Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ THU HẰNG
TỪ NGỮ CHỈ NGƯỜI TRONG TIẾNG TÀY NÙNG
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ TỪ NGỮ CHỈ NGƯỜI TRONG TIẾNG TÀY NÙNG
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. ĐOÀN VĂN PHÚC
THÁI NGUYÊN, 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Một số khái niệm cơ bản về hình vị, từ, ngữ, nghĩa…………………
7
1.1.1. Khái niệm về hình vị………………………………………………
7
1.1.2. Khái niệm về từ……………………………………………………
10
1.1.3. Khái niệm ngữ………………………………………………………
11
1.1.4. Nghĩa………………………………………………………………
12
1.2. Vấn đề định danh và từ ngữ chỉ người………………………………
14
1.2.1. Định danh…………………………………………………………
14
1.2.2. Khái niệm từ, ngữ chỉ người………………………………………
17
1.3. Người Tày Nùng……………………………………………………
20
1.4. Tiếng Tày Nùng………………………………………………………
58
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG VÀ VĂN HÓA
TỪ NGỮ CHỈ NGƢỜI TRONG TIẾNG TÀY NÙNG
3.1. Dẫn nhập……………………………………………………………
60
3.2. Đặc điểm ngữ dụng và văn hóa của từ chỉ người……………………
61
3.2.1. Đặc điểm ngữ dụng và văn hóa từ chỉ người theo quan hệ thân tộc
61
3.2.2. Đặc điểm ngữ dụng, văn hóa của từ chỉ người theo quan hệ xã hội
69
3.2.3. Đặc điểm ngữ dụng và văn hóa từ chỉ người theo chức nghiệp…….
72
3.2.4. Đặc điểm ngữ dụng và văn hóa từ chỉ người là ĐTNX…………….
75
3.3. Đặc điểm ngữ dụng và văn hóa của ngữ chỉ người…………………
79
3.3.1. Đặc điểm ngữ dụng và văn hóa ngữ chỉ người theo quan hệ xã hội
79
3.3.2. Đặc điểm ngữ dụng và văn hóa của ngữ chỉ người theochức nghiệp
81
3.4. Tiểu kết………………………………………………………………
82
KẾT LUẬN
84
DANH MỤC TÀ I LIỆ U THAM KHẢ O…
87
PHỤ LỤC 1……………………………………………………………….
92
PHỤ LỤC 2……………………………………………………………….
chúng ta hiểu một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về một nét văn hoá lâu đời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
của đồng bào các cộng đồng dân tộc Tày và Nùng, góp phần làm phong phú
thêm về mặt tư liệu văn hoá của người Tày Nùng và văn hoá của DTTS.
Lâu nay, việc nghiên cứu một cách cụ thể về từ ngữ chỉ người để từ đó
hiểu rõ hơn về một nét văn hoá của cộng đồng cư dân dân tộc Tày và Nùng,
do nhiều lí do, còn chưa được quan tâm một cách đúng mức và việc nghiên
cứu cũng chưa có hệ thống.
Với những lí do trên, người viết đã chọn vấn đề Từ ngữ chỉ người
trong tiếng Tày Nùng để làm đề tài nghiên cứu cho mình. Hơn nữa, là người
con của dân tộc Nùng nên việc chọn vấn đề này còn mục đích giúp chính
người viết hiểu rõ hơn về ngôn ngữ và văn hoá của dân tộc mình trong toàn
bộ tiến trình phát triển truyền thống văn hoá rất đỗi tự hào của dân tộc. Mặt
khác, việc nghiên cứu Từ ngữ chỉ người trong tiếng Tày Nùng còn nhằm
mục đích thiết thực là giúp cho dân tộc khác hiểu được hệ thống từ ngữ chỉ
người, hiểu thêm văn hoá của đồng bào Tày Nùng.
