Chuyên đề thực tập
Lớp Bảo hiểm 41B
Lời mở đầu
Bảo hiểm xã hội ở nớc ta là một trong những chính sách lớn của Đảng và
Nhà nớc đối với ngời lao động. Chính sách BHXH đã góp phần quan trọng trong
việc trợ cấp vật chất, hỗ trợ đời sống cho những đối tợng hởng BHXH và gia đình
họ khi gặp phải rủi ro, biến cố trong cuộc sống nh ốm đau, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp hoặc chết dẫn đến giảm hoặc mất nguồn thu nhập. Chính sách
BHXH cũng có tác dụng động viên công nhân viên chức, lực lợng vũ trang yên
tâm công tác sản xuất, chiến đầu góp phần thắng lợi vào công cuộc xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng
với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và có sự quản lý của Nhà nớc
theo định hớng XHCN. Chính vì vậy chính sách BHXH cũng phải thay đổi
cho phù hợp, Bộ Luật lao động đợc Quốc hội thông qua năm 1994 có hiệu lực
thi hành từ 1/1/1995, trong đó chế độ chính sách bảo hiểm xã hội cũng đợc quy
định trong Chơng XII bộ Luật này và có liên quan đến một số điều ở các chơng
khác. Để thể chế các quy định trong Bộ Luật lao động, năm 1995 Chính phủ đã
ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định số 12/CP, Nghị định số
45/CP quy định cụ thể về đối tợng tham gia, mức đóng góp, điều kiện để đợc h-
ởng, mức hởng đối với từng chế độ, đồng thời quy định hình thành Quỹ bảo hiểm
xã hội và giao cho Bảo hiểm xã hội Việt Nam thống nhất quản lý.
Theo quy định thì Quỹ bảo hiểm xã hội đợc hình thành chủ yếu từ
đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động, đồng thời chi trả các
chế độ bảo hiểm xã hội cho ngời lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội
cũng nh những ngời nghỉ hởng chế độ bảo hiểm xã hội. Quỹ BHXH là một
quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính kinh tế vừa
mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng bảo đảm
cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển. Việc đảm bảo hệ thống tài
chính cho quỹ BHXH là hết sức cần thiết và mang ý nghĩa sống còn đối với hoạt
động của BHXH. Nh vậy Quỹ BHXH là một nội dung quan trọng đảm bảo chính
hái lợm, săn bắn thú rừng, sản phẩm làm ra phân phối bình quân nên khi có ai
gặp khó khăn, bất lợi trong cuộc sống thì cả cộng đồng chia sẻ gánh chịu.
Trong xã hội phong kiến, quan lại dựa vào bổng lộc của nhà Vua, còn dân
c thì dựa vào sự đùm bọc lẫn nhau của họ hàng, làng xã...với cách giải quyết này
thì ngời gặp khó khăn hoàn toàn thụ động trông chờ vào sự hảo tâm của phía giúp
đỡ. Do vậy sự giúp đỡ mới chỉ là khả năng, có thể hoặc không có thể, có nhiều
hoặc có ít hoàn toàn không chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển đã làm xuất hiện
việc thuê mớn nhân công. Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhng
về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho ngời lao động một số thu nhập nhất
định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn,
thai sản...Trong thực tế, nhiều khi các trờng hợp trên không xảy và ngời chủ
không phải chi ra một đồng nào. Nhng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải
bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế mâu thuẫn chủ-
thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc
đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và tác động đến nhiều mặt đời sống
KTXH. Do vậy nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn, sự can
thiệp này một phần làm tăng đợc vai trò của nhà nớc, mặt khác buộc cả giới chủ
và giới thợ đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đợc tính toán chặt chẽ
dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với ngời làm thuê. Số tiền đóng góp của
cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ
này còn đợc bổ sung từ ngân sách nhà nớc khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống
Nguyễn Đức Thông
3
Chuyên đề thực tập
Lớp Bảo hiểm 41B
cho ngời lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan
hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của ngời lao động đợc dàn trải, cuộc sống của
ngời lao động và gia đình họ ngày càng đợc đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy
mình có lợi và đợc bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thờng, tránh đợc
Lớp Bảo hiểm 41B
góp một khoản tiền trích trong thu nhập để lập một quỹ dự trữ. Các khoản đóng
góp vào BHXH bao gồm: đóng góp của ngời lao động, chủ sử dụng lao động và
của nhà nớc. Mục đích của việc hình thành quỹ này là để trợ cấp cho những ngời
gặp phải rủi ro, tránh đợc những hụt hẫng về thu nhập cho họ. Sự hỗ trợ này đợc
lấy từ quỹ BHXH nên giảm và tiết kiệm đợc chi phí cho NSNN.
