hát lượn slương của người tày (qua khảo sát ở xã yên cư, huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn) - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

L
L
Ê
ÊT
T
H
H

ỊP
P
H
H
Ư
Ư
Ơ


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN ĐỨC NGÔN

THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác.
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả
Lê Thị Phương Thảo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1. Mục đích nghiên cứu 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu 4
4.2. Phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Kết cấu của luận văn 5
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI TÀY XÃ YÊN CƢ VÀ DIỄN
XƢỚNG LƢỢN SLƢƠNG 6
1.1. Khái quát về người Tày ở xã Yên Cư huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn 6
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 6
1.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội. 7
1.1.3. Văn hóa vật thể 9
1.1.4. Văn hóa phi vật thể 15
1.2. Diễn xướng lượn Slương 21
1.2.1. Khái niệm về hát lượn 21
1.2.2. Nguồn gốc của lượn Slương. 23
1.2.3. Lượn Slương trong đời sống văn hóa của người Tày xã Yên Cư
(Chợ Mới, Bắc Kạn) 25
1.2.4. Các thể và chặng hát lượn Slương 29
1.2.5. Các giai đoạn phát triển của lượn Slương 37
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv
Chƣơng 2. NỘI DUNG CỦA LƢỢN SLƢƠNG 39
2.1. Những lời ca thể hiện tình yêu nam nữ 39
2.1.1. Những lời tỏ tình thiết tha, chân thành, giản dị 40
2.1.2. Những lời hẹn ước, kết duyên sâu nặng 48

1. Lý do chọn đề tài
Dân ca sinh hoạt của người Tày có nhiều thể loại, trong đó thể loại giao
duyên là phổ biến nhất, từ lâu đã được ghi lại bằng chữ nôm Tày. Trong đó
các văn bản nôm lượn Slương là điểm sáng so với các thể loại hát giao duyên
khác của người Tày.
Lượn Slương là điển hình cho thể loại hát giao duyên của người Tày.
Điều đó được thể hiện qua nội dung các bài lượn mà ở đó có cả lịch sử tộc
người, có các truyền thuyết xa xưa và có cả thế giới thần linh. Ngoài ra lượn
Slương còn miêu tả chân thực về cuộc sống lao động sản xuất, những nét sinh
hoạt xã hội cũng như cả lễ hội dân gian của người Tày.
Lượn Slương cũng như nhiều thể loại hát giao duyên khác của người
Tày là nó được hình thành và phong phú dần lên nhờ công sức của nhiều thế
hệ truyền lại. Từ các văn bản nôm ở các địa phương khác nhau đã chứng minh
cho tính địa phương của lượn Slương. Mặt khác, ngoài đặc trưng riêng ra
trong phương thức sinh hoạt hát lượn Slương lại có điểm tương đồng với dân
ca giao duyên của người Kinh ở đồng bằng. Tìm hiểu điều này chắc chắn sẽ
mang lại những hiểu biết sâu sắc thêm về lượn Slương.
Cũng như các loại hình hát dân ca của nhiều dân tộc khác, các hình
thức hát dân ca giao duyên của người Tày nói chung trong đó có lượn Slương
cũng đang có nguy cơ bị mai một. Xã Yên Cư, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
là một trong số ít địa phương của Bắc Kạn còn bảo lưu được tục hát lượn
Slương với những lời ca mang đậm dấu ấn địa phương.
Tìm hiểu tục hát lượn Slương ở đây là một việc làm cần thiết không chỉ
có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn góp phần vào việc tìm hiểu,
phát huy các giá trị văn hóa đang có nguy cơ đi vào quên lãng của người Tày
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
nói chung và người Tày ở Bắc Kạn nói riêng. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Hát
Lượn Slương của người Tày (qua khảo sát ở xã Yên Cư, huyện Chợ Mới, tỉnh

