Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRỊNH THỊ HOÀI GIANG
VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƢỜI CƠ LAO ĐỎ
Ở TÚNG SÁN, HOÀNG SU PHÌ, HÀ GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS - TS. Nguyễn Hằng Phƣơng
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc nhất của mình tới PGS.TS Nguyễn Hằng Phƣơng, người đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Ban giám hiệu; Khoa sau đại
học; Ban chủ nhiệm; Quý thầy, cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình
Trịnh Thị Hoài Giang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 9
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG - CƠ SỞ TÌM HIỂU VĂN HỌC
DÂN GIAN CỦA NGƢỜI CƠ LAO ĐỎ Ở HOÀNG SU PHÌ, HÀ GIANG 9
1.1. Tổng quan về người Cơ Lao Đỏ ở Hoàng Su Phì, Hà Giang 9
1.1.1. Vài nét về cộng đồng người Cơ Lao ở Hà Giang 9
1.1.2. Vài nét về cộng đồng người Cơ Lao Đỏ ở Hoàng Su Phì, Hà Giang 14
1.1.3. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và đời sống văn hóa của
người Cơ Lao Đỏ ở Hoàng Su Phì, Hà Giang. 15
1.1.3.1. Điều kiện tự nhiên: 15
1.1.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 16
1.1.3.3. Đời sống văn hoá 18
1.2. Văn học dân gian của người Cơ Lao 24
1.2.1. Thực trạng tồn tại của Văn học dân gian Cơ Lao 24
1.2.2. Văn học dân gian của người Cơ Lao Đỏ ở Hoàng Su Phì, Hà Giang 25
1.2.2.1. Loại hình tự sự 26
3.1.1.1. Dân ca người Cơ Lao Đỏ phản ánh quan niệm về tình yêu, hôn nhân 68
3.1.1.2. Dân ca người Cơ Lao Đỏ phản ánh các cung bậc, trạng thái tình
cảm yêu thương 75
3.1.2. Câu đố 79
3.1.2.1. Câu đố phản ánh nhận thức về vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên 79
3.1.2.2. Câu đố phản ánh nhận thức về thực vật 81
3.1.2.3. Câu đố phản ánh nhận thức về loài vật 83
3.1.2.4. Câu đố phản ánh nhận thức về đồ vật 85
3.1.2.5. Vật đố là con người và các hoạt động của con người 90
3.2. Về hình thức nghệ thuật 92
3.2.1. Dân ca 92
3.2.1.1. Thể thơ 92
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
3.2.1.2. Không gian và thời gian nghệ thuật 94
3.2.1.3. Các biện pháp nghệ thuật 99
3.2.2. Câu đố 103
3.2.2.1. Cấu trúc song đôi 103
3.2.2.2. Các kiểu gieo vần 104
3.2.2.3. Biện pháp tu từ nhân hóa 105
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
bổ sung cho Văn học dân gian Việt Nam thêm phong phú, lung linh, ngời sáng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Văn học dân gian là một thành tố quan trọng của Văn hoá dân gian, là di sản
văn hoá quý báu của dân tộc nói chung và dân tộc Cơ Lao nói riêng còn ít người
biết tới. Do vậy, việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá
trị của văn hoá dân tộc Cơ Lao là sự trăn trở của nhiều người có tâm huyết với việc
giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
1.2. Từ trước đến nay, đã có một số công trình hoặc bài viết nghiên cứu về người
Cơ Lao nói chung và người Cơ Lao Đỏ nói riêng, cho ta biết đôi nét về nguồn gốc,
cư trú, phong tục và văn hoá truyền thống của người Cơ Lao. Các công trình, bài
viết cung cấp khá đầy đủ về một số khía cạnh dân tộc học, văn hoá học. Nhưng
chưa có công trình nào tìm hiểu về Văn học dân gian của người Cơ Lao Đỏ. Thêm
vào đó, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã đến điền dã và sưu tầm Văn
học dân gian của người Cơ Lao Đỏ lưu truyền trong dân gian với số lượng đáng kể
ở một số loại hình Văn học dân gian. Với đề tài này, người nghiên cứu hy vọng
được nâng cao tầm hiểu biết về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu Văn học dân
gian, đặc biệt nghiên cứu Văn học dân gian của dân tộc ít người ở Việt Nam. Từ đó
tạo điều kiện thuận lợi cho công việc giảng dạy của bản thân người nghiên cứu
trong tương lai trên chính quê hương mình. Thực hiện đề tài còn là nguyện vọng
chính đáng của chúng tôi bởi bản thân người nghiên cứu đang công tác và giảng dạy
môn văn học tại miền núi- nơi có nhiều người Cơ Lao sinh sống. Vì vậy việc nghiên
cứu, tìm hiểu Văn học dân gian của người Cơ Lao Đỏ ở Hà Giang sẽ giúp tôi hiểu
rõ hơn về văn hoá tinh thần của người Cơ Lao Đỏ. Từ đó có ý nghĩa thiết thực trong
việc nâng cao chất lượng giảng dạy Văn học dân gian của các dân tộc thiểu số.
Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu cùng lý do nghiệp vụ trên, chúng tôi chọn
đề tài nghiên cứu cho luận văn là: Văn học dân gian của người Cơ Lao Đỏ ở Túng
Sán, Hoàng Su Phì, Hà Giang.
liệu quý nghiên cứu về kinh tế, văn hoá, xã hội của người Cơ Lao, chưa chú ý đến
Văn học dân gian của người Cơ Lao.
Lò Giàng Páo với bài viết Có một dân tộc ít đƣợc nhắc nhở đến ở nƣớc ta
[48] đã giới thiệu khái quát người Cơ Lao ở nước ta với chi tiết chú ý, người Cơ
Lao chỉ có ở Hà Giang, dân số hiện có trên 1.500 người, chủ yếu cư trú ở huyện
Đồng Văn, Hoàng Su Phì và rải rác ở các huyện Yên Minh, Bắc Quang, Vị Xuyên,
Mèo Vạc, Quản Bạ, gồm 3 nhóm địa phương với các tên gọi đó là : Cơ Lao Đỏ, Cơ
Lao Xanh, Cơ Lao Trắng. Trong đó nhóm Cơ Lao Xanh có dân số ít nhất sống xen
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
kẽ với 2 nhóm trên và các dân tộc khác. Người Cơ Lao làm nương rẫy và thổ canh
hốc đá, nghề thủ công nổi tiếng của họ là đan lát, làm đồ gỗ, rèn, …
2.2. Đầu thế kỉ XXI, nhiều tài liệu viết về người Cơ Lao ở nước ta lần lượt được
công bố.
Năm 2001, Lý Hành Sơn với bài viết Văn hoá vật chất của ngƣời Cơ Lao
ở Việt Nam [53] và Nhà cửa của ngƣời Cơ Lao ở Đồng Văn, Hà Giang [54] đã
đề cập tương đối chi tiết văn hoá vật chất của người Cơ Lao tỉnh Hà Giang nói
chung và người Cơ Lao ở xóm Mã Chề, xã Sính Lủng, huyện Đồng Văn nói riêng.
Tuy nhiên, tác giả 2 bài viết trên mới đề cập tới những nét cơ bản về văn hoá dân
tộc, chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu những nét đặc thù về văn hoá,
đặc biệt là Văn học dân gian của từng địa phương.
Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu của các học giả đi trước, năm 2003
nhóm tác giả do PGS.TS Phạm Quang Hoan (chủ biên) đã có một công trình khá
dày dặn về Dân tộc Cơ Lao ở Việt Nam truyền thống và biến đổi . Có thể thấy
đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về dân tộc Cơ Lao ở Hà Giang, công trình
nghiên cứu đề cập khá toàn diện, đầy đủ hơn và có hệ thống về các đặc điểm văn
hoá của người Cơ Lao cũng như sắc thái riêng của mỗi nhóm, cuốn sách gồm 6
chương trong đó chương 3 có giới thiệu vài nét khái quát về Văn học dân gian của
dân gian của người Cơ Lao Đỏ trong tính chỉnh thể của nó. Nghĩa là luận văn sẽ
tìm hiểu những vấn đề cụ thể về một số thể loại thuộc loại hình tự sự, trữ tình và thể
loại trung gian của Văn học dân gian của người Cơ Lao Đỏ, Túng Sán, Hoàng Su
Phì, Hà Giang.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi lựa chọn khám phá một số thể loại tiêu biểu thuộc loại
hình tự sự (truyền thuyết, truyện cổ tích), thể loại thuộc loại hình trữ tình (dân ca) và
thể loại câu đố nhằm khám phá những giá trị văn hoá, văn học đặc sắc của dân tộc.