Ngoài ra bản chất kinh tế còn thể hiện ở chỗ ngời lao động chỉ đóng một
phần nhỏ trong thu nhập của mình nhng do nhiều nguồn hình thành khác nên quỹ
BHXH có khoản tiền lớn đảm bảo đủ chi trả tài chính cho họ khi phát sinh nhu
cầu đợc thanh toán. Quỹ hoạt động theo nguyên tắc số đông bù số ít . Khoản
tiền tạm thời nhàn rỗi đợc sử dụng cho hoạt động đầu t sinh lời. Bởi lẽ giữa thời
gian và khoản tiền đóng góp của các bên tham gia BHXH và thời gian và khoản
chi trả trợ cấp BHXH cho những ngời hởng chế độ là không đồng nhất, chính
điều này đã làm cho quỹ BHXH có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi.
Nh vậy rõ ràng BHXH đợc đặc trng bằng sự vận động của các nguồn tài
chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH nhằm góp phần ổn định cuộc
sống của ngời lao động và gia đình họ khi gặp phải rủi ro làm giảm hoặc mất thu
nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động. BHXH phản ánh các quan hệ kinh tế
trong quá trình phân phối lại các nguồn lực giữa các chủ thể tham gia tạo lập và
sử dụng quỹ BHXH.
1.3- Bản chất XH của BHXH.
Bản chất xã hội của BHXH thể hiện ở chỗ quỹ BHXH là một bộ phận của
tổng sản phẩm trong nớc đợc xã hội tổ chức, quản lý bảo tồn và phân phối lại cho
ngời lao động. Thực chất quỹ BHXH chính là một phần tổng sản phẩm nhỏ nhng
khi gặp rỉu ro đợc cả cộng đồng trợ giúp để giúp đỡ vợt qua khó khăn, hoạn nạn.
Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra đợc sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các
tầng lớp dân c trong xã hội và góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở
rộng sức lao động tạo điều kiện mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định trật
tự xã hội.
BHXH mang tính nhân văn nhân đạo sâu sắc vì lợi ích của con ngời trong
tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mình mà có những hình thức tổ chức
BHXH riêng phù hợp. Tuy vậy, ở tất cả các quốc hia đều có chung một điểm là:
BHXH do Nhà nớc thống nhất và quản lý. Từ khi BHXH xuất hiện đến nay, hoạt
động này vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính cộng đồng, nhân văn lớn, điều
này cũng có nghĩa là dù kinh tế có phát triển đến mức độ nào, dù có biến động
nh thế nào về thể chế chính trị xã hội thì bản chất BHXH vẫn không thay đổi, vẫn
Nguyễn Đức Thông
6
Chuyên đề thực tập
Lớp Bảo hiểm 41B
là một trong những chính sách quan trọng của quốc gia. BHXH có những tác
dụng sau:
2.1- BHXH nhằm giúp ngời lao động ổn định cuộc sống khi gặp rủi ro.
Mục đích lớn nhất của BHXH là đảm bảo cuộc sống ổn định cho ngời lao
động và gia đình họ khi gặp rủi ro, giảm hoặc mất sức lao động ảnh hởng đến thu
nhập. Do đó, BHXH có tác dụng rất lớn đối với ngời lao động, làm cho họ yên
tâm với công việc.
Nói là bảo đảm thay thế bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động là
nói sự thay thế bù đắp đó nhất định xảy ra, chắc chắn xảy ra khi ngời lao động bị
rơi vào các trờng hợp làm giảm hoặc mất thu nhập nói trên và hội đủ các điều
kiện theo quy định thì họ đợc hởng trợ cấp với mức hởng, thời điểm và thời gian
hởng theo quy định của Nhà nớc. Ngoài ra BHXH còn làm cho ngời lao động gắn
bó với công việc, sống và làm việc có trách nhiệm hơn với chính mình và đối với
cộng đồng- điều này đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao năng suất, hiệu quả
làm việc của ngời lao động. BHXH góp phần hạn chế và điều hoà các mâu thuẫn
xảy ra giữa ngời lao động và giới chủ, tạo môi trờng làm việc ổn định cho tất cả
các bên khi tham gia BHXH để từ đó tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh đạt hiệu quả cao thực hiện tăng trởng và phát triển kinh tế.
