cảm hứng về tình yêu lứa đôi trong truyện thơ nôm - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Ngọc Ánh

CẢM HỨNG VỀ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG
TRUYỆN THƠ NÔM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Ngọc Ánh

CẢM HỨNG VỀ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG
TRUYỆN THƠ NÔM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


5. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................................9
6. Những đóng góp của luận văn .......................................................................................9
7. Kết cấu luận văn ...........................................................................................................10

CHƯƠNG 1: MẤY VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG .................................................. 11
1.1. Truyện thơ Nôm .........................................................................................................11
1.1.1. Sự ra đời và phát triển ...........................................................................................11
1.1.2. Vấn đề phân loại ....................................................................................................12
1.1.3. Nội dung ................................................................................................................13
1.1.4. Hình thức ...............................................................................................................14
1.2. Khái niệm cảm hứng..................................................................................................15
1.3. Khái niệm tình yêu.....................................................................................................18
1.4. Chủ đề tình yêu trong văn học..................................................................................20

CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG VỀ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG TRUYỆN THƠ
NÔM NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG...................................................... 25
2.1. Ca ngợi tình yêu tự do ...............................................................................................25
2.1.1. Yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên ................................................................................25
2.1.2. Chủ động trong tình yêu ........................................................................................32
2.1.3. Yêu nhau theo tiếng nói trái tim ............................................................................42
2.2. Đấu tranh bảo vệ tình yêu, hạnh phúc .....................................................................46
2.2.1. Những biến cố xảy ra ............................................................................................46
2.2.2. Hi sinh vì tình yêu .................................................................................................54
2.2.3. Vượt qua gian khó .................................................................................................61
2.3. Khát vọng tình yêu.....................................................................................................68
2.3.1. Khát vọng tình yêu đẹp .........................................................................................68
2.3.2. Khát vọng hạnh phúc ái ân ....................................................................................72
2



cảm hứng để sáng tác nên những vần thơ óng ả cũng như những câu văn trau chuốt.
Sự đẹp đẽ và linh thiêng của tình yêu vốn đã được cha ông chúng ta nhận ra và ca
ngợi từ lâu. Từ khi còn nhỏ, con người đã biết yêu. Xuất phát đầu tiên là tình mẫu tử,
phụ tử, tình anh em ... và rộng hơn là tình yêu tổ quốc. Trong vô vàn những cung bậc
tình cảm ấy, tình yêu lứa đôi là một nốt nhạc vang lên du dương khiến xao xuyến
lòng người hơn bao giờ hết. Tình yêu trong thơ văn hướng ta đến những khát khao,
ước vọng tốt đẹp trong cuộc sống, giúp ta vượt qua những khó khăn, trắc trở lứa đôi,
đôi khi còn khiến ta thêm giữ vững tình cảm trong lòng.
Tình yêu vẫn luôn là một đề tài muôn thuở của văn học ở mọi giai đoạn từ văn
học dân gian truyền miệng đến nền văn học viết từ xưa đến nay. Nhắc đến những bài
thơ tình ta không khỏi nhớ đến những câu ca dao chuyển tải bao lời hò hẹn, nhớ
nhung của cha ông ta thuở trước, hay gần ta hơn như những nhà thơ thời nay: Xuân
Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận, Đỗ Trung Quân, Phan Thị Thanh Nhàn... Họ là những
nhà thơ trong giai đoạn thơ văn hiện đạị. Nhưng đã là người Việt Nam thì thật thiếu
sót nếu ta không nhớ đến kho tàng văn chương của cha ông từ ngàn xưa để lại: các
sáng tác về tình yêu trong văn học trung đại.
Văn học phản ánh cuộc sống con người vì thế địa hạt tình yêu trở thành mảnh
đất màu mỡ cho văn học, trong đó văn học trung đại đóng góp khối lượng lớn những
tác phẩm viết về tình yêu đôi lứa, tình nghĩa vợ chồng. Từ những tác giả khuyết danh

