luận văn thạc sỹ-hoàn thiện phát triển dịch vụ ngân hàng bidv trong thời kì hội nhập - Pdf 22


-1-

MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Mở đầu
Chương 1: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1 Cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng 1
1.1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng 1
1.1.2 Phân loại dịch vụ ngân hàng 2
1.1.2.1 Huy động vốn 2
1.1.2.2 Tín dụng 3
1.1.2.3 Dịch vụ thanh toán 4
1.1.2.4 Dịch vụ khác 5
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cung cấp và phát triển
dịch vụ của NHTM 6
1.2 Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng 9
1.2.1 Hội nhập quốc tế ngành ngân hàng Việt Nam 9
1.2.2 Các cam kết và lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng 11
1.2.3
Cơ hội và thách thức đối với hệ thống NHTM Việt Nam 13
1.2.4
Chiến lược hành động và sự thay đổi thị phần dịch vụ của các
NHTM Việt Nam trong xu thế hội nhập 15


2.3.2 Nguyên nhân khách quan 44
Kết luận chương 2 46
Chương 3: HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN
HÀNG ĐT&PT VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI
NHẬP

-3-

3.1 Định hướng và lộ trình phát triển dịch vụ BIDV 47
3.1.1 Định hướng chung 47
3.1.1.1 Xây dựng BIDV thành một tập đoàn tài chính – ngân hàng 47
3.1.1.2 Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ 48
3.1.2 Định hướng và lộ trình phát triển các loại dịch vụ 49
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển dịch vụ BIDV 57
3.2.1 Nâng cao chất lượng dịch vụ 57
3.2.2 Tăng cường bán chéo dịch vụ và phục vụ trọn gói 59
3.2.3 Hoàn thiện và thực hiện đồng bộ các chính sách của BIDV 60
3.2.3.1 Chính sách khách hàng 60
3.2.3.2 Chính sách giá phí 61
3.2.3.3 Chính sách phát triển dịch vụ 62
3.2.3.4 Chính sách marketing và phát triển thương hiệu 63
3.2.3.5 Chính sách phát triển mạng lưới kênh phân phối 64
3.2.4 Các giải pháp khác 65
3.2.4.1 Tăng cường năng lực tài chính 65
3.2.4.2 Nâng cao năng lực quản trị điều hành và phát triển nguồn
nhân lực 66
3.2.4.3 Nâng cấp và khai thác hệ thống công nghệ hiện đại 67
3.2.4.4 Hoàn thiện bộ máy tổ chức 69
3.2.4.5 Giải pháp khác 69
3.3 Các kiến nghị 70

ích dịch vụ chưa cao và chất lượng dịch vụ hạn chế.
Trước yêu cầu cấp thiết của quá trình hội nhập, đòi hỏi BIDV phải có
những giải pháp chiến lược cũng như những giải pháp cụ thể thiết thực cho sự

-5-

phát triển toàn diện hệ thống dịch vụ ngân hàng. Đó là lý do tác giả lựa chọn đề
tài “Hoàn thiện và phát triển dịch vụ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam trong tiến trình hội nhập” làm luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống dịch vụ BIDV. Trong đó, đề tài
nghiên cứu các loại dịch vụ BIDV cung cấp đến khách hàng là cá nhân và tổ
chức kinh tế trong và ngoài nước. Các dịch vụ trên thị trường liên ngân hàng và
dịch vụ BIDV cung cấp cho các TCTD khác không thuộc phạm vi nghiên cứu
của đề tài.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát thực tế: qua quá trình 4 năm công tác tại BIDV ở bộ
phận dịch vụ khách hàng, tác giả đã trực tiếp tiếp xúc và cung cấp dịch vụ của
BIDV đến khách hàng. Qua đó, tác giả nắm bắt được thực trạng hệ thống dịch vụ
BIDV hiện đang cung cấp, tìm hiểu về nhu cầu của khách hàng và xu hướng phát
triển dịch vụ trong thời gian tới.
Điều tra thống kê: Qua bảng khảo sát ý kiến được gửi đến 130 khách hàng
đang có quan hệ với BIDV, tác giả đã nhận được 118 phiếu phản hồi hợp lệ.
Mục tiêu điều tra nhằm thu thập những ý kiến khách quan của khách hàng về
thực trạng hệ thống dịch vụ BIDV hiện nay và những dịch vụ mong muốn của
khách hàng trong tương lai.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích và biện chứng duy
vật để đưa ra các kết luận chính xác hơn về vấn đề nghiên cứu.
4. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Đề tài phân tích một cách toàn diện thực trạng tình hình cung cấp dịch vụ

phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức
năng của một trung gian tài chính (huy động tiền gởi, cho vay…) thì mới gọi là
dịch vụ ngân hàng (như: dịch vụ chuyển tiền, tư vấn, môi giới, uỷ thác,…).
Ngược lại, có quan niệm lại xem xét dịch vụ ngân hàng dưới góc độ rộng hơn
khi cho rằng lĩnh vực dịch vụ ngân hàng bao hàm tất cả các hoạt động tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối,…của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng là
doanh nghiệp và cá nhân.
Khi nói lĩnh vực dịch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế, các nước đều quan
niệm dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng. Ở những nước phát triển, các ngân
hàng bán lẻ lớn có thể cung cấp đến vài trăm dịch vụ khác nhau cho khách hàng
là cá nhân và doanh nghiệp. Dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng và
không có giới hạn khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu của con người
ngày càng cao.
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), một dịch vụ tài chính là bất kỳ
dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung

-8-

cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến
bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm).
Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành nên dịch vụ tài chính.
Một khi Việt Nam đã gia nhập WTO, tham gia sân chơi của các nền kinh tế
lớn trên thế giới thì việc xem xét khái niệm dịch vụ tài chính cũng như khái niệm
dịch vụ ngân hàng theo quan niệm chung của các nước là vấn đề cần thiết và tất
yếu. Chính vì vậy, dịch vụ ngân hàng được đề cập trong Luận văn là một bộ
phận của dịch vụ tài chính được hiểu theo nghĩa rộng như đã nêu ở trên.
1.1.2 Phân loại dịch vụ ngân hàng
Nhu cầu xã hội ngày càng cao, dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa
dạng. Vì vậy, rất khó để thống kê toàn bộ các dịch vụ ngân hàng. Sự phân loại
tuỳ thuộc vào đặc điểm, chiến lược kinh doanh của mỗi ngân hàng nhưng về cơ

Đối với những người gởi tiền loại này ngân hàng thường cấp tín dụng để bù đắp
thêm phần thiếu hụt khi sử dụng theo mục đích của tiền gởi tiết kiệm.
Ở Việt Nam, loại tiền gởi tiết kiệm cũng được các NHTM áp dụng hết sức
đa dạng như: tiền gởi tiết kiệm không kỳ hạn, biết kiệm an cư của EAB, tiền gởi
tích luỹ thưởng và cơ hội vàng của Sacombank,…
1.1.2.2 Tín dụng
Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một
khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,
cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác (theo Điều 20 Luật
các Tổ chức tín dụng Việt Nam).
Nghiệp vụ tín dụng bao gồm những dịch vụ chủ yếu sau:
¾ Cho vay: Là một loại hình tín dụng được hiểu như là một giao dịch về
tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài

-10-

chính khác) và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi
vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh
toán.
Có nhiều loại cho vay tuỳ vào cách phân loại:
– Căn cứ vào thời hạn cho vay: cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
– Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay: vay sản xuất kinh doanh, xuất
nhập khẩu, tiêu dùng, du học,…
– Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: cho vay có đảm bảo
tiền vay và không có đảm bảo tiền vay…
¾ Chiết khấu: Ngân hàng được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có
giá đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và giấy tờ
có giá từ ngân hàng khác.
¾ Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở

khác (người bán, người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ,…) ở một địa điểm
nhất định.
− Nhờ thu: là một phương thức thanh toán, trong đó người bán sau khi hoàn
thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng, uỷ
thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền của người mua trên cơ sở hối phiếu
do người bán lập ra. Nhờ thu có hai loại: nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm
chứng từ.
− Tín dụng chứng từ: là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ
biến nhất hiện nay. Đây là phương thức thanh toán phức tạp, phí giao dịch cao
nhưng đảm bảo được nhiều nhất quyền lợi của cả bên bán và bên mua.
1.1.2.4 Các dịch vụ khác
Ngoài các dịch vụ nêu trên, để đáp ứng nhu cầu rất đa dạng của khách hàng
các ngân hàng ngày nay còn cung cấp rất nhiều các loại dịch vụ khác như: Dịch