Việt Nam”, tác giả Võ Quang Nhơn đã có sự tổng hợp, so sánh nghiên cứu về
thơ ca dân gian các dân tộc nói chung, trong đó có loại hình dân ca lượn của
dân tộc Tày nói riêng. [26].
Cuốn “Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam” do Phan
Đăng Nhật chủ biên, xuất bản năm 1981, trong đó cũng có giới thiệu một số
bài lượn của dân tộc Tày [27].
Các tác giả đã đề cập đến lượn nói chung của dân tộc Tày. Trong đó các
nhà nghiên cứu giới thiệu về cách thức, tổ chức, hệ thống của lượn, cũng như
giá trị của thể loại dân ca trữ tình này trong đời sống văn hoá của dân tộc Tày.
Cuốn “Lượn cọi Tày - Nùng”, của Cung Khắc Lược, Lê Bích Ngân (1987),
hay “Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày, Nùng, Dao Lạng Sơn” của Nông
Thị Nhình cũng nói nột ít về dân ca của dân tộc Tày [22].
Vậy công tác sưu tầm, nghiên cứu về lượn nói chung còn rất khiêm tốn,
so với bề dày nền văn hoá lượn của dân tộc Tày .
Trong các công trình khoa học của những nhà nghiên cứu tuy chưa
khám phá hết những giá trị của loại hình dân ca lượn; Nhưng các công trình
trên là những gợi mở, là tiền đề khoa học có giá trị to lớn cho việc nghiên cứu
đề tài trên.
Đối với dân tộc Tày Xã Yên Cư, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn hát
lượn Slương là một loại hình sinh hoạt văn hoá tập thể, được lưu truyền ở
nhiều bản làng của người Tày, trở thành nét sinh hoạt độc đáo riêng của người
Tày nơi đây. Dù đã được biết đến, nhưng hát lượn Slương của dân tộc Tày ở
Yên Cư vẫn chưa có được nhiều người quan tâm nghiên cứu.
Vì vậy, việc tìm hiểu về hát lượn Slương ở Yên Cư là việc làm thiết
thực trong đời sống hiện nay, góp phần bảo tồn gìn giữ và phát huy nền văn
học văn nghệ vô cùng quý giá của cả dân tộc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê, phân loại các làn điệu.
- Phân tích, tổng hợp, so sánh.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; đề tài luận
văn được chia làm 3 chương.
Chƣơng 1: Khái quát về người Tày xã Yên Cư và diễn xướng lượn Slương.
Chƣơng 2: Nội dung của lượn Slương.
Chƣơng 3: Hình thức nghệ thuật ngôn từ của lượn Slương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
Chƣơng 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
Theo thống kê của UBND xã thì hiện nay Yên Cư có 16 thôn với 580
hộ dân, trong đó có 10 thôn của người Tày và 6 thôn của người Dao. Toàn xã
có diện tích 46,14 km
2
. Dân số năm 2010 có 2.717 người, gồm các dân tộc:
Kinh (52 người), Tày (1.435 người), Nùng (78 người), Dao (1.067 người),
Còn lại là các dân tộc khác.
Hiện nay ở các thôn vùng cao, đặc biệt là ở các thôn định canh định cư
của xã, cuộc sống của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Không chỉ ở
vùng cao, giao thông đi lại khó khăn mà ở các thôn này, điện lưới quốc gia
vẫn chưa đến với người dân. Chính vì vậy, việc tuyên truyền chủ trương của
Đảng, chính sách của Nhà nước, triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong
sản xuất đến với bà con tương đối khó. Từ đó kéo theo đời sống kinh tế, văn
hóa, tinh thần của người dân chưa được nâng cao.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội.
Địa bàn cư trú của người Tày ở xã Yên Cư rất thuận lợi cho việc phát
triển kinh tế nông, lâm nghiệp toàn diện. Là cư dân nông nghiệp, từ xa xưa,
người Tày đã cần cù lao động, khai phá đất đai, tạo nên những thủa ruộng bậc
thang ở các khe suối, thung lũng phì nhiêu, màu mỡ. Dẫn nước tưới cho cánh
đồng là các công trình thủy lợi: những con mương dài, những phai gỗ, đá
được kết cấu chắc chắn, chống được lũ lụt, những máng tre, mai, móc dẫn
nước vượt qua khe sâu, những chiếc cọn bên bờ sông, nhờ lực nước đẩy, đưa
nước lên trên ruộng bậc cao. Bên cạnh đó đồng bào đã biết chọn lọc tạo nên
các giống lúa có năng suất và có tên gọi riêng. Lúa tẻ gồm khẩu lài (lúa vằn),
khẩu pay, khẩu păn chang, khẩu chết, khẩu pét, khẩu xiên păn (một loại lúa
gạo cẩm, hạt đỏ tím, thường nấu rượu màu hồng, đẹp có tác dụng bồi dưỡng
sức khỏe…). Lúa nếp có khẩu nua lương (lúa nếp vàng), nua lếch, nua ca, nua

