Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
VŨ HỒNG CƢỜNG TIẾNG HÁT VỀ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI
TRONG DÂN CA H'MÔNG HÀ GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGÔ THỊ THANH QUÝ
Thái Nguyên, năm 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian nghiên cứu đề tài "Tiếng hát về tình yêu đôi lứa trong
dân ca H'mông Hà Giang", đến nay chúng tôi đã hoàn thành và được phép
bảo vệ luận văn.
Với tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, các cô
khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên đã giúp
đỡ tận tình về tất cả các mặt cho tôi trong quá trình học tập. Tôi xin chân
thành cảm ơn các bộ phận quản lý, lãnh đạo trường Đại học Sư phạm, đặc biệt
là khoa sau đại học, đã chỉ dẫn, quản lý chặt chẽ về thủ tục, thời gian và
những điều kiện cần thiết cho việc hoàn thành Luận văn Thạc sĩ.
PGS-TS : Phó Giáo sư - Tiế n sĩ .
STT : Số thứ tự.
VHTT : Văn hó a thông tin. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu. 1
Nội dung 12
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và vấ n đề khả o sá t thƣ̣ c tế . 12
1.1. Nguồ n gố c lịch sử củ a ngườ i H’mông Hà Giang 12
1.2. Điều kiện tự nhiên, xã hội, văn hó a của người Mông Hà Giang 14
1.3. Tổng quan về dân ca H'mông và dân ca H’mông Hà Giang 27
Chƣơng 2. Những nội dung chính trong tiếng hát về tình yêu lứa đôi ở
dân ca H’Mông Hà Giang. 33
2.1. Tiế ng há t tình yêu đôi lứ a 33
2.2. Tiếng hát tình yêu đôi lứa - Những nỗi niềm tâm sự qua câu hát 36
2.2.1. Bài hát về nỗ i nhớ 36
2.2.2. Bài hát thở than, trách móc 43
2.2.3. Bài hát ao ước, thề thố t 49
2.3. Khúc hát li biệt 59
Chƣơng 3. Nghệ thuật thể hiệ n tiếng hát tình yêu đôi lứa trong dân ca
H’Mông Hà Giang. 65
3.1. Tính trữ tình 65
3.2. Thể thơ 75
3.3. Một số thủ pháp nghệ thuật 78
3.4. Môi trường lưu truyền và nghệ thuật diễn xướng 93
dao, dân ca vô cùng phong phú và đa dạng.Đặc biệt là những bài dân ca về
tình yêu đôi lứa , đó là kho bá u mang vẻ đẹp độc đáo về tâm hồ n nhữ ng ngườ i
H’mông. Nghiên cứ u nhữ ng bà i dân ca ấ y , chính là tìm hiểu và khám phá về
nhữ ng vẻ đẹ p mang giá trị nhân văn sâu sắ c trong tâm hồ n con ngườ i . Dân ca
H’mông xứ ng đá ng là mộ t mảnh đất văn họ c chấ t chứ a nhiề u tiề m năng cầ n
đượ c chú ý khai thá c hơn nữ a , đấ y chính là hành động thể hiện đạo lý uống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
nước nhớ nguồn, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc. Hưởng
ứng lời kêu gọi của tổ chức UNESCO trong chương trình “Thập kỉ trở về
nguồn”. Đặc biệt đó cũng chính là một hoạt động cần được triển khai tích cực
để hưởng ứng Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện học sinh
tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động.
1.1.2. Về mặt thực tiễn
Là một giáo viên có nhiều năm sống và công tác tại nơi đa đầu tổ quốc –
Hà Giang, riêng đối với cá nhân tôi, tìm đến với đề tài này là một hành động
tri ân đối với mảnh đất và con người nơi đây đã và đang cưu mang đùm bọc
những người cán bộ lên đây công tác với những tình cảm yêu thương gắn bó.