Trong điều kiện cho phép, chúng tôi có liên hệ so sánh giữa Văn học dân
gian của người Cơ Lao Đỏ với Văn học dân gian của các dân tộc anh em, từ đó thấy
được nét độc đáo riêng biệt của đối tượng nghiên cứu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích của đề tài, trước tiên cần tìm hiểu và nắm vững những
vấn đề lí luận và thực tế có liên quan đến đề tài làm nền tảng khoa học cho việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
nghiên cứu. Chúng tôi đặc biệt quan tâm xem xét điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh
tế - xã hội và đời sống văn hoá của người Cơ Lao Đỏ ở Túng Sán, Hoàng Su Phì,
Hà Giang, bởi đó là những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự ra đời và phát triển Văn
học dân gian Cơ Lao Đỏ.
Trên cơ sở đó, chúng tôi phân loại, khảo sát các thể loại Văn học dân gian,
phân tích và rút ra kết luận khoa học về những giá trị văn hoá - văn học dân gian
quý báu của người Cơ Lao Đỏ ở các thể loại này.
Thực hiện điền dã sưu tầm cũng nhằm hoàn thành mục đích khoa học của đề tài.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khi thực hiện công việc, chúng tôi sẽ đặt trọng tâm vào đối tượng chính: Văn
tiến hành phân tích và đưa ra những nhận xét đánh giá về giá trị nội dung cũng như
nghệ thuật của các thể loại Văn học dân gian của người Cơ Lao Đỏ ở Túng Sán,
Hoàng Su Phì, Hà Giang.
- Phương pháp đối chiếu so sánh: Chúng tôi tiến hành đối chiếu so sánh để
thấy rõ sự giống và khác nhau giữa các thể loại Văn học dân gian của người Cơ Lao
Đỏ với các thể loại Văn học dân gian của các dân tộc anh em khác.
6. Đóng góp của luận văn
Từ việc chỉ ra những nội dung, hình thức nghệ thuật của một số thể loại văn
học thuộc loại hình tự sự (truyền thuyết, truyện cổ tích), thể loại thuộc loại hình trữ
tình (dân ca) và thể loại câu đố của người Cơ Lao Đỏ ở Túng Sán, Hoàng Su Phì, Hà
Giang, luận văn sẽ góp phần dựng lên diện mạo Văn học dân gian của người Cơ Lao
Đỏ. Kết quả đó cũng sẽ góp phần vào việc giữ gìn và phát triển vốn văn học cổ truyền
của dân tộc Cơ Lao nói chung.
Kết quả điền dã sẽ đóng góp những tư liệu thực tế về môi trường sinh thành
và phát triển của những di sản văn hoá phi vật thể đang có nguy cơ mai một, từ đó
đưa ra những đề xuất về bảo tồn và phát huy những di sản quý báu đó.