đồ xôi, chõ nấu và cất rượu… Có người còn tinh thông nghề rèn sắt làm dao,
cuốc, sửa súng; đẽo đục đá làm cối xay, cối giã, đá kê chân cột…
Phụ nữ Tày phần lớn đều biết kéo sợi, dệt vải, dệt vải làm quần áo,
chăn màn, dệt thổ cẩm làm mặt chăn, mặt địu cho trẻ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
Nghề đan lát với nghệ thuật đan trên nhiều chủng loại vật liệu đã làm ra
nhiều loại sản phẩm với nhiều hình thức và kiểu cách như: Giần sàng, nong
nia, dậu gánh, phên phơi thóc, đó đơm cá, lưới bắt cá, giỏ đựng cua cá tôm ốc,
lồng gà, bu gà, sọt mắt cáo dùng để gánh đu đủ, bí mướp, …
Ở xã Yên Cư, người Tày thường có sự phân chia lao động theo sức
khỏe, tuổi tác, giới tính. Đàn ông khỏe mạnh làm công việc nặng nhọc như
cày, bừa nhổ mạ, làm đồ gỗ, làm nhà…Phụ nữ là người chăm sóc và nuôi con,
ngoài làm việc nội trợ còn trồng bông kéo sợi, dệt, nhuộm vải, đan nát, cấy,
gặt lúa, đi chợ mua bán.
Từ lâu đời, người Tày luôn cư trú ở vùng rừng núi có nguồn lâm thủy
sản dồi dào cả thực vật và động vật. Đồng bào thường vào rừng khai thác các
loại rau rừng như măng, nấm; các loại quả như trám, bứa; các loại cây dược
liệu như sa nhân, mật ong; các loại gỗ, nứa, mây, song…làm đồ dùng, dụng
cụ; bông lau làm gối đệm, bông chit làm chổi chit…Các sản phẩm chủ yếu
phục vụ cho đời sống hàng ngày.
1.1.3. Văn hóa vật thể
+ Nhà cửa và các công trình xây dựng khác
Làng, tiếng Tày gọi là bán hoặc bản. Bản có thể ít hoặc nhiều hộ, địa
giới có thể dài, rộng cả cây số.
Người Tày định cư lâu đời, tạo nên những bản nơi chân núi, sườn
đồi, bên cánh đồng, sông suối. Nói chung do đất sản xuất, ruộng đồng phân
tán, theo đó bản cũng phải phân tán mỗi nơi vài hộ để tiện canh tiện cư, tận
dụng đất đai trồng trọt, chăn nuôi. Vì vậy có những bản ở hẻo lánh trong