Những đức tính tốt đẹp của người dân Hà Giang được hun đúc từ trong
truyền thống, bén rễ từ những bài dân ca được lưu giữ từ ngàn đời.
Cũng như các dân tộc anh em khác, người H'mông ở Hà Giang đặc biệt
yêu quý và trân trọng vốn văn hóa dân gian của dân tộc mình, trong đó có
dân ca.
Trong lch sử truyền thống của người H'mông Hà Giang cách đây
khoảng năm sáu mươi năm, dân ca là món ăn tinh thần không thể thiếu trong
các dp lễ hội, và trong sinh hoạt hàng ngày của người H'mông Hà Giang. Dân
ca đã giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều tiết các mối quan hệ xã
hội trong một cộng đồng, một dân tộc, góp phần hình thành nhân cách, tâm
Trong đó một số tác phẩm tiêu biểu của các dân tộc ít người đã được sử dụng
như: Sử thi Đăm Săn của dân tộc Êđê, Đẻ đất đẻ nước của người Mường,
truyện thơ Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái Điều đó thể hiện sự đa
dạng, phong phú của vốn văn học dân gian dân tộc, nhưng nhu cầu muốn
được tìm hiểu nền văn học dân gian của chính dân tộc mình, đa phương mình
là một nhu cầu chính đáng và cần được đáp ứng. Tất nhiên không thể đưa hết
vào trong chương trình phổ thông những tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
của cả năm mươi tư dân tộc anh em và của từng đa phương khác nhau. Hiện
tại, trong cấu trúc sách giáo khoa môn Ngữ văn phổ thông, các nhà biên soạn
sách đã dành một số tiết văn học đa phương theo hướng mở, để giáo viên và
học sinh tự tìm hiểu về vốn văn học dân gian của dân tộc mình, đa phương
mình. Vấn đề đó còn được tìm hiểu trong các tiết học ngoại khóa trong nhà
trường, giúp các em hiểu biết về vốn văn hóa của cha ông, qua đó biết trân
trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hó a . Tuy nhiên, trong các tiết học
tự chọ n, giáo viên và học sinh lại cảm thấy khó khăn và lúng túng khi thiếu tư
liệu tham khảo để dạy và học những kiến thức văn học ở ngay chính đa
phương mình.
Đó chính là lý do thực tiễn thôi thúc tôi làm đề tài này, hi vọng sẽ đóng
góp một phần tư liệu cho giáo viên và học sinh Hà Giang có thể tham khảo
trong những tiết dạy về văn học đa phương.
1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dân ca H’mông Hà Giang phong phú về đề tài, đặc sắc về nghệ thuật và
sâu xa về ý tứ. Tuy nhiên việ c sưu tầ m và nghiên cứ u chưa thự c sự đượ c chú
ý. Đã có một số công trình sưu tầm, nghiên cứu về dân ca H’mông nó i chung
và dân ca của người H'mông Hà giang nói riêng.
1.2.1. Sưu tầm
là những bài dân ca do tác giả sưu tầm từ một số nghệ nhân người H’mông ở
các huyện vùng cao Hà Giang như: Đồng Văn, Quản Bạ, Mèo Vạc Đây là
nhữ ng công trình có giá tr để cho các nhà nghiên cứu dựa vào đó để tìm hiểu
về vố n văn hó a đặ c sắ c củ a cá c dân tộ c vù ng cao .
1.2.2. Nghiên cứu
Dân ca H’mông đã được tìm hiểu trong một số giáo trình của các tác giả:
Đỗ Bình Tr, Võ Quang Nhơn, Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu với những
đặc trưng riêng qua sự khái quát của các tác giả. Đặc biệt là nhờ sự tâm huyết
của những người yêu vốn văn hóa của cá c dân tộ c vù ng cao mà cá c giá trị tinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
thầ n củ a ngườ i H’mông đã đượ c tìm đế n và giớ i thiệ u trong cá c công trình
nghiên cứ u củ a mộ t số nhà văn, nhà nghiên cứu văn học dân gian và trong các
luậ n văn, đề tài nghiên cứu .