Nghiên cứu từ ngữ chỉ người trong tiếng Tày Nùng là việc làm cần thiết
không những có ý nghĩa về mặt khoa học thực tiễn mà nó còn góp phần quan
trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ dân tộc Tày Nùng có ý thức bảo tồn, giữ
gìn và phát huy ngôn ngữ và bản sắc văn hóa của dân tộc mình trong thời kì
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
2. LỊCH SỬ VN ĐỀ
Từ trước đến nay đã có một số công trình, bài viết của các tác giả
nghiên cứu về từ vựng ngôn ngữ này từ nhiều phương diện khác nhau về cấu
trúc (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp), ngôn ngữ học xã hội, về lịch sử Trong số
này, người ta phải kể đến hai tác giả tiêu biểu nhất người Tày là Hoàng Văn
Ma và Lục Văn Pảo. Các ông đã có hàng loạt công trình, bài viết liên quan
đến đặc điểm cấu trúc, ngôn ngữ học xã hội, lịch sử… của tiếng Tày - Nùng.
- Nghiên cứu về từ ngữ (về cấu trúc, ngữ nghĩa - ngữ dụng và văn hóa)
chỉ người trong tiếng Tày Nùng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
- Thông qua việc nghiên cứu về từ ngữ chỉ người trong tiếng Tày Nùng
giúp cho ta hiểu rõ hơn về văn hoá của cư dân Tày Nùng qua vốn từ.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có 3 nhiệm vụ:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận (một số khái niệm ngôn ngữ học, đặc điểm của
tiếng Tày Nùng, vấn đề đơn vị định danh, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn
hóa…) phục vụ cho việc nghiên cứu từ ngữ chỉ người.
- Miêu tả đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa - ngữ dụng và văn hóa của các
từ chỉ người trong tiếng Tày Nùng.
- Miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng và văn hóa của các ngữ chỉ
người trong tiếng Tày Nùng.
4. TƢ LIỆ U VÀ PHƢƠNG PHÁ P
4.1.Tư liệu
- Nguồn tư liệu thành văn là một số công trình nghiên cứu Từ điển Tày
Nùng Việt (1974), Ngữ pháp tiếng Tày Nùng (1971), Từ điển Việt - Tày Nùng
(1984) của các tác giả Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Tiến tới xác lập vốn từ
văn hoá Việt của Nguyễn Văn Chiến, Văn hoá Tày Nùng của Lã Văn Lô, Hà
Văn Thư, Văn hoá truyền thống Tày Nùng của Hoàng Quyết, Ma Văn Bằng,
Cảnh huống tiếng Nùng (2002), Ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt nam: Một số
vấn đề về quan hệ cội nguồn và loại hình học (2002) của Hoàng Văn Ma cũng
như nhiều công trình khác của những người đi trước…
- Nguồn tư liệu điền dã:
+ Thu thập tư liệu từ thực tiễn cuộc sống, thông qua các đợt điền dã tại
một số bản làng nơi người Tày Nùng sinh sống ở Thái Nguyên và các vùng
lân cận.
cứ u đầ u tiên về vốn từ của ngôn ngữ này từ cách nhìn nhận, phân chia theo
trường từ vựng từ các bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa và văn hóa - tộc người.
- Luậ n văn bổ sung tư liệ u và o việ c nghiên cứ u văn hó a các dân tộ c Tày
Nùng và chỉ ra đặ c điể m văn hó a tộ c ngườ i này qua ngôn ngữ . Mặt khác,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
những tư liệu và lí giải của luận văn sẽ góp phần soi sáng thêm mối quan hệ
Việt - Tày Nùng, nói riêng, và người Việt với các cư dân sử dụng các ngôn
ngữ Thái - Kađai, nói chung, trong sự tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa.
5.2. Về thự c tiễ n
- Luậ n văn giú p cho cá c dân tộ c khá c hiể u đượ c hệ thố ng từ ngữ chỉ
người trong tiếng Tày Nùng. Mặt khác, trên cơ sở sưu tầ m , tậ p hợ p, hệ thố ng
hóa tư liệ u và phân tích về từ ngữ chỉ người , luậ n văn giú p ngườ i đọ c hiể u
thêm về mộ t nét văn hó a củ a ngườ i Tày Nùng thể hiện qua ngôn ngữ.