nên mặt bằng rộng để tiến hành các lễ nghi cần thiết hoặc có thể bày cỗ tiệc
cho cả chục mâm thực khách. Từ cầu thang vào nhà đến bếp lửa gọi là phía
ngoài (pạng noọc). Đây là nơi đi lại tiếp khách của cả nam, nữ. Từ bếp lửa đi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
vào phía trong (pạng đâng) là nơi sinh hoạt tiếp khách phụ nữ và các buồng
ngủ của chị em. Từ bếp lửa lên phía trước theo hướng nhà gọi là phía trên (nả
nưa) là nơi sinh hoạt dành cho nam giới, chủ nhà cũng tiếp khách ở đây.
Ngoài ra còn có bàn thờ tổ tiên, nơi ngủ của nam giới. Con gái và nhất là con
dâu không được bước qua nả nưa đi vào phía trong. Bố và anh chồng cũng
không lui tới phía buồng con gái, con dâu. Từ bếp lửa về phía sau được gọi là
phía dưới (nả tấu) là lối đi của nữ vào phía trong, nơi chế biến đun nấu thức
ăn, có chạn bát, nồi chảo, củi đuốc… Các bữa ăn hàng ngày thường bố trí
mâm nam ở nả nưa, mâm nữ ở phía trong. Ngày nay với những gia đình ít
người, phụ nữ có thể ngồi cùng chung mâm ở nả nưa. Tùy theo lối ra vào nhà
mà người ta thường đặt cầu thang ở hang hiên với số bậc lẻ và bố trí máng
nước rửa chân trước khi vào nhà. Một số nhà còn ngăn phên cụt làm cầu
thang, bếp lửa ở phía trong để nấu ăn và dành cho phụ nữ. Mọi nhà đều có
“sân sàn” liền kề nhà ở- nơi có ánh nắng mặt trời để phơi thóc lúa, quần áo.
Những đêm trăng sáng, con trẻ ra sàn vui hát, ngắm trăng sao.
Đồng bào Tày cũng rất quan tâm đến việc xem tuổi, năm tháng, ngày
giờ dựng nhà, vào nhà mới. Vì vậy, nếu đúng giờ lành, dẫu nửa đêm cũng hò
nhau dựng nhà, thậm chí còn che mưa nắng trên đầu cột để năm sau làm tiếp.
Tuy nhiên nếu gặp lúc sấm sét đầu mùa là không may mắn nên phải cúng
hoặc làm lại. Cũng đúng ngày tốt giờ lành, dù mái chưa lợp, phên vách chưa
xong,vợ chồng chủ nhà vẫn đốt lửa, đặt ống hương thờ tổ tiên và mâm cúng
vào nhà mới rồi để bó lúa nhỏ lên xà hoặc xuyên nhà hay đầu cột cái với
mong ước luôn đủ lương thực, gia đình an khang. Tất nhiên sau khi làm xong
căn nhà, gia chủ phải làm bữa cơm gọi là vào nhà mới, mừng vui không kém

(chúp mèng) thường sử dụng khi đi làm. Những lúc đi chơi, đàn ông có thể
đội mũ dạ hình tròn, tay cầm ô.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Ngày nay nam nữ người Tày đã chuyển sang ăn vận theo kiểu thời trang
phổ thông. Trong cưới xin, lễ hội đã ít người ăn mặc theo kiểu truyền thống.
+ Ăn uống: Hằng ngày người Tày ăn hai bữa chính: bữa trưa và bữa tối.
Ngoài ra tùy từng gia đình, người ta có thể ăn sáng, ăn chiều (ăn phụ - chin
lèng) trước khi đi làm. Ai trong gia đình có nhu cầu thì tự ăn chứ không dọn
thành bữa như hai bữa chính. Cơm và thức ăn bữa phụ thường là phần dư thừa
từ bữa ăn chính hoặc cháo nấu cho người già và trẻ em. Vì vậy mà các bữa
cơm chính, các bà, các chị thường nấu dư thừa để phòng khách đến gặp bữa
cùng ăn và có cơm canh để cho bữa phụ.
Vào bữa ăn, từ người già đến trẻ con, dâu rể cùng ăn uống vui vẻ từ tốn
chứ không có người ăn trước ăn sau. Ông bà và trẻ con thường được gắp cho
những miếng ngon, miếng lành.
Người Tày ăn cơm gạo tẻ nên trên đồng ruộng, chủ yếu trồng lúa tẻ.
Những ngày tháng giáp hạt, nếu thiếu đói thì người Tày có thể ăn cơm độn
ngô, cơm độn sắn khoai. Các loại củ khác thì nướng, luộc hoặc làm thành bột
bánh, ăn bổ sung cho bữa chính.
Ngoài bữa cơm tẻ và các hoa mầu lương thực, thỉnh thoảng các gia đình
vẫn nấu cơm nếp, đồ xôi. Gạo nếp chủ yếu dùng để chế biến các loại xôi,
bánh như một sản phẩm mang hương vị đặc trưng cho các ngày lễ, tết.
Tết năm mới được đồng bào chuẩn bị và chế biến nhiều loại bánh như:
bánh trưng loại dài, loại vuông, bánh gio, bánh khảo, bánh bột viên tròn, chà
lam, bỏng. Đặc biệt người Tày còn có món ăn khẩu thuy là một loại bỏng nở
phồng, giòn thơm. Khẩu thuy được chế biết rất kỳ công. Đầu tiên phải là thóc
khô, hạt mẩy để gạo không gẫy nát. Gạo ngâm với nước thuốc nhiều loại cây
như bèo tây, tro lá chuối tiêu, độn và đồ với khoai sọ rồi đem giã thật nhuyễn,