Năm 1965, nhà văn Tô Hoài đã để tâm đến một mảng đề tài trong dân ca
H’mông qua bà i viế t Tiế ng há t là m dâu , tiế ng đau thương căm hờ n , tiế ng
thiế t tha hy vọ ng ngà n đờ i củ a phụ nữ Mè o . Trong bà i viế t , tác giả đã tập
trung đế n chủ đề tiế ng há t là m dâu củ a dân ca H’mông . đó đã phân tích, cắ t
nghĩa về số phận bất hạnh của những người phụ nữ H’mông trong xã hội cũ .
Năm 1966, tác giả Doãn Thanh trong Mấ y ý kiế n về dân ca Mè o đã giớ i
thiệ u tậ p Dân ca Mo do chí nh tá c giả sưu tầ m . Trong đó , tác giả đã đưa ra
nhữ ng nhậ n xé t quan trọ ng về phương diệ n nộ i dung , nghệ thuậ t củ a dân ca
H’mông. Đi và o nộ i dung , tác giả khng đnh tấ t cả nhữ ng khía cạ nh tì nh cả m
đều đưc miêu tả qua cá c bà i há t , và qua dân ca có th nhận thức đưc khá
đầ y đủ về nhiề u mặ t đờ i số ng xã hộ i , đờ i số ng tì nh cả m củ a ngườ i Mè o , càng
thấ y họ là nhữ ng ngườ i già u tì nh cả m và rấ t coi trọ ng tín nghĩ a . Đồng thời,
tác giả đã có những nhận đnh khái quát về phương diện kết cấu , phương phá p
miêu tả , hình tượng nghệ thuật , ngôn ngữ … củ a dân ca H’mông . Nhữ ng nhậ n
Gần đây nhất là đề tài nghiên cứu khoa học của Đỗ Ngọc Hoa (ĐHSP
Thái Nguyên) về vấn đề Diễn xướng dân ca Mông Hà Giang (2008). Đây là
một đề tài nghiên cứu củ a sinh viên mớ i chỉ dừ ng lạ i ở dướ i gó c độ hình thức
biểu diễn của dân ca H’mông Hà Giang chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu các
khía cạnh giá tr nội dung và nghệ thuật của dân ca H’mông Hà Giang.
Như vậy, cho đến nay, dân ca H’mông Hà Giang vẫn chưa được giới
nghiên cứu quan tâm một cách đầy đủ. Mặc dù những người biết hát và thuộc
nhiều dân ca H’mông ở Hà Giang rất ít ỏi và là những người có tuổi, do đó
việc tìm hiểu và nghiên cứu dân ca H’mông ở Hà Giang được xem như là một
việc làm cần thiết nếu không muốn nhữ ng sả n phẩ m văn hó a văn họ c dân gian
đó mai một theo thời gian.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
1.3. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, phân tích về Tiếng hát về tình yêu lứa đôi trong dân ca
H’mông ở Hà Giang từ hướng tiếp cận văn học dân gian. Từ đó để thấ y đượ c
cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của một loại hình văn học , văn
hóa của người H’mông .
Tiếng hát về tình yêu lứa đôi trong dân ca H’m ông ở Hà Giang đã
phản ánh một cách sâu sắc những vẻ đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của
người H’mông ở Hà Giang, qua đó đã xây dựng được những thể loại văn học
dân gian, trong đó dân ca là mộ t thể loạ i tiêu biểu, đại diện cho tính cách và
tâm hồn của người H’mông Hà Giang. Từ đó có thể khẳ ng định vai trò và tác
dụng của Tiếng hát về tình yêu lứa đôi trong dân ca H’m ông ở Hà Giang
trong truyền thống cũng như trong hiện tại.