4


đến các tác giả hữu danh như nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du,
Đoàn Thị Điểm,….đều để lại cho hậu thế những tuyệt tác về tình yêu.
Truyện thơ Nôm là một trong những thể loại phát triển mạnh mẽ trong giai
đoạn trung đại. Qua truyện thơ Nôm, chúng ta có thể tìm hiểu về nếp sống, phong
tục, truyền thống văn hóa…của dân tộc mình. Những truyện thơ Nôm về tình yêu thể
hiện rất rõ đời sống tình cảm, quan niệm và cách ứng xử của cha ông trong tình
yêu.Chúng ta có quyền tự hào về những tác phẩm bất hủ về tình yêu như Truyện

Tác giả đã đề cập đến mối tình Kim Kiều và khẳng định nàng Kiều đã vượt qua
khuôn khổ lễ giáo phong kiến để tìm đến tình yêu tự do.
• Nguyễn Thị Ngọc Lan (1996),Vấn đề giới tính trong văn học cổ Việt Nam giai
đoạn thế kỉ XVIII- thế kỉ XIX, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Công trình đã khẳng định vấn đề giới tính trong đó có đề cập tới tình yêu nam nữ
như một biểu hiện trạng thái tâm lí tự nhiên của con người với vẻ đẹp nhân bản.
• Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb
Giáo dục.
Khi viết về truyện thơ Nôm, tác giả đã khái quát hình ảnh con người trong truyện thơ
Nôm đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ: “những con người chủ động trong tình yêu,
rất tích cực đấu tranh bảo vệ hạnh phúc”
• Nguyễn Mạnh Hùng (2000), Trên hành trình văn học trung đại, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Trong tài liệu trên có trích dẫn bài viết “Xung đột nghệ thuật và tư tưởng thẩm mĩ của
Hoa Tiên”, trong đó tác giả bài viết đã chỉ ra tư tưởng của tác phẩm Hoa Tiên là ca
ngợi tình yêu tự do, đồng thời là tư tưởng giải phóng tình cảm, thể hiện tinh thần hòa
hợp giữa tình yêu của cá nhân tự do với nghĩa vụ.
• Bùi Duy Tân (2001), Khảo luận một số thể loại tác giả - tác phẩm văn học
trung đại tập 2, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Công trình này đề cập ba tác phẩm viết về tình yêu gồm Truyện Song Tinh, Chinh
phụ ngâm và Truyền kì tân phả. Đồng thời, tác giả khẳng định các tác phẩm trên hoặc
ca ngợi tình yêu tự do, hoặc ca ngợi sức mạnh tình yêu,sự chung thủy, gắn bó, chống
6


lại các thế lực cường quyền, hoặc than thở cho hạnh phúc lứa đôi khi bị chiến tranh
làm cho trắc trở.
• Nguyễn Hữu Sơn (2005), “Mô típ tài tử giai nhân từ truyện Hoa Tiên đến Mai
Đình Mộng kí”, Văn học trung đại Việt Nam - Quan niệm con người và tiến