Nước uống thông dụng của người Tày là nước đun sôi để nguội. Nhiều
khi đi làm xa nhà, người Tày phải uống nước lã ở các khe suối. Trong gia
đình, người Tày thường uống nước chè.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
Rượu được dùng trong lễ tết, cưới xin, tiếp khách, ngâm làm rượu
thuốc để chữa bệnh hoặc tăng cường sức khỏe sau những buổi lao động mệt
nhọc. Nữ giới thì ít uống rượu hoặc uống nước rượu ngọt chưa cất, rượu nếp.
Nam giới thích uống rượu có nồng độ cao.
Nói chung so với mấy chục năm trước thì đời sống của người Tày bây
giờ khá hơn rất nhiều. Thức ăn phong phú và đủ no song người Tày vẫn chưa
có ý thức khoa học trong việc ăn thế nào để đảm bảo dinh dưỡng và sức khỏe.
1.1.4. Văn hóa phi vật thể
+ Ngôn ngữ và chữ viết
Cư dân người Tày ở xã Yên Cư, huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn cũng
như nhiều người Tày khác sinh sống trong cả nước đều có một nền văn hóa đa
dạng và phong phú.
So với các dân tộc anh em, ngừời Tày có thể tự hào về sự phong phú từ
vựng trong ngôn ngữ dân tộc. Nhiều khi có những câu từ, chi tiết được phân
biệt khá rạch ròi.
Ví dụ: Người Kinh nói: Chuồng gà, chuồng lợn, chuồng trâu, chuồng ngựa.
Người Tày nói: Lậu cáy, coọc mu, lảng vài, tàu mạ.
Tiếng chuồng phải dịch thành bốn tiếng Tày :lậu, coọc, lảng, tàu để sử
dụng cho từng trường hợp. Song về thanh điệu, giọng nói người Tày cũng có
hạn chế là không có thanh ngã ( ~ ), sang tiếng việt phải chuyển thanh nặng -
dấu nặng ( . ), hoặc thanh sắc - dấu sắc ( ' ).
Cũng như tiếng Kinh trong Nam, ngoài Bắc, tiếng Tày ở Bắc Kạn cũng
có ba vùng nói khác nhau, người Tày gọi là giọng nói mềm (ón), cứng
(kheng) và nặng (nắc).

thống chữ viết cho dân tộc Tày theo lối chữ Quốc Ngữ bằng chữ cái Latinh.
Chữ Nôm Tày có vai trò lịch sử rất lớn trong quá trình góp phần phát
triển văn hóa văn nghệ dân tộc và ghi lại cho ngày nay rất nhiều tư liệu quý.
Đây không chỉ được coi là di sản văn hóa riêng của người Tày mà còn là tư
liệu lịch sử nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
Có thể nói chữ viết ra đời là một trong những thành tựu to lớn, là điều
kiện vô cùng quan trọng trong việc lưu giữ và phát triển nền văn hóa văn học
đa dạng của các dân tộc nói chung, cư dân Tày ở Yên Cư nói riêng.
+ Văn hóa ứng xử
- Dòng họ gia đình, hôn nhân:
Dòng họ: Người Tày ở Bắc Kạn nói chung và người Tày ở Yên Cư,
Chợ Mới nói riêng có lớp bản địa cư trú rất lâu đời, người Kinh ở miền xuôi
lên có tầng lớp lưu quan, người dân tộc khác ở các tỉnh bạn và Trung Quốc
chuyển cư đến với nhiều lí do kinh tế, xã hội. Quá trình sinh sống, hòa hợp tự
nhiên khiến họ dần trở thành người Tày. Cũng do đó, người Tày ở Bắc Kạn,
có rất nhiều họ, song các họ Nông, họ Ma, ngoài người Tày - Nùng, hiếm có
ở dân tộc khác.
Mỗi dòng họ thường sống tập trung một bản. Dần dần do yêu cầu phát
triển kinh tế văn hóa hoặc hôn nhân mà có thêm nhiều họ khác đến cư trú và
cùng sinh sống thuận hòa.
Trong hôn nhân, đồng bào không kết hôn với người trong họ. Tuy
nhiên trong dòng họ phát triển nhiều chi, nhiều nhánh, cách xa nhiều đời -
thường là trên 3- 4 đời cũng có người kết hôn nhưng họ coi như việc làm
gượng ép, không phấn khởi, không khuyến khích để từ anh em họ hàng mà
trở thành thông gia. Người trong dòng họ luôn được coi là người anh em ruột
thịt, khó khăn hoạn nạn có nhau, cưu mang lẫn nhau:
Phân tốc chắng hăn tạc