Mục đích nghiên cứu cũng cần k hng đnh rng Tiếng hát về tình yêu lứa
đôi trong dân ca H’mông ở Hà Giang có vai trò vô cùng quan trọng trong
giáo dục, hình thành nhân cách con người, góp phần làm nên nét độc đáo của
1.5.1. Tìm hiểu những tiền đề lí luận chung có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu của luận văn.Tìm hiểu vai trò, v trí của dân ca về tình yêu đôi lứa
của dân tộc H’mông Hà Giang.
1.5.2. Nhiệm vụ chủ yếu của chúng tôi là khảo sát những giá tr về nội
dung và nghệ thuật của những bài dân ca của người H’mông ở Hà Giang viết
về tình yêu đôi lứa, qua đó làm nổi bật những nét đặc sắc của những thể loại
đó trong văn học dân gian Hà Giang nói riêng và văn học dân gian Việt Nam
nói chung.
1.5.3. Từ tổng tập Dân ca Mông Hà Giang (tập 1,2,3) gồm 131 bài do
Hùng Đình Quý chủ biên, theo bảy chủ đề lớn viết về tình yêu đôi lứa (Bài
hát chào, hát mời ; Bài hát tỏ lòng ; Bài hát về nỗi nhớ ; Bài hát thở than,
trách móc ; Bài hát ao ước, thề thốt ; Bài hát li biệt), chúng tôi đã tiến hành
khảo sát, phân loại để lựa chọn ra những bài, những câu dân ca nói về nét đẹp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
trong tình yêu đôi lứa của dân ca H’mông Hà Giang cả về hình thức nghệ
thuật và nội dung.
1.6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Mỗi một phương pháp nghiên cứu đều có những ưu, nhược điểm riêng.
Bởi vậy, với mong muốn thu được kết quả cao nhất, ở đề tài này chúng tôi sử
dụng nhiều phương pháp khác nhau. Trong đó xác đnh một số phương pháp
là cơ bản:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Phương pháp nghiên cứu phân tích , tổng hợp, so sá nh.
Phương pháp điền dã. Từ phương phá p nà y , xuấ t phá t từ thự c tế mà
chúng tôi tìm hiểu được them về môi trường sinh hoạt , phong tụ c tậ p quá n ,
nế p cả m nế p nghĩ củ a ngườ i dân tộ c H’mông Hà Giang để có thể lý giả i đượ c
nhữ ng tí n hiệ u thẩ m mỹ có trong nhữ ng bà i dân ca .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ VẤN ĐỀ KHẢO SÁT
THỰC TẾ DÂN CA H’MÔNG HÀ GIANG
1.1. Nguồ n gố c lịch sƣ̉ củ a ngƣờ i H’mông Hà Giang
Ngườ i H’mông ở nướ c ta nó i chung và ở Hà Giang nó i riêng tự gọ i mình
là Mông. Tộ c danh đó cũ ng cũ ng dù ng thố ng nhấ t cho ngườ i H’mông ở cá c
nướ c khá c như Trung Quố c , Thái Lan , Lào … Từ xa xưa người Hán đã gọi
ngườ i H’mông là ngườ i Mo – từ Mo là âm Hán chỉ người H’m ông – một bộ
lạc biết trồng lúa rấ t sớ m ở vù ng hồ Bà ng Hả i và hồ Độ ng Đình (Trung
Quố c). Theo truyề n thuyế t củ a nhữ ng ngườ i già , xưa kia , dân tộ c H’mô ng
cũng có một quốc gia riêng với biểu tượng : Hình đôi sừng trâu và cờ mầu đỏ .
Dấ u ấ n ấ y vẫ n cò n đế n ngà y nay (mộ t số gia đình ngườ i H’mông Hà Giang
vẫ n treo miế ng vả i đỏ trướ c cử a nhà và hình bộ sừ ng trâu để là m chố t trên củ a
cánh cửa chính mỗi nhà ).