Mặt khác, kết quả điền dã cũng có thể cung cấp thêm một số thể loại Văn
học dân gian của người Cơ Lao Đỏ ở Túng Sán, Hoàng Su Phì chưa được sưu tầm
và công bố. Dù còn ít và lời lẽ văn bản còn thô mộc, giản dị, nhưng những văn bản
ấy chính là minh chứng sinh động cho sinh hoạt văn hoá rất đặc trưng của người Cơ
Lao Đỏ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề chung - cơ sở tìm hiểu Văn học dân gian của người Cơ
Lao Đỏ ở Hoàng Su Phì, Hà Giang
. Nằm trên khu vực núi cao, khối núi
granit thượng nguồn sông Chảy. Địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn. Nơi đây có sự
góp mặt của những dải núi lớn với các đỉnh Tây Côn Lĩnh cao 2419 m và Puthaca
cao 2274 m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, tương đối mát mẻ về mùa hạ và khô lạnh về
mùa đông. Ở vùng núi cao, vào mùa đông nhiều lần còn thấy tuyết rơi. Sự chia cắt
địa hình đã tạo nên một Hà Giang vô cùng hấp dẫn với những thắng cảnh tự nhiên
tuyệt đẹp. Đầu tiên là hồ Quang Minh trong xanh nằm giữa một vùng đồi núi thấp
tại địa bàn huyện Bắc Quang- huyện cửa ngõ của tỉnh. Rồi đến khu du lịch sinh thái
suối khoáng Thanh Hà, hang Tùng Bá, hang Nậm Má ở huyện Vị Xuyên và một
khu đô thị mới đang trên đà phát triển- cửa khẩu Thanh Thuỷ. Qua thành phố Hà
Giang, ngược lên phía Bắc là khu nghỉ mát Tam Sơn nằm giữa lòng thị trấn Quản
Bạ với khí hậu trong lành, quanh năm mát mẻ. Đến Đồng Văn là đến với đỉnh Lũng
Cú uy nghi, với Nhà Vương cổ xưa và với cao nguyên đá hoang sơ. Từ Đồng Văn
sang Mèo Vạc, ai cũng muốn dừng chân ở đỉnh Mã Pì Lèng với độ cao 1800m so
với mực nước biển, để ngắm nhìn dòng sông Nho Quế uốn lượn bên dưới. Có thể
nói, thiên nhiên đã ban tặng cho Hà Giang thật nhiều điều kì thú, tạo nên một Hà
Giang đi vào lòng du khách mỗi khi có dịp ghé thăm. Song Hà Giang vẫn là một
tỉnh còn khó khăn. Ở đây, mật độ dân cư thưa thớt, sự phân bố dân cư không đều.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Người dân phần lớn tập trung ở thành phố, huyện, ở các vùng cao, xa xôi hẻo lánh,
người dân thưa thớt. Mức thu nhập bình quân của cả tỉnh là 3,2 triệu/người/năm.
Tuy nhiên, ở các địa phương vùng sâu, vùng xa thì con số này còn thấp hơn rất
nhiều (2,6 triệu/người/năm) chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát
triển kinh tế - xã hội của toàn tỉnh và chất lượng cuộc sống của người dân.
Hà Giang là nơi quy tụ của hơn 20 dân tộc. Đó là các dân tộc H’mông, Tày,
Dao, Nùng, La Chí, Pà Thẻn, Bố Y,…Trong đó người H’mông chiếm số lượng
đông nhất, đứng vị trí thứ hai sau người H’mông là dân tộc Tày. Trong đại gia đình
nay (theo Niên giám thống kê tỉnh Hà Giang tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009),
người Cơ Lao có 2.301 người. Tại đây, họ phân bố tập trung ở huyện Hoàng Su Phì
(860 người: nam: 448; nữ 412), Đồng Văn (568 người: nam: 294; nữ: 274). Ngoài
ra, họ còn sinh sống rải rác tại Vị Xuyên, Bắc Quang, Quản Bạ, Yên Minh, Xí Mần
và Thành phố Hà Giang.
* Về tộc danh và ngôn ngữ
Về tộc danh, dân tộc Cơ Lao có rất nhiều tên gọi, hơn nữa mỗi nhóm lại có
tên tự gọi của mình. Những tài liệu đầu tiên đề cập đến dân tộc này, xuất hiện vào
những năm đầu thế kỷ XX là của các sĩ quan người Pháp như Lunet de Lajonquiere
và Bonifacy. Đến năm 1942 nhà ngôn ngữ học P.K. Benedict tiếp tục nghiên cứu về
ngôn ngữ Cơ Lao. Trong các tài liệu đó tên gọi và tên tự gọi của người Cơ Lao
được ghi lại không thống nhất. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huy, cho đến
giữa thập kỷ 40 của thế kỷ trước, người Cơ Lao tự nhận mình là Thư. Người Cơ Lao
ở Việt Nam có quan hệ tộc thuộc với dân tộc Ngật Lão ở Trung Quốc. Nhà dân tộc
học Trung Quốc Hoa Tây cho rằng, muộn lắm đến đời Hán ở vùng Quí Châu, Tây
Nam - Tứ Xuyên, Vân Nam đã có tổ tiên người Cơ Lao cư trú và họ có tên gọi là
người Lão, sau này phát triển thành tên gọi Cơ Lao. Đến đời Đường, Tống (thế kỷ
VII- thế kỷ XII) tên gọi đó được ghi là Ngật Lão. Về sau tên Cơ Lao được phiên âm
và viết theo những cách khác nhau như: Cách Liêu, Lát Liêu, Ngật Liêu, Ngật Lão.