2.2- Gắn bó lợi ích giữa ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà n-
ớc.
nghĩa vụ và quyền lợi của ngời sử dụng lao động và ngời lao động theo quy định
của pháp luật. Qua đó tạo điều kiện để ngời lao động yên tâm làm việc còn ngời
sử dụng lao động chủ động hơn trong việc quản lý và sử dụng lao động trong quá
trình hoạt động của mình. Chức năng giám đốc còn thể hiện ở các khâu nghiệp
vụ của hoạt động BHXH và thực hiện chính sách BHXH.
3- Lịch sử phát triển BHXH trên thế giới.
Cuối thế kỷ 19, chính quyền nhiều bang ở Đức bắt tay trực tiếp với giới
thợ thuyền thiết lập quỹ ốm đau do chính những ngời thợ phải đóng góp bắt buộc
để tơng trợ những lúc gặp rủi ro, ốm đau. Sự kiện này đợc đánh dấu vào năm
1850. Thủ tớng Đức bấy giờ là Bismarsk đã phát triển thành hệ thống BHXH, mở
đầu bằng bảo hiểm ốm đau, năm 1883 và đợc giao cho hội tơng tế quản lý. Đến
năm 1884, mở tiếp bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp ( tức tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp ) do các hiệp hội giới chủ quản lý ( chủ yếu vì do giới chủ phải đóng
góp ). Đến năm 1889 phát triển thêm bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật do
các tỉnh quản lý. Lúc này những hệ thống quản lý BHXH gồm 3 thành viên xã
hội: ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc đều có phần đóng góp của
mình vào BHXH và cùng quản lý. Mọi ngời làm công ăn lơng đều buộc phải
đóng góp, bất kể là ngời thợ lành nghề hay ngời lao động thủ công, già hay
Nguyễn Đức Thông
8
Chuyên đề thực tập
Lớp Bảo hiểm 41B
trẻ...Từ đó mọi ngời làm công ăn lơng bảo đảm có trợ cấp chắc chắn mỗi khi gặp
biến cố ngẫu nhiên hoặc gặp rủi ro. Mỗi ngời làm công ăn lơng đều tự hào về
tinh thần đoàn kết của mình với đồng nghiệp bất hạnh, cả ngời làm công ăn lơng
và ngời sử dụng lao động đều thấy có lợi ích chung vì vừa có lợi cho ngời lao
động vừa có lợi cho doanh nghiệp.
Sáng kiến về BHXH của chính quyền Bismarsk đợc nhiều nớc châu Âu
tiếp nhận. Từ thập kỷ 30 của thế kỷ 20 liên tiếp các nớc Mỹ Latinh, Hoa Kỳ,
Canada đều áp dụng; từ sau đại chiến thế giới lần hai và sau khi giành đợc độc
Mọi hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:
+ Các chế độ đợc xây dựng theo luật pháp mỗi nớc.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.
+ Mỗi chế độ đợc chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các
bên tham gia BHXH.
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.
+ Đồng tiền đợc sử dụng làm phơng tiện chi trả và thanh quyết toán.
+ Chi trả BHXH nh là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ đợc đầu t có
hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
+ Các chế độ BHXH cần phải đợc điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự
thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.
- Các quốc gia luôn luôn quan tâm đến công tác BHXH để góp phần ổn
định đời sống của ngời lao động khi còn đang làm việc và những ngời đã về hu.
Nên việc áp dụng hệ thống BHXH nh thế nào phải đợc tính toán cụ thể cho phù
hợp với các điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia mình. Hoạt động BHXH có
thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào độ chặt chẽ và tính hiệu quả của
các cơ chế chính sách, biện pháp thu BHXH. Có thể dễ dàng nhận ra một thực tế
đó là trong bất kỳ một thể chế kinh tế xã hội nào thì hoạt động BHXH vẫn phụ
thuộc vào NSNN ở các mức độ khác nhau, vấn đề này là phụ thuộc ít hay nhiều,
điều này còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thực tế ở mỗi giai đoạn phát triển của mỗi
quốc gia.