Vào khoảng thế k thứ IX – XVI, các thế lực phong kiến Trung Quốc b ắt
đầ u mở rộ ng sự bà nh trướ ng về phương Nam . Ngườ i H’mông cũ ng không
tránh khỏi sự ảnh hưởng của những cuộc bành trướng đó .
Từ Tây Nam Trung Quố c , ngườ i H’mông di cư sang Việ t Nam vớ i ba
thờ i kỳ đông nhấ t : Thờ i kỳ đầ u tiên c ách đây khoảng trên 300 năm, họ từ Quý
Châu sang Đồ ng Văn (Hà Giang). Thờ i kỳ nà y tương ứ ng vớ i phong trà o đấ u
tranh củ a ngườ i H’mông ở Quý Châu vớ i nhà Minh Thanh . Thờ i kỳ thứ hai
hương, đồ ng bà o H’mông đã nhiề u lầ n nổ i dậ y hưở ng ứ ng nhữ ng cuộ c đấ u
tranh chung từ năm 1918 đến 1922 suố t dọ c biên giớ i từ Là o Cai đế n Hà
Giang. Sau đó lan dầ n đế n cá c tỉ nh phí a Tây Bắ c như Sơn La , Lai Châu. Sau
năm 1945, dướ i á nh sá ng cá ch mạ ng và theo lờ i kêu gọ i củ a Đả ng , của Bác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Hồ , ngườ i H’ mông Hà Giang đã hò a vào không khí chung củ a cuộ c khá ng
chiế n chố ng thự c dân Phá p và đế quố c Mỹ cù ng vớ i nhân dân cả nướ c .
Ngày nay, dướ i sự lã nh đạ o củ a Đả ng và chính phủ , đờ i số ng đồ ng bà o
H’mông đã có nhiề u thay đổ i . Nhữ ng truyề n thố ng tố t đẹ p đượ c phá t huy ,
nhữ ng tậ p tụ c xấ u b bài trừ . Ngườ i H’mông Hà Giang đang tiế n bướ c trên
con đườ ng đổ i mớ i củ a đấ t nướ c , cùng các dân tộc anh em đoàn kết xây dựng
quê hương, bảo vệ vững chắc vùng đất biên cương của tổ quốc .
1.2. Điều kiện tự nhiên - xã hội - văn hóa của ngƣời Mông Hà Giang
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Hà Giang - với tên gọi chính thức từ ngày 1/10/1991 (khi đượ c tá ch ra từ
tỉnh Hà Tuyên cũ ), với diện tích tự nhiên là 7.884,37 km
2
, dân số khoảng
724.353 người (theo số liệu điều tra ngày 1 tháng 4 năm 2009). Là một tỉnh
miền núi cao, nm ở cực Bắc của tổ quốc, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam và
Quảng Tây - Trung Quốc với đường biên giới dài 274 km. Phía nam giáp tỉnh
Tuyên Quang, phía đông giáp Cao Bng, phía tây giáp Yên Bái và Lào Cai.
Từ thị xã Hà Giang đế n thủ đô Hà Nộ i dà i khoả ng 255 km theo đườ ng chim bay.
Hà giang nm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu Hà Giang về cơ bản
vẫn mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc song lại có những đặc điểm
riêng, mát mẻ và lạnh hơn các tỉnh Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh Tây Bắc.
Hà Giang là nơi cư trú của trên 20 dân tộ c anh em đoà n kế t sinh số ng
H’mông gọi là "Tế giống". Loại nương dốc này dễ b xói mòn nên người
H’mông chỉ canh tác được vài ba vụ phải di chuyển luân canh. Tuy nhiên loại
nương rẫy còn rất ít.