Ngày nay được gọi là Ngật Lão.
Ở Việt Nam, người Cơ Lao được gọi theo âm Hán- Việt là Kel Lao từ những
chữ Cách Liêu, Cách Lão (…) sau này đọc chệch từ Kel Lao thành Cơ Lao. Người
Cơ Lao hiện đang sinh sống tại xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì thì vẫn gọi dân
tộc mình là Kê Lau theo phiên âm Hán ngữ là Kưa Lảo tức Ngật Lão.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Ở Trung Quốc, người Cơ Lao tự gọi là Quốc Lão hoặc Cách Lão. Theo
Nguyễn Văn Huy, mỗi nhóm Cơ Lao còn tự gọi tên theo nhóm và tên gọi thể hiện rõ
13
người chết về với tổ tiên ở Quý Châu). Phần lớn các dòng họ người Cơ Lao đều có
câu chuyện mang tính truyền thuyết kể về nhân vật Chảo Lù Chín người dẫn dân tộc
Cơ Lao di cư đến Việt Nam. Để hiểu rõ hơn, xin dẫn lời kể của một số người Cơ
Lao: Ông Chéng Sử Diu, ở làng Phìn Sư Chải, xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì
cho biết, dòng họ ông trước khi vào Việt Nam cư trú ở tỉnh Quý Châu, Trung Quốc,
đến xã Túng Sán được 7 đời (nếu tính mỗi đời là 25 năm thì đến nay ở Việt Nam
được 175 năm). Theo gia phả của gia tộc ông Min Hồng Sài, xã Túng Sán, huyện
Hoàng Su Phì có ghi chép, vào đời vua Đồng Trị năm thứ III, chiến tranh liên tục
xảy ra, mất mùa đói kém, đất đai bạc màu khiến nhân dân lâm vào cảnh đói kém,
vua đã đồng ý cho các tộc họ người Cơ Lao đi đến nơi khác để kiếm sống, lập
nghiệp. Theo lời ông kể, đoàn người Cơ Lao di cư xuống phía Nam là do ông Chảo
Lù Chín dẫn đầu, địa điểm dừng chân lập nghiệp sinh sống là thôn Tà Chải, xã
Túng Sán, Hoàng Su Phì ngày nay.
Về thời điểm thiên di của người Cơ Lao, căn cứ vào gia phả của các dòng họ
cũng như những truyền thuyết dân gian, các nhà Dân tộc học đều cho rằng, người
Cơ Lao bắt đầu có mặt ở Hà Giang khoảng 120-125 năm, cách ngày nay, muộn hơn
so với dân tộc Lô Lô và La Chí. Bộ phận Cơ Lao ở Đồng Văn đến Việt Nam sớm
hơn so với bộ phận Cơ Lao ở Hoàng Su Phì. Nhóm Cơ Lao Đỏ ở Hoàng Su Phì
thậm chí có mặt sau cả người Nùng và người Hoa. Như vậy, quá trình di cư của các
nhóm Cơ Lao vào Việt Nam diễn ra làm nhiều đợt, thời gian di cư sớm nhất cách
ngày nay khoảng 7 đến 8 đời. Trong quá trình di cư các nhóm đã tách ra và cư trú ở
nhiều địa phương khác nhau. Mặc dù sinh sống ở cách xa nhau về mặt địa lý, và có
một số khác biệt về ngôn ngữ, phong tục tập quán, nhưng các nhóm Cơ Lao đều
nhớ rất kỹ quê hương cổ xưa của mình là ở Quý Châu (Trung Quốc). Có thể thấy
rằng, người Cơ Lao là con cháu của một cư dân cổ đại ở Trung Quốc, họ đã di cư
vào Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau (loạn lạc, thiếu đất đai, bị Nhà nước phong
kiến Trung Quốc bóc lột). Dân tộc Cơ Lao là một thành viên trong đại gia đình các
dân tộc Việt Nam, luôn đoàn kết, kề vai sát cánh với các dân tộc khác trong công
Tìm hiểu lịch sử phát triển của nhóm người Cơ Lao Đỏ xã Túng Sán cho
thấy cuộc sống du canh du cư đã theo suốt chiều dài lịch sử. Cuộc sống du canh du
cư nay đây mai đó, sống phụ thuộc vào thiên nhiên đã bó chặt các cá nhân trong
cộng đồng (làng bản, họ tộc) vào một mối, tập trung quyền lực vào các trưởng họ
hoặc thầy cúng- là những người được coi là có quyền năng, sức mạnh khác người.