Công trình này nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Việt thể hiện qua tình yêu của
Kim Trọng và Thúy Kiều- hai nhân vật chính trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Trên đây tôi đã ghi lại một số công trình có liên quan ít nhiều đến đề tài “Cảm
hứng tình yêu đôi lứa trong truyện thơ Nôm”. Như đã nói ở trên, hiện nay chưa có bất
cứ công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề tình yêu trong văn học trung đại một
cách có hệ thống. Vì thế, trong khuôn khổ tài liệu mà tôi có được, tôi vô cùng trân
trọng những ý kiến, đề xuất khoa học của những người đi trước. Những tài liệu quý
giá trên sẽ là những định hướng cho tôi trong việc tìm hiểu vẻ đẹp tình yêu trong các
tác phẩm mà tôi tiếp nhận được.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn góp phần nhỏ của mình trong việc tìm
hiểu giá trị nội dung cũng như nghệ thuật thể hiện tình yêu trong các truyện thơ Nôm.
Mặt khác, qua những tác phẩm văn học ấy, người viết cố gắng tìm hiểu những giá trị
văn hóa dân tộc mình bởi lẽ hơn ở đâu hết văn học chính là kết tinh của tư tưởng tình
cảm, của văn hóa dân tộc. Từ đó, người viết mong mỏi chia sẻ và nhận được sự đồng
tình, đặc biệt của các bạn trẻ về tình yêu đẹp cũng như lối sống đẹp trong tình yêu cha
ông ta truyền dạy.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, người viết sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại được sử dụng trong quá trình sưu tầm tác
phẩm cũng như các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng trong so sánh đối chiếu các tác
phẩm cùng vấn đề giữa các giai đoạn văn học khác nhau cũng như trong các
sáng tác của các tác giả với nhau.
- Phương pháp lịch sử: Trong quan niệm tình yêu cha ông ta, có những giá trị
sống đẹp trường tồn trong từng tác phẩm vượt qua không gian và thời gian, vì
lẽ đó phương pháp lịch sử là không thể thiếu trong quá trình triển khai đề tài.
8




truyện thơ Nôm, từ đó cố gắng chỉ ra và hệ thống những nét đẹp trường tồn vốn đã
trở thành chuẩn mực cho lối sống và quan niệm sống của người Việt Nam ta.
Luận văn cũng mong muốn trở thành chiếc cầu nối bạn đọc ngày nay với
những sáng tác mang giá trị văn hóa của cha ông ta ngày xưa để cảm nhận cái hay,
cái đẹp, để bảo tồn và phát huy giá trị sống đẹp, đặc biệt là trong địa hạt tình yêu.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, bố cục luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung
Trong chương này, chúng tôi chủ yếu trình bày khái quát về nội dung các khái
niệm tình yêu, tình yêu đôi lứa cũng như sự ra đời và phát triển, vấn đề phân loại bên
cạnh nội dung, hình thức của truyện thơ Nôm của người Việt, các khái niệm về cảm
hứng cũng như nguồn gốc vấn đề tình yêu trong văn học trung đại.
Chương 2: Cảm hứng về tình yêu lứa đôi trong truyện thơ Nôm nhìn từ phương diện
nội dung
Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu giá trị nội dung của các truyện thơ Nôm về
mặt nội dung: ca ngợi tình yêu tự do, đấu tranh bảo vệ tình yêu và hạnh phúc cùng
những khát vọng trong tình yêu. Trong tương quan so sánh những giá trị đó trong
mạch nguồn truyền thống văn hóa dân tộc mà chủ yếu thông qua văn học dân gian,
chúng ta sẽ thấy được sức sống của truyền thống văn hóa Việt trong từng sáng tác
cũng như trong tâm lý tiếp nhận của người đọc.
Chương 3: Cảm hứng về tình yêu lứa đôi trong truyện thơ Nôm nhìn từ phương diện
nghệ thuật
Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu nghệ thuật thể hiện tình yêu đôi lứa trong
các truyện thơ Nôm, trong đó tập trung vào các phương diện như: ngôn ngữ, nhân vật
và giọng điệu.

10


kinh Phật nhằm truyền bá đạo Phật, tiêu biểu như Quan âm tống tử bản hạnh (dạng
11