Trên các sườn đồi nương thoai thoải, ít dốc người H’mông khai khẩn
thành các nương bậc thang, tiếng H’mông gọi là "Tế kế đây". Nương bậc
thang bề ngang hẹp nhưng tương đối bng phng xung quanh nương đồng bào
đắp bờ nhỏ để giữ ẩm, giữ nước mưa. Phía trên đường xẻ rãnh có hệ thống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
thoát nước khi mưa to nhm chống xói mòn. nương bậc thang, đồng bào
dùng cày trong khâu làm đất. Nương bậc thang là gạch nối giữa ruộng và
nương. Tuy nhiên nương bậc thang chưa phải là ruộng vì thiếu nước và đất có
độ thẩm thấu lớn.
Đặc biệt tại các huyện miền Tây Hà Giang như Hoà ng Su Phì , Xín Mần,
người H’mông còn sáng tạo ra loại hình canh tác trên ruộng bậc thang độc
đáo. Quy trình khai khẩn ruộng bậc thang là một điển hình ở thế ứng xử linh
hoạt với môi trường. Trước khi tiến hành khai khẩn ruộng bậc thang, người
H’mông phải chọn vùng đất có sườn núi có độ dốc dưới 40
0
có nguồn nước tự
nhiên hoặc nước mạch đùn tương đối bng phng và có mùn dày. Người
H’mông thường khai khẩn ngay sau khi ăn tết. Công việc làm ruộng bậc thang
rất nặng nhọc nên phải huy động cả dòng họ hoặc trai tráng cả làng tham gia.
Đầu tiên người H’mông dùng dao phát sạch cây cỏ. Sau đó tuỳ từng loại hình
đa hình nếu mảnh đất chọn có độ dốc cao sẽ đào, san ruộng từ phía trên núi
xuống chân núi. Nếu có độ dốc thấp, ít mùn sẽ đào, san ruộng từ phía dưới
lên. Công cụ đoàn san ruộng thường dùng cuốc bướm, nơi nhiều đá, rễ cây
phải dùng cuốc chim. Khi san ruộng, cả tập thể lao động phải chú ý tạo điểm
H’mông chiếm đa số với khoảng 195.000 người, chiế m 30,6% dân số của tỉnh
(theo số lượ ng thố ng kê ngà y 1 tháng 4 năm 2009), và chiếm 1/3 dân số người
Mông trên đất nước ta. Con số đó chứng tỏ " Hà Giang là cái nôi lớn của
người Mông" (chữ dùng của Hùng Đình Quý).
Người H’mông ở Hà Giang gồm hai nhóm chính: H’mông Trắng và
H’mông Hoa. Người H’mông Trắng sống tập trung ở các huyện phía Bắc
như: Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ. Người H’mông Hoa lại sinh sống chủ
yếu ở các huyện phía Tây như: Hoàng Su Phì, Xín Mần và rải rác ở một số
đa phương khác. Đặc điểm để phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa người
H’mông Hoa và H’mông Trắng chỉ là ở trang phục của người phụ nữ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
Người H’mông ở Hà Giang sống rải rác trên những sườn đồi, sườn núi
hiểm trở. Điều kiện sống như vậy nên việc canh tác nương rẫy là chủ yếu.
Cây lương thực chính của họ là cây ngô và cây lúa, trong đó chủ yếu là những
sản phẩm làm từ cây ngô. Sản phẩm chăn nuôi là dê, bò, ngựa, lợn, ong , tuy
nhiên các sản phẩm này mới chỉ dừng ở mức độ tự cung, tự cấp, do đó đời
sống của người H’mông nơi đây còn rất nghèo nàn, khó khăn.