Đặc biệt, dù sinh sống ở các thôn bản khác nhau nhưng nhóm người Cơ Lao Đỏ đều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
thờ chung nhân vật là Hoàng Vần Thùng. Hiện nay, tại thôn Tà Chải xã Túng Sán
có một ngôi miếu thờ nhân vật này, được mọi gia đình người Cơ Lao Đỏ tổ chức
cúng tế vào dịp tháng 7 âm lịch hàng năm với quy mô cộng đồng. Có thể nói, lễ
cúng Hoàng Vần Thùng là một trong những biểu hiện rõ nét nhất về tính cố kết
cộng đồng của nhóm người Cơ Lao Đỏ xã Túng Sán.
1.1.3. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và đời sống văn hóa của
người Cơ Lao Đỏ ở Hoàng Su Phì, Hà Giang.
1.1.3.1. Điều kiện tự nhiên:
Hoàng Su Phì là huyện vùng cao biên giới núi đất phía Tây cách trung tâm
tỉnh lỵ 120 km theo đường tỉnh lộ Bắc Quang - Hoàng Su Phì - Xí Mần, nằm trên
lưu vực thượng nguồn sông Chảy và sông Bạc với tổng diện tích tự nhiên là
63.303,34 ha. Địa hình chủ yếu núi đất thuộc dãy núi Tây Côn Lĩnh do vậy, độ dốc
rất lớn, mức độ chia cắt địa hình mạnh, diện tích trồng trọt ít, chủ yếu đồi núi trọc
bạc mầu, mùa mưa thường xảy ra sạt lở, đi lại khó khăn. So với Đồng Văn, Hoàng
Su Phì có đất đai, khí hậu thuận lợi hơn cho phát triển trồng cây công nghiệp (chè,
thảo quả), nghề rừng và chăn nuôi. Rừng ở Hoàng Su Phì còn nhiều, phong phú
chủng loại động, thực vật. Rừng giàu ở đây chiếm 21,5% diện tích rừng, tập trung
trên đỉnh Tây Côn Lĩnh. Loại rừng này có hệ sinh thái đa dạng, lá rộng xanh nguyên
sinh, thứ sinh nhiều tầng, hoặc rừng hỗn giao lá rộng và lá kim (thông 3 lá, sa mộc).
Có nhiều loại gỗ quý: Ngọc am, pơ mu, hoàng đàn, sồi, dẻ, trám,… Rừng trung bình
quý và nhiều muông thú. Cũng trên những sườn núi đất họ đã khai phá thành nương
rẫy, ruộng bậc thang để trồng cây lương thực, rau màu, chè, thảo quả, chăn nuôi gia
cầm, gia súc. Ở những nơi khó khăn về nước, người Cơ Lao Đỏ khai phá thành
nương trồng chè (sư khá na), trồng ngô và trồng sắn. Những nơi có thể dẫn nước từ
nguồn về, hoặc có thể giữ được nước về mùa mưa, khai phá thành ruộng bậc thang
(nấu thi thén) để trồng lúa màu.
Như vậy, mặc dù địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh, độ dốc lớn, giao thông
khó khăn, song xã Túng Sán có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nghề rừng, chăn
nuôi, trồng cây lương thực, chè và một số loại cây dược liệu khác. Những đặc điểm
tự nhiên đó đã tác động và in những dấu ấn lớn trong tập quán hoạt động kinh tế xã
hội của người Cơ Lao Đỏ. Chính sự thuận lợi của tự nhiên đã tạo cho người Cơ Lao
Đỏ có hoạt động kinh tế phong phú hơn, có đời sống khá giả hơn những người đồng
tộc của họ.