- Từ một phương diện khác, luận văn còn có thể góp phần giúp cho các
công chức không phải người Tày Nùng có thêm những kiến thức mới khi học
và sử dụng tiếng Tày Nùng trong thực tiễn công tác ở vùng cư trú của người
Tày Nùng. Chính điều này góp phần thực hiện các chủ trương của Đảng và
Chính phủ đối với ngôn ngữ và chữ viết các dân tộc thiểu số, nhất là việc thực
hiện Quyết định 53/CP cũng như việc thực hiện các Quyết định 253/QĐ-TTg
ngày 05 tháng 3 năm 2003, và Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg ngày 07 tháng
01 năm 2004, nhằm đưa việc học tiếng dân tộc thiểu số trở thành nhiệm vụ
thường xuyên đối với cán bộ, công chức hay Chỉ thị 38/2004/CT-TTg về việc
đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức
công tác ở vùng dân tộc, miền núi.
6. KẾ T CẤ U LUẬ N VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mụ c tà i liệ u tham khả o , Phụ lục ,
nộ i dung củ a luậ n văn gồ m có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
+ Hình vị là đơn vị nhỏ nhất, có nghĩa, được dùng để cấu tạo nên các từ
(Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Thỉnh - Giáo trình tiếng Việt 2 - NXB GD HN,
1997, tr236).
Từ những định nghĩa trên, ta thấy “hình vị” có một số đặc điểm đáng
lưu ý là:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
- Là đơn vị có kích thước vật chất - âm thanh nhất định, là mặt biểu thị,
hình thức.
- Là đơn vị có ý nghĩa nhất định, là mặt được biểu thị, nội dung.
- Là đơn vị có cấu trúc nội tại tương đối ổn định, vững chắc, không thể
phân tách thành các đơn vị nhỏ hơn về nghĩa.
- Là đơn vị có chức năng cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn nó, chủ yếu là
dùng để cấu tạo nên từ
Tuy vậy hình vị trong các ngôn ngữ cụ thể (với tất cả các dạng thức của
nó) không phải là đơn vị có thể nhận thức dễ dàng. Hình vị là kết quả của sự
phân tích và tổng hợp của nhà nghiên cứu, nhằm mục đích “mổ xẻ” để hiểu rõ
bản chất, chức năng của các đơn vị lớn hơn nó hoặc chính nó trong các mối
quan hệ với các đơn vị cùng loại và khác loại. Cái đơn vị này thường không
hiển nhiên đối với người bản ngữ.
Tuy nhiên, ở đây cần có sự phân biệt giữa hai khái niệm nhiều khi
không trùng khớp: “Hình vị” và “thành tố cấu tạo từ”. Hình vị có thể trực tiếp
cấu tạo nên từ (một mình nó hoặc kết hợp với các hình vị khác) hoặc không
trực tiếp cấu tạo nên từ, mà gián tiếp, bằng cách kết hợp với các hình vị khác
để tạo thành một thành tố có nghĩa lớn hơn hình vị. Thành tố này mới được
dùng để trực tiếp cấu tạo nên từ. Thành tố cấu tạo từ có thể trùng hoặc không
trùng khớp với hình vị. Cách nhìn nhận như vậy, giúp ta giải thích có logic
đối với những trường hợp các hình vị kết hợp với nhau, nhưng sản phẩm của
sự kết hợp này không thể được đánh giá là từ (không tái hiện được tự do trong
tạo từ tiếng Việt. Những người theo quan điểm này cho rằng “tiếng” là đơn vị
mà người bản ngữ rất dễ nhận biết. Theo quan điểm này “tiếng” có những
đặc trưng cơ bản sau:
+ Tiếng là đơn vị phát âm nhỏ nhất.