-12-

vụ tư vấn, kinh doanh tiền tệ, dịch vụ đầu tư, dịch vụ kiều hối, uỷ thác, cho thuê
két sắt, dịch vụ thiết lập và thẩm định dự án, dịch vụ môi giới tiền tệ;…
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cung cấp và phát triển dịch vụ
của NHTM
Khả năng cung cấp và phát triển dịch vụ của NHTM tuỳ thuộc vào những
yếu tố sau:
¾ Năng lực tài chính
Trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, nguồn vốn chủ sở hữu đóng
vai trò quan trọng trong việc duy trì các hoạt động kinh doanh thường nhật và
đảm bảo khả năng phát triển lâu dài. Năng lực tài chính mang tính quyết định đối
với quy mô hoạt động của ngân hàng, chi phí cho đầu tư cơ sở vật chất, công
nghệ hiện đại… Nguồn vốn càng lớn càng tạo niềm tin cho công chúng và khả
năng huy động vốn của ngân hàng càng cao. Ngược lại, nguồn vốn thấp kéo theo
tỷ lệ an toàn vốn không đảm bảo dẫn đến những rủi ro cao trong hoạt động kinh

Nhân tố con người được xem là nguồn lực thiết yếu đối với mỗi ngân hàng.
Chất lượng dịch vụ ngân hàng cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào khả năng phục
vụ của nhân viên ngân hàng. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhanh chóng
và chính xác, đội ngũ nhân viên phải được đào tạo bài bản, nắm vững quy trình
nghiệp vụ, biết làm chủ công nghệ và tác phong phục vụ chuyên nghiệp.
¾ Hoạt động marketing và chăm sóc khách hàng
Hoạt động marketing và chăm sóc khách hàng hiệu quả có thể đem những
tiện ích của dịch vụ ngân hàng đến gần với khách hàng hơn. Marketing có thể
được tiến hành dưới nhiều hình thức như thông qua các chương trình quảng cáo,
khuyến mãi, thông qua những tiện ích của dịch vụ mang đến cho khách hàng,
thông qua cung cách và thái độ phục vụ, lấy khách hàng làm trung tâm của các
hoạt động kinh doanh.
Trong môi trường cạnh tranh quyết liệt ngày nay, hoạt động marketing và
chăm sóc khách hàng càng giữ một vai trò quan trọng giúp các ngân hàng tạo

-14-

dựng mối quan hệ thân thiết với khách hàng, xây dựng và phát triển thương hiệu
cho ngân hàng.
¾ Các định hướng chiến lược và chính sách của ngân hàng
Tuỳ vào chiến lược kinh doanh, chiến lược phát triển dịch vụ mà danh mục
dịch vụ các ngân hàng cung cấp sẽ có những đặc điểm khác nhau. Trên thực tế,
dịch vụ ngân hàng của các NHTM Nhà nước Việt Nam vẫn chưa đa dạng và
chưa khác biệt, thị trường mục tiêu của các ngân hàng này chưa rõ ràng là tập
trung bán buôn hay sẽ quay sang bán lẻ như các NHTM cổ phần. Các NHTM cổ
phần dường như đã xác định mục tiêu là phục vụ các DNVVN và khách hàng cá
nhân là chủ yếu, vì vậy danh mục dịch vụ của các NHTM cổ phần thường đa
dạng, nhiều tiện ích và hướng đến sự thoả mãn nhu cầu khách hàng nhiều hơn.
Khả năng cung cấp dịch vụ của một ngân hàng còn phụ thuộc vào việc xây
dựng và thực hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ như: Chính

định song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được ký ngày 13.7.2000, trong đó các
cam kết về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia đối với các ngân hàng Hoa Kỳ
được nới lỏng dần trong thời gian 9 năm; gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
(WTO), Việt Nam đã cam kết nới lỏng dần các hạn chế đối với hoạt động của
các định chế tài chính nước ngoài tại Việt Nam.
Ngày 7/11/2006, tại Geneva - Thuỵ Sĩ, WTO đã chính thức thông qua việc
Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này, sau 11 năm tham gia các
cuộc đàm phán cả song phương lẫn đa phương với tất cả các thành viên WTO.
Gia nhập WTO, Việt Nam đã bắt đầu một giai đoạn mở cửa thị trường và hội
nhập thực sự. Đối với thị trường dịch vụ ngân hàng cũng không là ngoại lệ.
Trong gia đoạn đầu, Việt Nam phải thực hiện một số cam kết và thực hiện các
nghĩa vụ theo tiến trình hội nhập.