cổ của Quan âm Thị Kính sau này), Nam Hải Quan âm bản hạnh (dạng cổ của truyện
Bà Chúa Ba)…
Về hình thức lưu truyền, truyện Nôm ra đời và tồn tại đầu tiên dưới hình thức
truyện thơ Nôm truyền khẩu. Sau một thời gian dài, khi phong trào truyện thơ Nôm
truyền khẩu phát triển mạnh mẽ thì các nho sĩ bình dân và bác học đã mạnh dạn sử
dụng loại hình văn học này để sáng tác hoặc ghi chép lại những truyện thơ Nôm đã có
từ trước. Từ đó xuất hiện truyện Nôm viết. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa xác định
được truyện Nôm viết xuất hiện vào thời gian nào nhưng chắc chắn trước thế kỉ
XVIII, truyện Nôm lục bát đã xuất hiện và đã có những thành tựu nhất định với đỉnh
cao chói lọi là Truyện Kiều (Nguyễn Du).
Tóm lại, truyện thơ Nôm là bộ phận văn học ra đời và phát triển từ thế kỉ XV
đến thế kỉ XIX. Thời kì phát triển cực thịnh của nó là từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX.
Cho đến đầu thế kỉ XX, việc sáng tác truyện thơ Nôm dần dần chấm dứt vì các thể
loại văn xuôi mới ra đời đã đủ sức thay thế nó.
1.1.2. Vấn đề phân loại

Hiện nay, người ta tiến hành phân loại các truyện thơ Nôm theo ba cách sau:
* Phân loại dựa vào nguồn gốc đề tài: có 3 loại
- Truyện thơ Nôm lấy đề tài từ các truyện cổ dân gian như: Trương Chi, Tấm
Cám, Thạch Sanh…
- Truyện thơ Nôm có nguồn gốc đề tài từ văn học Trung Quốc như: Truyện
Hoa Tiên, Nhị Độ Mai, truyện Phan Trần…
- Truyện lấy đề tài từ những sự tích ở Việt Nam như: Bích Câu kì ngộ, Tống
Trân Cúc Hoa…
* Phân loại dựa vào tác giả:
Theo Nguyễn Thị Chiến [3, tr.11] trước những năm 1960 đã xuất hiện quan

thư con nhà quyền quý giàu sang, với một bên là các chàng trai tuy có tài, nhưng đều
đang trong hoàn cảnh khó khăn. Đây đều là các mối tình vượt ra khỏi khuôn khổ của
lễ giáo phong kiến.
Nội dung thứ hai là vấn đề tình vợ chồng, hay rộng hơn là vấn đề gia đình trong
thời kì tan rã của chế độ phong kiến. Đó là cuộc đấu tranh để bảo vệ tình nghĩa vợ
13


chồng, bảo vệ gia đình, chống lại những nguy cơ làm nó tan vỡ. Ngoài ra, truyện
Nôm bình dân còn đề cao lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.
Với chủ đề đề cao con người và cuộc sống hiện thực, truyện Nôm cũng đã tố
cáo bộ mặt thối nát của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến từ quan lại, tầng
lớp quý tộc đến bọn nhà giàu phú hộ.Quan lại, sai nha vòi tiền, cảnh mua thịt bán
người, cảnh sống khốn khổ của nhân dân…được thể hiện rõ trong các truyện Nôm,
góp phần tái hiện chân thực và sống động bức tranh hiện thực cuộc sống.
1.1.4. Hình thức

Phần lớn những truyện Nôm tiêu biểu đều có một kết cấu cơ bản giống
nhau:Câu chuyện diễn biến theo trật tự thời gian, việc gì xảy ra trước kể trước, việc gì
xảy ra sau kể sau. Người kể luôn luôn đứng ở ngôi thứ ba và bao giờ cũng ghi nhớ
câu chuyện mình đang kể là thuộc về thời quá khứ.
Cốt truyện của truyện Nôm có hai đặc điểm đáng chú ý. Thứ nhất, những tình
tiết, những sự kiện trong truyện không có ý nghĩa khách quan chân thực của nó mà
chỉ có tác dụng soi sáng hay tô đậm cho tính cách nhân vật. Ví dụ như trong truyện
Lý Công, nàng công chúa bị chặt chân tay, xẻo mắt mũi nhưng vẫn sống hay như
nhân vật Phạm Công trong truyện Phạm Công - Cúc Hoa xuống tận địa phủ để tìm
vợ…Thứ hai, kết thúc của truyện Nôm có hậu giống truyện cổ tích.
Tóm lại, cấu trúc của truyện Nôm, cả bình dân lẫn bác học, đều có chung mô
hình: gặp gỡ - tai biến -đoàn tụ với kết thúc bao giờ cũng có hậu. Có thể nói cấu trúc
theo lối kết thúc có hậu của truyện Nôm là quy luật có tính tất yếu và là đặc trưng

