MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN Ở VIỆT NAM - Pdf 22

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN Ở VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
Tất cả mọi người trong chúng ta đều mong muốn có một cuộc sống khoẻ
mạnh, ấm no, hạnh phúc. Nhưng trong cuộc sống không ai có thể lường hết
được mọi rủi ro có thể xẩy ra với bản thân hay gia đình như ốm đau, bệnh
tật…Các chi phí khám chữa bệnh này không thể xác định trước, vì vậy dù lớn
hay nhỏ đều gây khó khăn cho gia đình đặc biệt đối với những người có thu
nhập thấp. Điều quan trọng hơn là những rủi ro này có thể làm suy giảm sức
khoẻ, suy giảm khả năng lao động, vừa kéo dài thời gian không lao động vừa
làm cho cuộc sống khó khăn hơn.
Để có thể khắc phục khó khăn trên lại vừa chủ động về tài chính khi có rủi
ro về sức khoẻ xảy ra mỗi người có những biện pháp khắc phục khác nhau
như rút tiền tiết kiệm, bán tài sản, nhờ sự giúp đỡ của người thân, đi vay…
Các biện pháp trên đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định lại khó áp
dụng trong trường hợp thời gian kéo dài và lặp đi lặp lại. Vì vậy Bảo Hiểm Y
Tế ra đời nhằm hỗ trợ cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro về sức
khoẻ góp phần ổn định đời sống và đảm bảo an toàn xã hội.
Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, đời sống con người được nâng cao,
nhu cầu khám chữa bệnh cũng tăng lên. Trong khi đó chi phí khám chữa bệnh
ngày càng cao do:
- Ngành y tế áp dụng công nghệ, máy móc hiện đại trong việc chuẩn
đoán điều trị bệnh.
- Thuốc men tăng giá do biến động giá cả chung của thị trường. Đặc biệt
có những bệnh phải sử dụng thuốc biệt dược, chi phí lớn.
1
Do đó cần phải vận động mọi người trong xã hội tham gia Bảo Hiểm Y
Tế nhằm giảm gánh nặng ngân sách Nhà nước và cũng để đảm bảo an toàn
cho chính bản thân mình khi gặp rủi ro về sức khoẻ. Càng ngày Bảo Hiểm
Y Tế càng tỏ rõ vai trò quan trọng trong đời sống con người.
PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHYT VÀ TIẾN TRÌNH
THỰC HIỆN BHYT TOÀN DÂN Ở VIỆT NAM.

đùm lá rách”, “mình vì mọi người, moi người vì mình”
Như vậy BHYT là một phạm trù KTXH tất yếu của xã hội phát triển và
tiến tới
thực hiện BHYT toàn dân là một yêu cầu khách quan. Tiến tới BHYT toàn
dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà toàn Đảng toàn dân phải
phấn đấu thực hiện:
- BHYT toàn dân vừa là mục tiêu, vừa là biện pháp tiến tới chăm sóc sức
khoẻ toàn dân. Điều này cũng có nghĩa mọi người dân Việt Nam không phân
biệt giàu nghèo, địa vị tầng lớp, khu vực…đều được chăm sóc sức khoẻ qua
3
chế độ BHYT. Mọi người dân Việt Nam đều bình đẳng như nhau trong việc
chăm sóc sức khoẻ khi ốm đau, bệnh tật. Điều này cũng đồng nghĩa với việc
đạt đựơc mục tiêu công bằng bình đẳng trong xã hội. Đây còn là cơ sở đảm
bảo cho con người ta dù mắc bệnh nặng, chữa trị dài ngày, chi phí cao thì gia
đình họ cũng bớt được phần gánh nặng.
- BHYT toàn dân còn là biện pháp tài chính nhằm thanh toán từng phần
các khoản chi phí khám chữa bệnh cho các cơ sở y tế. Ngay khi đi vào hoạt
động BHYT đã chi trả cho những người tham gia gặp rủi ro, nguồn kinh phí
này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động tài chính của các cơ sở y
tế. Bởi đó là nguồn thu đáng kể giúp cải thiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị
khám chữa bệnh cho các cơ sở (số thu BHYT luôn bằng 1/3 ngân sách Nhà
nước dành cho y tế). Phương thức nộp một phần viện phí thông qua BHYT là
một chính sách đúng đắn, nó giúp huy động nguồn thu đóng góp của cả người
lao động và người sử dụng lao động - nó thể hiện được nghĩa vụ và trách
nhiệm của chủ sử dụng lao động, của bản thân người lao động đối với sức
khoẻ cuả họ từ đó duy trì ổn định sản xuất.
- Như đã nói ở trên, hoạt động của BHYT là một công cụ điều tiết xã hội,
đặc biệt khi ở Việt Nam việc quản lý thu nhập của người lao động còn chưa
chặt chẽ và công cụ thuế thu nhập hoạt động chưa được nhiều. Bên cạnh đó
BHYT còn huy động được nguồn thu của nhiều đối tượng như học sinh, sinh