-16-

Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) – văn bản pháp lý điều
chỉnh hoạt động thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên WTO – quy định
những nghĩa vụ và nguyên tắc hoạt động trong thương mại dịch vụ. Các nghĩa vụ
của GATS có thể được phân theo hai nhóm: Các nghĩa vụ chung được áp dụng
cho tất cả các nước thành viên và nghĩa vụ thực hiện các cam kết về tiếp cận thị
trường và đối xử quốc gia trong các ngành và phân ngành của mỗi nước. Theo
đó, khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, ngành Ngân hàng sẽ phải tuân
thủ những nghĩa vụ quy định trong GATS, cụ thể như sau:
Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) là nghĩa vụ chung bắt buộc trong GATS. Theo
nguyên tắc MFN, Việt Nam có nghĩa vụ đối xử như nhau với tất cả các nước
hoặc nếu Việt Nam dành ưu đãi cho một nước thì phải dành ưu đãi cho tất cả các
nước thành viên, trừ khi Việt Nam có những miễn trừ MFN được nêu trong
Danh mục cam kết của mình khi gia nhập WTO. Như vậy, các ưu đãi áp dụng
hạn chế trên cơ sở song phương sẽ được dành cho tất cả các nước thành viên
WTO. Chẳng hạn như, khi Việt Nam dành ưu đãi cho Hoa kỳ trong lĩnh vực dịch

Theo như cam kết, ngành ngân hàng sẽ được mở cửa theo lộ trình sau:
− Ngân hàng nước ngoài chỉ được phép thiết lập hiện diện thương mại tại
Việt Nam dưới các hình thức sau: văn phòng đại diện, chi nhánh NHTM nước
ngoài, NHTM liên doanh trong đó có tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài không
vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh và kể từ ngày 1 tháng 4 năm
2007, ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập.
− Cam kết của Việt Nam về lộ trình thực hiện trong lĩnh vực dịch vụ ngân
hàng, tài chính không phải là dài (5 năm) và không phải giống nhau ở các lĩnh
vực hoạt động. Trong vòng 5 năm kể từ khi gia nhập, Việt Nam có thể hạn chế
quyền của một chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi bằng Đồng
Việt Nam từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng

-18-

theo tỷ lệ trên mức vốn được cấp của chi nhánh phù hợp với lộ trình sau:
Ngày 1 tháng 1 năm 2007: 650% vốn pháp định được cấp
Ngày 1 tháng 1 năm 2008: 800% vốn pháp định được cấp
Ngày 1 tháng 1 năm 2009: 900% vốn pháp định được cấp
Ngày 1 tháng 1 năm 2010: 1000% vốn pháp định được cấp
Ngày 1 tháng 1 năm 2011: Đối xử quốc gia đủ.
Như vậy, đến năm 2011, cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn sẽ rất
quyết liệt. Công nghệ hiện đại và trình độ quản lý cũng như tiềm lực tài chính
dồi dào của ngân hàng nước ngoài sẽ là ưu thế cơ bản tạo ra sức ép cạnh tranh
trong toàn ngành ngân hàng và buộc các ngân hàng Việt Nam phải tăng thêm
vốn, và đầu tư kỹ thuật, cải tiến phương pháp quản trị, hiện đại hoá hệ thống
thanh toán để nâng cao khả hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh.
− Vấn đề tham gia cổ phần:
Cam kết của Việt Nam trong tiến trình hội nhập WTO về các hình thức
pháp lý của tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là đầy đủ và
không bị hạn chế, ở cả loại hình NHTM và tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Đối

(NT). Đó là cơ hội pháp lý để chúng ta tạo lập và tăng cường vị thế trên thương
trường, từng bước xoá bỏ được sự phân biệt đối xử trong kinh doanh.
− Động lực thúc đẩy cải cách ngân hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động,
khả năng cạnh tranh
Hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy cải cách, buộc các ngân hàng trong
nước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, khắc phục những nhược điểm
còn tồn tại, đồng thời phải tăng cường năng lực cạnh tranh trên cơ sở nâng cao
trình độ quản trị điều hành và phát triển dịch vụ ngân hàng trong điều kiện mới.
− Học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ công nghệ và quản trị ngân hàng
Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng là điều kiện tốt để thu hút đầu tư trực
tiếp vào lĩnh vực tài chính – ngân hàng, đồng thời công nghệ ngân hàng và kỹ