Tuy vậy, con trưởng vẫn luôn có vai trò nhất định trong đời sống tinh
thần của gia đình, dòng họ. Dù cuộc sống có khó khăn hoạn nạn, anh chị em
ruột vẫn thân thương đùm bọc nhau, hiếm khi có sự bất hòa. Người con
trưởng thường là trung tâm hòa thuận, độ lượng chứ không hẳn bởi tính gia
trưởng. Đặc biệt chị em phận gái càng yêu thương nhau hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
Van bấu quá nựa pết
Chép bếu quá pả nà
(Không gì ngon hơn thịt vịt
Đau xót không ai hơn chị em)
Trong gia đình, việc lao động được mọi người tự giác thực hiện theo
sức khỏe, giới tính, tuổi tác. Đàn ông làm những việc nặng nhọc, nguy hiểm
hoặc những việc liên quan đến cộng đồng như làm nhà, chặt cây, xẻ gỗ, săn
bắn, đánh cá, chế tác công cụ, cày bừa, thờ cúng gia tiên, tham gia việc làng
bản…Phụ nữ, ngoài nuôi con, còn trồng bông dệt vải, may vá, đan lát, chăn
nuôi, tham gia cày bừa, cấy, gặt…Đặc biệt việc nội trợ, quán xuyến gia đình
được coi là việc hết sức quan trọng của phụ nữ Tày. Từ xưa đã có câu nói :
“mẹ xốc vác năng nổ thì tổ mới ấm”. Mọi thành viên gia đình cùng ở, cùng
làm, cùng ăn, vì vậy thành quả lao động, tài sản gia đình đều là của chung,
mọi người được quyền quản lí, sử dụng. Gia tài chỉ được chia khi tách hộ.
Trong quan hệ xưng hô giao tiếp, ngoài danh xưng với bố mẹ là lục (con), với
ông bà, chú bác cô cậu là lan (cháu), nhiều khi còn tự xưng là khói (khỏi) có
nghĩa là tôi tớ, đầy tớ, tự hạ thấp mình một cách khiêm tốn. Danh xưng là
khói được dùng một cách phổ biến trong người Tày để tỏ sự khiêm tốn lễ
phép đối với người cao tuổi, khách lạ, thông gia hơn hoặc ngang lứa, thậm chí
kể cả thông gia ít tuổi; chỉ dùng từ rầu, rà, ngỏ cũng có nghĩa là mình, là tôi
đối với người ngang tầm ngang lứa. Đây là điểm khác so với cách xưng hô
của một số dân tộc khác.

dung cầu mùa, vui chơi, giải trí là chính. Sau lễ cúng, họ tổ chức các trò chơi
như đánh yến, đánh quay, tung còn, kéo co…và một phần không thể thiếu
trong hội là những lời Hát Lượn, Hát Cọi giao duyên làm đắm say bao tâm
hồn từ già tới trẻ. Ngày nay lễ hội Lồng tồng vẫn được bảo tồn và phát huy.

Trích đoạn Biểu tượng thuộc thiên nhiên: Biểu tượng thuộc sự vật: Ngôn ngữ nghề nghiệp Thời gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status