thống nhân đạo và tâm tình mộc mạc của con người Việt Nam, tiếng nói tình cảm cất
lên sau những lũy tre làng và vang vọng mãi đến bây giờ.
1.2. Khái niệm cảm hứng
Hứng là do cảm xúc mà nảy nở tình cảm, có thể là vui, cũng có thể là buồn,
thấy ngoại cảnh mà có hứng, muốn nói lên nỗi lòng mình, cảnh tình riêng của
mình.Có thể hiểu, thi ca là tất cả những gì thuộc tình cảm và lý trí chịu sự chi phối
của cảm xúc, của tình cảm. Thi tiên nổi tiếng đời Đường- Lí Bạch- từng ngâm nga:
“Hứng hàm lạc bút dao ngũ nhạc” (Khi cảm hứng say sưa, hạ ngọn bút làm rung
chuyển năm núi lớn)(Giang thượng ngâm).
15


Nguyễn Quýnh đề cao “cái hứng” trong thơ: “Người như sông biển, chữ như
nước, hứng thì như gió, gió thổi từ sông biển cho nên nước lay động làm thành gợn,
thành sóng, thành ba đào. Hứng chạm vào người ta cho nên chữ nổi dậy, không thể
nín được mà sinh ra ở trong lòng, ngâm vịnh ở ngoài miệng, viết ra ở bút nghiên,
giấy mực. Gió không bám vào chỗ nào nhất định, hứng cũng biến động, không ở yên,
mỗi cái tuy ở Đông, Tây, Nam, Bắc mà buột ra rất nhanh. Người làm thơ không thể
không có gió vậy”. Không chỉ thế, Nguyễn Quýnh khẳng định: “Người làm thơ không
thể không có hứng, cũng như tạo hóa không thể không có gió vậy…Tâm người ta như
chuông như trống, hứng như chày và dùi. Hai thứ đó gõ, đánh vào chuông trống
khiến chúng phát ra tiếng; hứng đến khiến người ta bật ra thơ”[15, tr 104]. Vậy,
không thể có thơ nếu không xúc động, hoặc nếu hồn không rung động cho lời buông
theo.
Mỗi tác phẩm nghệ thuật đích thực nhà thơ phải hướng con người tới cái đẹp
bằng sự lên tiếng, bằng sự thăng hoa cảm xúc của chính mình. Vì vậy, cảm hứng
trong tác phẩm phải được nhà thơ biểu hiện qua mạch tư tưởng – cảm xúc chủ đạo,
qua sự lí giải các vấn đề đặt ra, qua giọng điệu…Khi đi sâu vào bản chất của cảm
hứng trong tác phẩm văn học, Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương trong Lí luận
văn học, vấn đề và suy nghĩ, nêu khái niệm cảm hứng: “Cảm hứng là sự thiết tha và

từ ý thức con người về tư tưởng và cảm xúc, nhất là những người nghệ sĩ sáng tạo
nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy, tác phẩm nghệ thuật ngôn từ có nhiều biến thể cảm hứng.
Nhưng vẫn có một cảm hứng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm, nó chi phối toàn bộ tác
phẩm, từ hình tượng, hoàn cảnh, tình huống đến cả giọng điệu, lời văn… Điều này
tùy thuộc vào nội dung tư tưởng, tình cảm của nhà văn, tùy thuộc vào cá tính sáng tạo
nghệ thuật của mỗi người cầm bút. Nó còn tùy thuộc vào hoàn cảnh xã hội, thực tại
của đời sống mà nhà văn đang sống trong đó.
Như vậy, cảm hứng là niềm say mê khẳng định chân lí, lí tưởng, phủ định sự
giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực, là thái độ ngợi ca, đồng tình với những
nhân vật chính diện, là sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm
thường…Cảm hứng sẽ là nền tảng tạo nên giọng điệu tác phẩm và chi phối việc xây
dựng hệ thống hình tượng nhân vật. Cảm hứng có nguồn gốc từ trong tư tưởng của