- Kinh nghiệm của một số nớc phát triển cho thấy Nhà nớc phải ban hành
hệ thống văn bản pháp luật về BHXH ( Luật, Nghị định, các văn bản hớng dẫn thi
hành) tạo nên hành lang pháp lý về BHXH. Hệ thống văn bản pháp luật sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách BHXH.
- Việc đề ra các chính sách BHXH phải dựa trên các nguyên tắc bắt buộc,
để có thể thu hút đợc ngày càng nhiều đối tợng tham gia; vấn đề này ngày càng
trở nên quan trọng bởi sự an toàn của quỹ BHXH. Việc chi trả các chế độ BHXH
Nguyễn Đức Thông
1.1- Đảm bảo mọi thành viên trong xã hội đều có quyền tham gia và h-
ởng quyền lợi về BHXH.
Nguyễn Đức Thông
11
Chuyên đề thực tập
Lớp Bảo hiểm 41B
Yêu cầu này xuất phát từ quyền bình đẳng của mọi công dân trong xã hội,
một quyền lợi cao nhất mà mọiquốc gia đều thừa nhận và cam kết thực hiện.
Thực hiện yêu cầu này là sự đảm bảo mọi thành viên trong xã hội, trớc hết là
những ngời có nhu cầu tham gia vào lĩnh vực BHXH mà không hề có bất cứ một
sự phân biệt nào. Nhà nớc với t cách là ngời quản lý toàn bộ và đại diện quyền lợi
của mọi thành viên trong xã hội có trách nhiệm đứng ra tổ chức hệ thống BHXH
để đáp ứng nhu cầu đó. Việc đảm bảo thoả mãn nhu cầu này phải đợc thực hiện
trên cơ sở một hệ thống pháp luật với những quy định luật pháp và chính sách
thích hợp. Đồng thời phải dựa trên cơ sở một hệ thống tổ chức BHXH phát triển
thống nhất và hoạt động có hiệu quả cao. Còn có một bộ phận lớn cha tham gia
vào BHXH chứng tỏ những hạn chế của hệ thống BHXH trong việc thực hiện
nguyên tắc này. Đây là một vấn đề cần đợc giải quyết ở nớc ta trong thời gian tới.
2.2- BHXH phải: Đảm bảo cho ngời lao động về mức thu nhập đẻ họ có
thể duy trì đợc cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời cúng nh khi hết tuổi
lao động.
2.3- BHXH vừa mang tính bắt buộc vừa mang tính tự nguyện.
Trớc hết BHXH phải mang tính bắt buộc, đó là quá trình tiến tới xã hội
hoá hoàn toàn BHXH và ở đây thể hiện rõ nhất vai trò của Nhà nớc trong lĩnh
vực này. Tính bắt buộc đợc thể hiện trong các nghĩa vụ tham gia và đóng góp,
bao gồm mức tiền đóng và thời gian tham gia theo mỗi chế độ của BHXH. Đó tr-
ớc hết phải là trách nhiệm pháp lý của ngời lao động và ngời sử dụng lao động
tham gia vào BHXH vì sự an toàn của cuộc sống không chỉ của mỗi ca nhân, một
tổ chức mà đó còn phải làmột sự an toàn lớn hơn đó là an toàn của cả xã hội nói
chung. Tính bắt buộc này, trong hầu hết các nớc đợc thể chế hoá băng các chính
tính trả cho thời gian hởng. Đó cũng là tính xã hội, tính cộng đồng.
Do vậy khó có đợc một sự công bằng mangtính tuyệt đối, nhng phải đảm
bảo sự hợp lý và trớc hết là vì lợi ích số đông của cộng đồng. Tính công bằng sẽ
đợc nâng cao cùng với việc nâng cao trình độ tổ chức và quản lý trong lĩnh vực
BHXH.
2- Đối tợng của BHXH và vai trò của các bên tham gia.
2.1- Đối tợng của BHXH.
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và nền
kinh tế hàng hoá bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nớc châu Âu. Năm 1883, ở n-
ớc Phổ ( CHLB Đức ) đã ban hành đạo luật BHYT. Một số nớc châu Âu và bắc
Mỹ mãi đến cuối những năm 1920 mới có đạo luật về BHXH. BHXH là một hệ
thống đảm bảo thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi khi ngời lao động bị giảm hoặc
mất khả năng lao động, bị mất việc làm vì các nguyên nhân rủi ro nh: ốm đau, tai
Nguyễn Đức Thông
13