-20-

năng quản lý tiên tiến được các ngân hàng trong nước tiếp thu thông qua sự liên
kết, hợp tác kinh doanh và hỗ trợ kỹ thuật của các ngân hàng nước ngoài.
− Khơi thông, thu hút nguồn vốn và mở rộng quan hệ đại lý quốc tế
Nhờ hội nhập quốc tế, các ngân hàng trong nước sẽ tiếp cận thị trường tài
chính quốc tế một cách dễ dàng hơn. Đồng thời, quan hệ đại lý quốc tế của ngân
hàng trong nước có điều kiện phát triển rộng rãi để tạo điều kiện cho các hoạt
động thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại phát triển.
¾ Những thách thức:
− Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn trên bình diện rộng hơn và sâu hơn
Các NHTM trong nước sẽ phải cạnh tranh bình đẳng với các ngân hàng
nước ngoài trong điều kiện họ có nhiều lợi thế hơn về năng lực tài chính, kinh
nghiệm quản lý, công nghệ, dịch vụ ngân hàng hiện đại. Các ngân hàng với chất
lượng dịch vụ hàng đầu trên thế giới sẽ mở rộng hoạt động tại Việt Nam mà
không còn bị giới hạn về phạm vi hoạt động, đối tượng khách hàng và hệ thống
phân phối. Trong khi đó, các dịch vụ hiện nay của các NHTM Việt Nam còn đơn
điệu, chưa tiện lợn, chất lượng thấp, chủ yếu vẫn là dịch vụ ngân hàng truyền

biết tận dụng cơ hội sẽ tạo thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức.
1.2.4 Chiến lược hành động và sự thay đổi thị phần dịch vụ của các
NHTM Việt Nam trong xu thế hội nhập
Từ ngày 01.04.2007, các ngân hàng nước ngoài có thể thâm nhập vào Việt
Nam dưới các hình thức hiện diện thương mại chính là: thành lập ngân hàng
100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh hoặc nhà đầu tư nước ngoài sẽ mua
cổ phần của các NHTM Việt Nam theo tỉ lệ cho phép. Thị trường dịch vụ tài
chính – ngân hàng mở cửa, các NHTM trong nước sẽ phải chịu những sức ép
mạnh mẽ trong quá trình cạnh tranh. Trước tình hình đó, các NHTM trong nước
đã chuẩn bị cho cuộc đua mới bằng hàng loạt các chiến lược hành động, cụ thể
như sau:

-22- Thứ nhất, các ngân hàng trong nước đã gia tăng nhanh chóng vốn điều lệ.
Giải pháp này nhằm nâng cao tiềm lực tài chính và khả năng cạnh tranh của các
ngân hàng. Sacombank đã tăng vốn điều lệ từ 1.250 tỷ VND (31.12.2005) lên
2.089 tỷ VND (31.12.2006), ACB tăng từ 950 tỷ VND lên 1.100 tỷ VND,
Techcombank tăng từ 555 tỷ VND lên 1.500 tỷ VND
( )1
,
Thứ hai, các NHTM cổ phần đua nhau bán lại cổ phần cho các ngân hàng
nước ngoài. Sacombank đã bán 10% vốn cổ phần cho ANZ và 20% vốn cổ phần
cho công ty tài chính quốc tế IFC thuộc WB và Dragon Financial Holdings của
Anh. ACB thì bán 8.56% cổ phần cho Standard Chartered Bank của Anh và 21%
vốn cổ phần cho Connaught Investor (thuộc Jardine Mutheson Group) và IFC
thuộc WB. Bên cạnh đó NHTM cổ phần Phương Đông bán 10% vốn cổ phần
cho BNP Paris của Pháp, Techcombank bán 10% vốn cổ phần cho HSBC,
NHTM cổ phần Phương Nam bán 10% vốn cổ phần cho UOB của Singapore