+ Tiếng là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Như vậy “tiếng” là đơn vị hai mặt (âm - nghĩa) phân biệt với âm tiết là
đơn vị một mặt âm thanh, không có nghĩa).
Tóm lại để hình vị có thể tạo thành từ thì nó phải có nghĩa, một hình vị
có thể cấu tạo với nhiều phương thức khác nhau.
Có nhiều cách để phân loại hình vị, nếu phân loại hình vị theo cách
truyền thống ta có căn tố và phụ tố, nó đảm bảo được hai yếu tố là chức năng
và ngữ nghĩa.
L. Bloomfield thì lại phân loại hình vị thành hình vị tự do và hình vị
hạn chế. Với cách phân loại này ta phát hiện ra một đặc tính quan trọng của
hình vị là tính chất hoạt động trên trục tuyến tính nhưng nó lại làm mất đi
phương diện ngữ nghĩa, chức năng quyết định sự tồn tại của hình vị trong
ngôn ngữ.
Cách phân loại nữa về hình vị là người ta dựa vào các đặc tính thiên về
hình thức. Dựa vào vị trí ta có tiền tố, hậu tố, trung tố. Dựa vào đặc tính âm vị
học của các hình vị thì theo E.Nida ta có các hình vị gián cách và các hình vị
từ.
Tuy nhiên dù phân loại theo cách nào thì hai tiêu chí là chức năng và
ngữ nghĩa là yếu tố quan trọng nhất để phân loại hình vị.
1.1.2. Khái niệm về từ
Trong ngôn ngữ từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, nói như vậy để thấy
rằng trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, không chỉ tồn tại các từ mà còn có các
ngữ, tức là những cụm từ có sẵn, tương đương với từ, chẳng hạn các thành
khác nhau của con người.
Ngữ mà ta thường hay nói tới nhiều nhất là ngữ cố định, nó có sẵn
trong ngôn ngữ được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử, xã hội.
Nó bao gồm tập hợp những từ đơn có kết cấu chặt chẽ, vững chắc ổn định, bất
biến và có nghĩa hoàn chỉnh để gọi tên sự vật, hiện tượng, biểu thị khái niệm
(Ví dụ: Cưỡi ngựa xem hoa, nước đổ lá khoai…). Tuy nhiên tính độc lập về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
mặt từ vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từ
vựng của ngữ trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt.
Bên cạnh đó còn có ngữ tự do nghĩa của nó là nghĩa của của các từ
vựng độc lập tạo thành, ngữ tự do có khả năng sản sinh ra các từ mới một
cách linh hoạt phụ thuộc vào điều kiện sử dụng của người phát ngôn.
Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa:
“Ngữ: Kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư
từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái
niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại
khách quan. Đó là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều
thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc - theo quan hệ phù hợp, chi
phối hay liên hợp. Trong một số ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ
nghĩa và ngữ pháp gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính
gọi là thành tố phụ. Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo nên danh
ngữ), động từ (tạo nên động ngữ), tính từ tạo nên tính ngữ, ngữ còn được gọi
là cụm từ, từ tố.
Ngữ là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng quá trình,
phẩm chất. Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh
giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng.
1.1.4. Nghĩa
Khi nói về hình vị, từ, ngữ ở trên, chúng ta đã xác nhận đặc tính quan
nghĩa cấu trúc - là mối liên hệ giữa các đơn vị khác nhau trong hệ thống,
nghĩa ngữ dụng - là mối liên hệ giữa các đơn vị đang xét với tình cảm, thái độ
của người sử dụng.
Khi đi vào phân tích nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ đang nói ở trên,
người ta đề xuất nhiều cách, trong đó thường được sử dụng hơn cả là làm cho
cái đơn vị này bộc lộ ý nghĩa của mình qua ngữ cảnh. Ngữ cảnh được hiểu là
chuỗi các đơn vị ngôn ngữ kết hợp với đơn vị đang xét hoặc bao xung quanh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
nó, làm cho nó được cụ thể hoá hơn và được xác định về nghĩa. Ngữ cảnh, có
thể là tối thiểu (đơn giản nhất) và tối đa (mở rộng đến mức có thể).