diện cho cơ quan, đơn vị, tập thể…đứng ra ký kết hợp đồng.
Khi mới triển khai BHYT, thông thường các nước đều có hai nhóm đối
tượng tham gia: bắt buộc và tự nguyện. BHYT bắt buộc áp dụng đối với
công nhân viên chức Nhà nước và một số đối tượng như người về hưu có
hưởng lương hưu. Còn BHYT tự nguyện áp dụng cho mọi thành viên khác
trong xã hội có nhu cầu và thường giới hạn trong độ tuổi nhất định tuỳ từng
quốc gia.
Hiện nay ở Việt Nam BHYT tiến hành bắt buộc cho các đối tượng: lao
động Việt Nam làm trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh tế
thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị-xã
hội, đoàn thể hưởng lương từ ngân sách, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, khu chế xuất, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở lên, người đang nghỉ hưu, người có
công với cách mạng…BHYT tự nguyện áp dụng cho các đối tượng khác trong
xã hội kể cả người nước ngoài đến làm việc, học tập, du lịch tại Việt Nam.
b. Phạm vi BHYT:
BHYT là hoạt động đảm bảo thanh toán chi phí y tế cho người tham gia
Bảo Hiểm khi gặp rủi ro. Tuy mọi người dân đều có quyền tham gia Bảo
6
Hiểm nhưng trong một số trường hợp BHYT không chấp nhận Bảo Hiểm như
những người mắc bệnh nan y, cố tình tự huỷ hoại bản thân, trong tình trạng
say, vi phạm pháp luật…Mỗi người tham gia BHYT khi ốm đau, bệnh tật
được thanh toán chi phí với mức độ khác nhau. Mỗi quốc gia đều có những
chương trình sức khoẻ quốc gia khác nhau và cơ quan BHYT cũng không có
trách nhiệm đối với người được BHYT nếu họ khám chữa bệnh thuộc chương
trình này.
Ở Việt Nam hiện nay điều lệ BHYT loại trừ các bệnh sau: phong, lao,
sốt rét, tâm thần, phân liệt, bệnh dại, tiêm chủng phòng bệnh, dịch vụ kế
hoặch hoá gia đình, điều dưỡng, an dưỡng, chỉnh hình, thẩm mỹ, làm chân tay
giả, mắt giả, các bệnh bẩm sinh, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, tai nạn

phí.
Ngoài ra trong thực tế còn có một bộ phận BHYT mang đặc trưng của
BHXH và một bộ phận khác mang tính chất kinh doanh như Bảo Hiểm tai
8
nạn lao động, Bảo Hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật…Đặc biệt ở một số
ngành nghề, do tính chất đặc thù của lao động nên Chính phủ cho phép thực
hiện BHYT ngành như: BHYT giao thông vận tải, BHYT ngành than trực
thuộc BHYT Việt Nam…
4
. Quỹ BHYT:
Đó là một quỹ tài chính có quy mô phụ thuộc vào số lượng thành viên
đóng góp và mức đóng góp của thành viên đó. BHYT với mục đích nhân
đạo không đặt mục đích kinh doanh lên đầu, quỹ BHYT chủ yếu được hình
thành tự hai nguồn:do người sử dụng lao động và người lao động đóng góp
hoặc chỉ do đóng góp của người tham gia BHYT.
Ở Việt Nam tỷ lệ này được quy định như sau: đối tượng tham gia BHYT bắt
buộc đóng góp 3% tổng quỹ lương trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3,
người lao động đóng 1/3 nếu còn đang tham gia lao động, những người nghỉ
hưu mất sức lao động tham gia BHYT bắt buộc sẽ đóng 3% mức lương hưu
hoặc mức trợ cấp mất sức lao động. Số tiền này được nộp định kỳ 3 tháng một
lần.
Bên cạnh đó quỹ còn được bổ sung bằng các nguồn khác: sự hỗ trợ của
ngân sách Nhà nước, sự đóng góp ủng hộ của tổ chức từ thiện, lãi từ việc đầu
tư quỹ nhàn rỗi theo quy định của luật Bảo Hiểm. Ở Việt Nam điều lệ BHYT
quy định số tiền tạm thời nhàn rỗi được mua tín phiếu, trái phiếu do kho bạc
Nhà nước và các ngân hàng thương mại quốc doanh phát hanh; và được thực
9
hiện các biện pháp khác nhằm bảo tồn, tăng trưởng quỹ nhưng vẫn đảm bảo
nguồn chi trả khi cần thiết.
Quỹ BHYT được sử dụng với các mục đích sau:

hỏi phải có giải pháp trong chính sách xã hội, trong lĩnh vực y tế để tạo sự
công bằng trong việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Ở nước ta, BHYT là một chính sách xã hội được triển khai từ năm
1992, là một đổi mới, một giải pháp cơ bản trước mắt cũng như lâu dài trong
công tác chăm sóc sức khoẻ, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo. Kết quả thực
hiện BHYT những năm qua đã khẳng định điều đó. Một số con số cụ thể: số
lượng người có thẻ BHYT tăng lên đáng kể, từ hơn 3 triệu người năm 1993
lên 13 triệu người năm 2002. Tuy nhiên số lượng người được hưởng các chế
độ của BHYT còn chưa cao, chiếm gần 20% dân số cả nước, nghĩa là vẫn còn
rất nhiều người tự lo toàn bộ chi phí khám chữa bệnh ảnh hưởng đến đời sống
11
của họ và gia đình. Vì vậy để đảm bảo vấn đề an sinh xã hội, hỗ trợ công tác
xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội cho mọi người dân thông qua
BHYT là một giải pháp hữu hiệu. Hay nói cách khác thì BHYT toàn dân là
một nhu cầu tất yếu của xã hội. Đến nay nước ta đã có trên 7 triệu người đang
tham gia BHYT bắt buộc trong đó chủ yếu là cán bộ công chức, người lao
động hưởng lương, người hưởng chế độ BHXH hàng tháng, các đối tượng ưu
đãi xã hội…
Để có thể tiến tới BHYT toàn dân cần nghiên cứu đưa thêm một số
đối tượng tham gia BHYT bắt buộc như: những người lao động làm việc theo
hợp đồng đang hoạt động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

có dưới
10 lao động, người lao động trong các cơ sở bán công, dân lập, tư nhân thuộc
ngành y tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, thể dục thể thao, trạm y tế xã
phường, và các ngành sự nghiệp khác, người lao động trong các hộ sản xuất
kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, xã viên hợp tác xã…Những đối tượng này có số
lượng không nhỏ và ngày càng phát triển trong nền kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay. Các đối tượng này đã phải tham gia BHXH bắt buộc từ tháng
1/2003 theo nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ

Chính Phủ cũng đã có Nghị định số 63/2002/NĐ-CP quy định việc
được hưởng chế độ BHYT của các thân nhân sỹ quan quân đội nhân dân tại
ngũ. Sỹ quan Công An cũng nên được hưởng chế độ ưu đãi trong đó có vấn
đề chăm sóc sức khoẻ cho thân nhân vì họ cũng là lực lượng vũ trang có đặc
thù công tác tương tự như sỹ quan quân đội, từ đó tạo điều kiện cho họ yên
tâm công tác. Việc bổ sung thân nhân sỹ quan Công an nhân dân tại ngũ vào
đối tượng tham gia BHYT là một vấn đề cần thiết. Thủ tướng Chính Phủ đã
có quyết định số 139/2002/QĐ-CP ngày 15/10/2002 về việc khám chữa
bệnh cho người nghèo. Theo quyết định này, quỹ khám chữa bệnh cho
người nghèo được thành lập ở tất cả các tỉnh thành phố để thực hiện 2 hình
thức: một là mua thẻ BHYT từ cơ quan BHXH, hai là Ban quản lý quỹ phải
cấp Thẻ khám chữa bệnh cho 100% số người nghèo. Tuy nhiên hiện nay
mới chỉ có trên 3 triệu người nghèo chiếm 20% tổng số đối tượng được cấp
thẻ BHYT. Mặt khác theo quyết định 139 không chỉ những người nghèo mà
cả những người dân sống ở các vùng đặc biệt khó khăn như vùng núi phía
Bắc, các tỉnh Tây Nguyên cũng được hưởng chế độ khám chữa bệnh.Một số
tỉnh có trên 50% dân số thuộc diện đối tượng của quyết định số 139, do đó
có thể đánh giá việc khám chữa bệnh cho người nghèo thông qua hình thức
14
cấp thẻ BHYT còn có ý nghĩa tăng độ bao phủ dân số có thẻ BHYT, mở
rộng đối tương tham gia tiến tới BHYT toàn dân.

Có hai loại hình BHYT tự
nguyện: BHYT học sinh và BHYT tự nguyện cho nhân dân.
Hiện nay có gần 5 triệu em học sinh tham gia BHYT tự nguyện, tuy
nhiên số lượng tham gia BHYT tự nguyện nhân dân còn rất hạn chế. Đã có
các chương trình BHYT tự nguyện được tiến hành với nhiều nhóm đối
tượng khác nhau như cho nhân dân, các hội, đoàn thể , hộ gia đình…nhưng
số lượng người tham gia vẫn chưa nhiều. Mặc dù họ biết rõ lợi ích của
BHYT nhưng phần lớn người dân sống ở nông thôn có thu nhập thấp và

năng tài chính cho cả cộng đồng thì mục tiêu đó sẽ mất ý nghĩa.
BHYT là chính sách cần thiết cho mọi người, quá trình tổ chức thực
hiện tuy có bộc lộ những vấn đề cần được xem xét cả về chính sách cũng như
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status