quyền mua cổ phiếu, nhằm tìm kiếm những chuyên viên giỏi, đội ngũ quản lý
tài năng. Về vấn đề này, các NHTM cổ phần đã tỏ ra năng động hơn NHTM Nhà
nước. Chính vì vậy, thời gian gần đây tình trạng chảy máu chất xám từ NHTM
Nhà nước sang NHTM cổ phần và ngân hàng nước ngoài ngày càng gia tăng.
Nhìn chung, trong giai đoạn hội nhập và cạnh tranh quyết liệt, hệ thống
NHTM cổ phần đã thể hiện được sự phát triển vững chắc và ngày càng chiếm
lĩnh nhiều hơn thị phần các loại dịch vụ. Ngược lại, hệ thống NHTM Nhà nước
lại chậm đổi mới và có nguy cơ mất dần thị phần hoạt động trước sự mở rộng
quy mô hoạt động của các đối thủ cạnh tranh.
Điển hình là thị phần cho vay trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, trong
năm 2006, khối NHTM cổ phần vươn lên mạnh mẽ, vượt lên trên khối NHTM
Nhà nước về thị phần, lần đầu tiên chiếm tỷ trọng thị phần cho vay lớn nhất toàn
bộ hệ thống ngân hàng trên địa bàn. Tính đến hết năm 2006, khối NHTM cổ
phần đạt tổng dư nợ cho vay là 82.978 tỷ VND, chiếm tỷ trọng thị phần là
37.77%, tăng gần 3.8% thị phần so với năm 2005. Trong khi đó khối NHTM
Nhà nước dư nợ chỉ đạt 77.560 tỷ VND, chiếm 35.5% thị phần cho vay trên địa
bàn và giảm hơn 3.0% so với tỷ trọng thị phần cuối năm 2005; khối chi nhánh
ngân hàng nước ngoài đạt dư nợ 44.998 tỷ VND, chiếm 20.48% và tăng 2.1% tỷ

-24- trọng thị phần, dư nợ còn lại thuộc về khối Ngân hàng liên doanh và Công ty tài
chính, Công ty cho thuê tài chính
( )2
.
Nguyên nhân của vấn đề trên là bởi vì trong khi khối NHTM Nhà nước vẫn
còn chậm đổi mới thì khối NHTM cổ phần đã nhanh chóng thực hiện những biện
pháp như liên doanh, liên kết, bán cổ phần cho các ngân hàng và tổ chức tài
chính nước ngoài. Ngoài ra, khối NHTM cổ phần còn thực hiện nhiều giải pháp

trương, cơ chế phát triển kinh tế ngày càng thuận lợi tiếp tục thu hút người dân,
doanh nghiệp mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, số lượng các
doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phát triển nhanh hơn, nhiều hơn. Và như vậy, tiềm
năng về dịch vụ ngân hàng của những đối tượng khách hàng này cũng sẽ tăng
lên.
Hai là, nhu cầu về dịch vụ của khách hàng cá nhân, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ngày càng cao. Thị trường tiềm năng là rất lớn.
Hiện nay chỉ có một phần nhỏ trong số hơn 84 triệu dân Việt Nam tiếp cận
với các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Mới có trên 6.5 triệu tài khoản cá nhân và
khoảng 4.75 triệu thẻ được phát hành. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng cao hơn thì nhu cầu về
dịch vụ ngân hàng cũng tăng lên. Các dịch vụ như: chuyển tiền thanh toán, tư
vấn tài chính, thanh toán định kỳ phí bảo hiểm, cước điện thoại, internet… sẽ
đáp ứng những nhu cầu tất yếu của người dân Việt Nam. Đặc biệt tại các thành
phố lớn, các nhu cầu về sinh hoạt, phương tiện đi lại, về mua nhà ở ngày càng
tăng. Vì vậy, nhu cầu về tín dụng tiêu dùng (vay mua xe, mua nhà, mua sắm vật
dụng gia đình…), nhu cầu về các loại thẻ tín dụng, thẻ ATM, thanh toán qua
máy POS… nhằm đáp ứng tối đa sự thuận lợi trong chi tiêu cũng sẽ tăng.
Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến tạo tiền đề cho các giao
dịch điện tử và thương mại điện tử phát triển, gắn liền với nó là nhu cầu về dịch
vụ ngân hàng hiện đại. Đây vừa là thị trường dịch vụ tiềm năng vừa là xu hướng
phát triển dịch vụ tất yếu mà các NHTM cần phải thực hiện nhằm năng cao khả
năng cạnh tranh của mình.
Ba là, sự phát triển của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là xu hướng tất yếu bởi ưu

Trích đoạn Thực trạng hệ thống dịch vụ BIDV Nguyên nhân từ trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân Nguyên nhân khách quan Định hướng chung Nâng cấp và khai thác hệ thống công nghệ hiện đại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status