17


tác giả đối với thế giới khách quan, được thể hiện qua tài năng, tính cách của mỗi tác
giả.
1.3. Khái niệm tình yêu
Tình yêu, trạng thái cảm xúc mạnh mẽ và đẹp đẽ nhất của con người lại cũng là
một trong những điều khó định nghĩa và nắm bắt nhất thế gian…Nhà thơ Xuân Diệu
từng viết “làm sao cắt nghĩa được tình yêu ?”. Thi sĩ Xuân Quỳnh cũng từng bộc
bạch :
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu ?
Khi nào ta yêu nhau
Em cũng không biết nữa.
(Sóng, Xuân Quỳnh)
Tình yêu là một khái niệm đa nghĩa trong cách diễn đạt và cách hiểu của mọi
người, nhưng theo nghĩa chung nhất, tình yêu là trạng thái tình cảm của chủ thể này

bạn vẫn biết rằng mình vẫn luôn nhớ về người đó. Tình yêu luôn đi đôi với nỗi nhớ.
Bởi vậy nên ông bà mình nói :
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than
(Ca dao)
Tình yêu chân thật đòi hỏi chịu đựng nhiều gian lao và thử thách. Chỉ có những
lúc khó khăn thì người ta mới biết ai thực sự quan tâm, chia sẻ và ở bên cạnh họ. Vì
vậy, sau những lúc sóng gió trong cuộc sống, tình yêu của con người càng khăng khít
hơn với những kỉ niệm :
Em ơi! Chua ngọt đã từng,
Non xanh nước bạc, ta đừng quên nhau!
(Ca dao)
Yêu nhau tức là tôn trọng, nhường nhịn nhau:
Chồng giận thì vợ bớt lời
19


Cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê
(Ca dao)
Yêu là phải biết hi sinh vì tình yêu của mình. Sự hi sinh ở đây có thể hiểu là
quan tâm chia sẻ những khó khăn, có thể là đối mặt với mọi thử thách, mọi thế lực
muốn ngăn trở tình yêu. Yêu có nghĩa là đối xử với một ai đó tốt hơn tất cả mọi
người, tốt hơn với cả chính bản thân mình.
Bản năng con người trong tình yêu được nhìn nhận là những hành động suy
nghĩ sẵn có từ trong tự nhiên, trong đó có việc giao cấu để duy trì nòi giống (giữa hai
giống đực và cái), việc tụ tập số đông - kết hợp nhiều cá thể để đạt mục đích sinh
tồn,...
Trong xã hội loài người phát triển, con người không chỉ dừng lại ở việc kết hợp
cá thể hay giao cấu đơn thuần như ở động vật mà còn hình thành vô số những biểu
hiện quan tâm, chăm sóc, bảo vệ,... lẫn nhau.Từ đó, tình yêu trở thành điều tất yếu