Tuy có đờ i số ng vậ t chấ t thấ p nhưng ngườ i H’mông ở Hà Giang lạ i có
mộ t cuộ c s ống tinh thần tương đối phong phú và đa dạng , tạo nên truyền
thố ng văn hó a vớ i nhữ ng né t đặ c sắ c . Truyề n thố ng ấ y không chỉ thấ y ở
nhữ ng tậ p quá n canh tá c , chăn nuôi , ăn ở … mà cò n ở trong toà n bộ tín
ngưỡ ng, tâm linh, phong tục tập quán , trong cá c mố i quan hệ dòng họ , gia
đình, xã hội…
Vớ i tính cá ch mộ c mạ c , chân chấ t, ngườ i H’mông Hà Giang rấ t coi trọ ng
tín nghĩa và tình cả m cộ ng đồ ng . Tuy số ng rả i rá c , nhưng họ vẫ n có ý thứ c
hình thàn h nhữ ng khu vự c cư trú theo bả n là ng và gắ n bó , bảo vệ nhau khi
hoạn nạn.
hẹn ngày đón dâu . Đá m cướ i đượ c tổ chứ c long trọ ng và o ngà y là nh thá ng tố t
(thườ ng và o mù a xuân ). Nhà trai khi đế n đó n dâu phả i đem đầ y đủ tiề n và đồ
sính lễ, đoà n đó n dâu đi lẻ về chẵ n . Đá m cướ i phả i bắ t buộ c có phù rể , ngườ i
này sẽ cùng chú rể quỳ lạy tổ tiên nhà gái trước khi rước dâu đi . Theo phong
tục, ngườ i nhà gá i không đượ c đưa dâu đế n nhà trai . Trên đườ ng đưa dâu dù
hai nhà cá ch xa hay gầ n cũ ng phả i dừ ng lạ i để ăn trưa và cú ng thổ thầ n . Đoà n
đó n dâu về đế n nơi phả i đứ ng ngoà i chờ chủ nhân đem con gà trố ng đế n là m
lễ nhậ p môn mớ i đ ược vào nhà . Sau khi hoà n tấ t mộ t số thủ tụ c , nhà trai tổ
chứ c ăn uố ng và há t cả đêm để để mừ ng cô dâu mớ i . Sau đá m cướ i ba ngà y ,
cô dâu cù ng chú rể là m lễ lạ i mặ t bố mẹ , anh em nhà gá i rồ i về nà h chồ ng để
chung số ng vớ i nhau cho đế n hế t cuộ c đờ i .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
Mộ t né t độ c đá o trong hôn nhân củ a ngườ i H’mông ở Hà Giang là tụ c
ko v. Tục này diễn ra bởi nhiều lý do : đôi trai gá i yêu nhau nhưng cha củ a
mộ t hoặ c cả hai bên không đồ ng ý , cũng có khi nhà ngườ i con trai dù ng
quyề n thế để é p buộ c ngườ i con gá i phả i về là m vợ mình … Tụ c lệ nà y khiế n
cho ngườ i con gá i dù không đồ ng ý nhưng nế u đã bị ké o về nhà ngườ i ta hai
ba ngà y thì buộ c phả i lấ y ngườ i đó . Ngườ i H’mông quan niệ m con gá i đã bị
dùng gà trống đánh dấu nhập nhà có bỏ quay về bố mẹ đẻ cũng không nhận
nữ a. Chính vì vậy khi các cuộc cưỡng hôn tan vỡ thì người con gái chỉ biết
tìm đến cái chết. Đế n nay tụ c ko v đã có nhiề u thay đổ i , thườ ng hôn nhân là
kế t quả củ a tình yêu tự do . Tuy tụ c ko v vẫ n cò n nhưng là sự thỏ a thuậ n
trướ c củ a đôi lứ a . Giờ đây, hành động kéo vợ lại là sự khng đnh cho tình
yêu mã nh liệ t , khát vọng hạnh phúc của trai gái H’mông .
Cũng như các dân tộc khác , ngườ i H’mông ở Hà Giang quan niệ m vạn
vậ t hữ u linh (các vật đều có linh hồn ). Vế t tích tô tem giá o (thờ vậ t tổ ) chỉ còn
lại ở một vài dòng họ nhưng rất mờ nhạt . Đầu thế k XX, thiên chú a g iáo đã