1.1.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Người Cơ Lao Đỏ coi nông nghiệp trồng trọt là cơ sở kinh tế chính. Các
ngành kinh tế khác như chăn nuôi, thủ công nghiệp gia đình hay hái lượm chỉ đóng
vai trò bổ trợ. Trước đây, nền kinh tế này mang tính tự túc, tự cấp nên các ngành
kinh tế bổ trợ có vai trò đặc biệt quan trọng. Ngày nay, khi hệ thống thương mại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
mậu dịch phát triển, đã có những thay đổi nhất định trong quan niệm về các ngành
kinh tế này. Bộ phận Cơ Lao Đỏ phân bố ở Hoàng Su Phì, nơi có nhiều núi đất và
thung lũng chủ yếu canh tác ruộng nước, ruộng bậc thang, cây trồng chính là cây
lúa. Kỹ thuật làm ruộng của họ cũng giống như người Hoa, Nùng, Dao trong vùng.
Để canh tác lâu dài đảm bảo năng suất, người Cơ Lao nơi đây còn làm hệ thống
thuỷ lợi. Đồng bào thường chọn những sườn đồi có độ dốc thấp, đỉnh bằng và có
rừng để làm ruộng bậc thang. Ngoài trồng lúa người Cơ Lao Đỏ còn biết trồng cây
chè, đậu tương, thảo quả,…trong đó chè và thảo quả là hai loại cây trồng phù hợp
(làng lớn - đông người). Mặc dù có mối quan hệ ràng buộc giữa các thành viên
trong tộc họ nhưng việc phân chia ngôi thứ giữa các thành viên trong tộc họ người
Cơ Lao Đỏ lại dựa trên cơ sở về tuổi tác. Ví dụ: Con của anh ruột sinh sau con của
em chú theo ngôi thứ vẫn là em. Nói cách khác, người Cơ Lao Đỏ có quan niệm cứ
ai sinh trước được coi là bề trên cho dù người đó có nhân thân như thế nào. Ngoài
ra , người Cơ Lao Đỏ còn có cách đặt tên đệm tương đối phức tạp đối với nam giới.
Cách đặt tên đệm của mỗi họ lại khác nhau. Ví dụ: Họ Min theo thứ tự chữ cái có
nghĩa tiếng Hán như sau: Tề Hùng (số phận tốt); Phà (Fa - Phát triển); Diu (Hữu -
có); Zhử (Tự - con cái) sau đó lại quay trở lại thứ tự ban đầu, còn đối với họ Vàng
theo thứ tự từ một đến mười như sau: Chẩn (Trượng - cao lớn); Cò (Quốc); Chín
(Chấn - kinh thành); Chá (Gia); Pắng (Giúp đỡ); Mìn (Minh); Thàng (Đường); Shu
(Thụ); Ngán (Yên lành); Kháng (Uy - uy tín). Với họ Cáo thì lại theo thứ tự từ một
đến bốn là: Chẩn, Phà, Phủ, Diu (…) sau đó lần lượt quay về thứ tự ban đầu. Còn
đối với nữ giới đều có chung tên đệm là Seo (Tiểu - tức là nhỏ).
Về tố chức làng bản : Đứng đầu trong các thôn bản của người Cơ Lao Đỏ có
Già làng (Seo phâu), là người có uy tín giải quyết những khúc mắc của cộng đồng
người, là người có quan hệ rộng rãi, hiểu biết với những dân tộc khác. Ngoài ra,
trong cộng đồng người Cơ Lao Đỏ còn có thầy cúng (Mấu cung), cũng là người có
uy tín được nhân dân tôn trọng. Trong quy ước về hôn nhân, quan hệ nam nữ trước
hôn nhân bị phát hiện đưa ra dòng họ hay già làng giải quyết, trường hợp trai gái đã
thành hôn, nhưng vì một lí do nào đó khiến họ phải li dị. Nhưng bất luận trong
trường hợp nào, khi li dị, người vợ sẽ không được gia đình họ hàng công nhận là
thành viên của nhà mình, cũng không được tham gia vào các nghi lễ, hội hè, đặc
biệt khi chết không được đưa ma tại nhà bố mẹ đẻ, họ hàng thân thích.
1.1.3.3. Đời sống văn hoá
* Về văn hoá vật thể:
- Về nhà ở: Nhìn phía ngoài, nhà ở của người Cơ Lao Đỏ có dáng vẻ giống
như những ngôi nhà của người Việt, là loại nhà đất có cấu trúc 3 gian 2 trái, mái