Mặt khác, khi tìm hiểu nghĩa của hình vị, từ, ngữ phải xem xét trong
quá trình hành chức của nó. Đối với từ cũng vậy, không thể tách rời nó khỏi
hoạt động ngôn ngữ, trong đó nó có vai trò tái hiện tự do tạo thành câu. Như
vậy, chỉ trong sự hành chức, nghĩa mới được hiện thực hoá và xác định. Hơn
thế nữa, trong thực tế hoạt động của ngôn ngữ, nghĩa của đơn vị ngôn ngữ có
thể bị giảm thiểu hoặc gia tăng so với các yếu tố cấu thành nó (các nét nghĩa),
đồng thời người nói cũng có thể tạo nên hàng loạt các quan hệ về nghĩa khác
trong hệ thống ngôn ngữ của mình: Đồng âm, đồng nghĩa và trái nghĩa.
1.2. VN ĐỀ ĐỊNH DANH V TỪ NGỮ CHỈ NGƢỜI
1.2.1. Định danh
Thuật ngữ “định danh” (nomination) có nguồn gốc từ tiếng La tinh
nghĩa là “tên gọi”. Thuật ngữ này biểu thị kết quả của quá trình gọi tên. Đó là
chức năng của đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ. Như vậy định danh có thể hiểu
một cách đơn giản là cách đặt tên gọi cho một sự vật, hiện tượng nào đó. Sự
hình thành những đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh nghĩa là dùng để
gọi tên sự vật và chia tách những khúc đoạn của thực tại khách quan và tạo
nên những khái niệm tương ứng về sự vật, hiện tượng dưới hình thức là các
từ, các tổ hợp từ, thành ngữ, câu. Đối tượng của lí thuyết định danh là nghiên
vốn có của đối tượng mới này. Để định danh, người ta sẽ chọn một đặc trưng
nào đó là tiêu biểu, dễ khu biệt nó với những đối tượng khác và đặc trưng ấy
phải đã có tên gọi trong ngôn ngữ.
Ba là, người ta sử dụng biện pháp cấu tạo từ nào đó.
Ví dụ: Để đặt tên cho một loài động vật sống ở biển, đẻ ra con và nuôi
con bằng sữa, trước hết người Việt qui nó vào loài động vật đã có tên gọi là
“cá”. Sau đó người ta chọn đặc trưng tiêu biểu là có kích thước rất to, hơn hẳn
kích thước các loài cá khác và kích thước to này vốn được biểu thị bằng tên
gọi con vật có kích cỡ khổng lồ tương đương là “voi”. Cuối cùng, người ta
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
dùng biện pháp cấu tạo từ của tiếng Việt theo cách ghép tên chỉ đặc trưng
“voi” vào tên gọi chỉ loại là “cá” để tạo ra tên gọi cho đối tượng này, khi đó
sẽ có tên gọi là cá voi.
Từ đây có thể thấy rằng, đặc điểm định danh của dân tộc này so với dân
tộc khác, hoặc địa phương này so với địa phương khác, có thể khác nhau ở ba
điểm sau:
Thứ nhất, cách qui loại khái niệm của đối tượng được định danh. Chẳng
hạn, “củ lạc” thực chất là “quả lạc” nếu xét theo thực vật học, nhưng theo tư
duy ngôn ngữ và sự hiểu biết của người Việt thì phàm những bộ phận nào của
cây chứa chất bột, phình to, nằm ở dưới đất hay trong lòng đất thì đều được
qui vào khái niệm củ. Do đó ta không gọi quả lạc mà gọi là củ lạc.
