cơ sở 15% tổng quĩ lơng của
ngời sử dụng lao động, 5%tiền lơng của ngời lao động, bên cạnh đó còn có sự
đóng góp của nhà nớc, nguồn khác(lãi do đầu t từ quĩ nhàn rỗi, tổ chức từ thiện...).
Từ khi có cơ chế mới này, nguồn thu của quỹ bảo hiểm xã hội đã không ngừng
tăng lên và có thể đáp ứng đợc nhu cầu chi phí bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên nguồn
thu quỹ này tăng là do hiện nay những ngời phải đóng góp bảo hiểm xã hội lớn
trong khi những đối tợng hởng mới cha nhiều, số đang hởng thì vẫn do ngân sách
Nhà nớc đảm nhận. quỹ bảo hiểm xã hội mặc dù đã trở thành" xơng sống" của hệ
tính
6 tháng
cuối
1995
Năm
1996
Năm
1997
Năm
1998
Năm
1999
Năm
2000
1.Số đơn vị
tham gia
BHXH
18.566 30.789 34.815 49.628 59.404 61.404
2.Tổngsố
lao động
Ngời 2.275.9
98
2.821.4
44
3.162.3
52
3.355.3
89
3.579.4
27
3.683.8
25
3.992.6
04
4.326.7
02
5.564.07
8
6.Số tiền đã
thu trong
năm
Tr.đ 788.48
6
2.569.7
33
3.445.6
11
3.875.9
56
4.186.0
54
5.215.23
3
13
7. Tỷ lệ đã
thu/phải thu
% 94 100 94 97 97 94
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
Từ bảng trên ta thấy số thu của quỹ bảo hiểm xã hội tăng nhanh qua các năm.
Tính đến 6 tháng cuối năm 1995 số tiền thu bảo hiểm xã hội mới thu đợc 788.486
- Chi quản lý bộ máy.
Hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam chính thức thực hiện chi trả 5 chế độ bảo
hiểm xã hội cho các đối tợng hởng chính sách từ quỹ bảo hiểm xã hội và nguồn
ngân sách Nhà nớc bảo trợ. Ngày 01/10/1995, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã xây
dựng, hình thành và từng bớc hoàn thiện cơ chế xét hởng các chế độ bảo hiểm xã
hội. Theo nguyên tắc tập trung chỉ giao cho bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ơng trực tiếp xem xét các chế độ các chế độ hởng bảo hiểm xã
hội, theo đúng các quy định của pháp luật. Việc chi trả bảo hiểm xã hội ở các tỉnh,
các địa phơng nhìn chung trong những năm qua đặc biệt từ năm 1995 trở lại đây,
luôn đảm bảo đủ, kịp thời đến tay đối tợng. Trong chi trả chế độ trợ cấp ốm đau,
thai sản đã ứng trớc từ quỹ bảo hiểm xã hội trên 22 tỷ đồng để làm quỹ luân
chuyển thanh toán các chế độ trên và thực hiện nguyên tắc chi trả theo chứng từ
gốc hợp lệ, nên đã giảm đến mức thấp nhất các thất thoát do chi sai nguyên tắc chế
độ. Ngoài ra một số cơ quan bảo hiểm xã hội địa phơng đã triển khai mô hình thí
điểm chi trả trực tiếp cho các đối tợng hu trí, tuất, mất sức lao động. Thông qua mô
hình này đã quản lý chặt chẽ số tăng, giảm đối tợng và phát hiện ra nhiều hiện tợng
tiêu cực nh khai man hồ sơ hoặc hởng quá thời gian quy định, đã xử lý và thu hồi
giảm chi cho ngân sách Nhà nớc hàng tỷ đồng. Riêng các khoản chi trợ cấp ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp theo Điều 36 Điều lệ bảo hiểm
xã hội đợc chi 5% quỹ tiền lơng, nhng do thực hiện cơ chế quản lý bảo hiểm xã hội
chặt chẽ theo các quy định về chứng từ do Bộ Tài chính ban hành nên trong năm
1996 chỉ chi khoảng 1,3% so với quỹ lơng tơng ứng với 130 tỷ đồng. Nh vậy đã
giảm chi đợc khoản 3,7% quỹ tiền lơng, tơng ứng với khoảng 380 tỷ đồng. Do
không chi hết cho các chế độ trên nên đã bổ sung vào quỹ hu trí và tử tuất. Ta có
bảng tình hình chi trả cho các đối tợng hởng chế độ BHXH sau:
Bảng2: Các đối tợng hởng chế độ BHXH hàng tháng.
Đơn vị: Ngời.
15