sự khẳng định tình yêu là nguồn hạnh phúc tuyệt diệu trên trần thế cũng như tự do
yêu đương là một trong những quyền căn bản của con người. Nhà văn Shakespeare
cũng góp phần thể hiện những quan niệm yêu đương mới mẻ trong thời đại Phục
hưng. Quyền tự do lựa chọn bạn đời, sự hấp dẫn về dung mạo, thể xác, vẻ đẹp chân
chính của tình yêu… là những đề tài chủ yếu của các vở Roméo và Juliet, Chàng
thương gia thành Venise, Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai... Nhìn chung văn
học của thời kì Phục hưng đã đấu tranh cho những quyền lợi chính đáng của con
người như quyền được ăn, uống, quyền được thụ hưởng những thú vui vật chất lẫn
tinh thần và đặc biệt là quyền được đối xử bình đẳng và quyền tự do yêu đương. Họ
xem con người là sản phẩm của tự nhiên, do đó con người có quyền có những nhu
cầu tự nhiên của nó về cả vật chất lẫn tinh thần. Con người với cuộc sống tự nhiện,
sinh động, bằng da bằng thịt, bằng sự tận hưởng tinh thần cũng như vật chất, thể xác
cũng như tâm hồn là lẽ tất yếu của cuộc sống. Đó cũng là triết lí sống của thời kìPhục
hưng.
Sang thế kỉ Ánh sáng (thế kỉ XVIII), văn học phương Tây càng khẳng định
mạnh mẽ hơn giá trị chân chính của cuộc sống trần tục. Các tác phẩm nổi tiếng như
“Những bức thư của Ba Tư” của Mongtekio lên án sự phân biệt đẳng cấp trong tình
yêu, đồng thời ca ngợi tình yêu nảy nở tự nhiên.
21


Cùng với tinh thần ấy, ở các nước phương Đông, đặc biệt là Ấn độ, các tác
phẩm kịch giai đoạn này đặt con người và tình yêu cuộc sống lên vị trí quan trọng.
Trong văn học Ấn, tình yêu và con người là đề tài ca ngợi. Theo Rig Vêđa, thần
Kama - thần tình yêu – là mầm móng của lòng người, của trí tuệ.Con người luôn ao
ước tình yêu đến với mình như được gặp Kama.
Gần chúng ta hơn là văn học Trung Hoa, các loại sách liên quan đến ái tình giai
đoạn ấy đều bị cấm đoán. Tuy nhiên, dù không được nói công khai thì tiếng nói ấy
vẫn rất tự nhiên và mạnh mẽ trong đời sống con người. Theo giáo sư Wang Chiu-kui,
khoa Sử đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh nhận xét rằngtriều đại Thanh đặc biệt nghiêm

Cao cao hơn núi, dài dài hơn sông)
Trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn sưu tập, chủ đề tình yêu cũng thể hiện
rõ nét trong nhân vật Lý Quốc Hoa. Người thanh niên ấy đã lấy tình yêu làm lẽ sống,
yêu và bộc lộ hết mình tình yêu ấy:
Đạp trăng chàng tới vườn hoa
Sơ giao đằm thắm như là cố tri
Nỗi niềm giải hết tình si
Ái ân thủ thỉ e dè người ta
(Hương miết hành, Lê Quý Đôn)
Càng về sau, như đã nói, chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, nhu cầu
giải phóng cá nhân mạnh mẽ, tiếng nói tình yêu trong văn học ngày càng nở rộ. Các
sáng tác văn học đặc biệt là trong truyện thơ Nôm từ truyện thơ Nôm bình dân đến
truyện thơ Nôm bác học đều thiết tha và giàu ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Có thể thấy rằng, vấn đề giải phóng con người cá nhân, trong đó giải phóng
con người trong nhu cầu tình cảm là một yêu cầu chung và tất yếu.Văn học Việt Nam
cùng hòa nhập tiếng nói chung vào mạch nguồn ấy của văn học thế giới nhưng vẫn có
những sắc thái riêng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc mình. Điều đó bắt nguồn từ
cơ sở thực tiễn của lịch sử và văn học thế giới, cũng như những biến động trong lịch
sử và văn học Việt Nam. Đó là một quá trình diễn tiến tự nhiên và đầy giá trị.
Truyện thơ Nôm là một bộ phận văn học độc đáo của nền văn học dân tộc.
Truyện thơ Nôm ra đời vào thời kì xã hội phong kiến đang khủng hoảng trầm trọng.
Ý thức hệ tư tưởng phong kiến bị lung lay mạnh mẽ, cùng với đó là các cuộc khởi
23


Trích đoạn Khát vọng tình yêu đẹp Khát vọng hạnh phúc ái ân Nhân vật Ngôn ngữ nhân vật Từ ngữ mang chức năng biểu cảm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status