Thứ hai, cách lựa chọn đặc trưng của đối tượng để làm cơ sở cho tên
gọi của nó. Ví dụ: Cây cảnh cỡ nhỏ, thân có gai, lá kép có răng, hoa màu
hồng, có hương thơm… người Việt đã qui nó vào loài hoa và chọn đặc trưng
“đập vào mắt” là màu hồng để gọi tên là “hoa hồng”. Sau đó tên gọi hoa hồng
lại được sử dụng làm tên một loài hoa cho dù màu của hoa loài cây này là
trắng, là vàng hay đỏ như nhung. Khi đó tuỳ màu hoa cụ thể mà có các tên gọi
mới cho từng tiểu loại trong loài hoa hồng này, chẳng hạn, hoa hồng bạch,
6. Can ke (hay sao phỏng).
7. Vay mượn.
8. Chuyển nghĩa của từ. Cách định danh này thường được gọi là định
danh thứ sinh (hay là thứ cấp).
Các thủ pháp định danh là chung cho tất cả mọi ngôn ngữ trên thế giới.
Song, đặc điểm của hệ thống ngôn ngữ, đặc biệt là loại hình ngôn ngữ, có ảnh
hưởng quan trọng đến đặc tính của các thủ pháp định danh. Chính các thủ
pháp này sẽ làm nên đặc trưng của hành vi định danh ngôn ngữ.
1.2.2. Khái niệm từ, ngữ chỉ ngƣời
Khi nói tới vốn từ vựng của một ngôn ngữ, người ta có thể nghiên cứu
nó từ rất nhiều góc độ khác nhau: Các lớp từ ngữ xét về nguồn gốc, về phạm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
vi sử dụng, về nghĩa của các lớp từ, hay về các trường (trường từ vựng,
trường từ vựng - ngữ nghĩa, hay còn gọi là trường nghĩa) Trong vốn từ ngữ
của một ngôn ngữ bao gồm những lớp từ ngữ thuộc nhiều trường từ vựng
khác nhau, như: Trường từ vựng chỉ người, trường từ vựng chỉ hiện tượng tự
nhiên, trường từ vựng chỉ động thực vật, trường từ vựng chỉ công cụ lao động,
trường từ vựng chỉ đặc điểm tính chất
Tuy nhiên, trong luận văn này, người viết chỉ khảo sát về một trường từ
vựng: Từ ngữ chỉ người trong tiếng Tày Nùng mà không phải là khảo sát về
trường nghĩa biểu vật chỉ người. Sở dĩ như vậy bởi trường nghĩa biểu vật (chỉ
người) là một tập hợp những từ ngữ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật sẽ rất
rộng, bao gồm rất nhiều từ ngữ thuộc về các từ loại rất khác nhau: Danh từ,
tính từ, đại từ có liên quan đến con người. Chẳng hạn:
Những danh từ thuộc trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ người: Như các từ
ngữ chỉ người cụ thể, như các từ chỉ từ thân tộc, từ chỉ người theo nghề
nghiệp, theo quan hệ xã hội, các từ chỉ bệnh tật của người
Những hành động liên quan đến con người, bao gồm các động từ nội
hiện các cặp từ chỉ quan hệ họ hàng: bố - mẹ, ông - bà ). Và dần dần, từ hôn
nhân đối ngẫu sang chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Tuy nhiên, do sự
phát triển của xã hội, từ chế độ gia đình mẫu hệ chuyển sang chế độ phụ hệ
làm phát triển hệ thống từ thân tộc theo hướng số lượng các từ ngữ chỉ quan
hệ thân tộc ngày càng tăng, đặc biệt là các từ ngữ chỉ người theo chức nghiệp.
Nếu xét theo thời gian xuất hiện, thì hệ thống từ ngữ chỉ người trong các ngôn
ngữ thường bao gồm:
1. Từ ngữ chỉ người là các đại từ nhân xưng.
2. Từ chỉ người trong gia đình, họ hàng thân thuộc mà chúng tôi gọi là
các từ thân tộc (hay từ chỉ người theo quan hệ thân tộc).
3. Từ chỉ người chung (theo quan hệ xã hội).
4. Từ chỉ người theo chức nghiệp.