việc tham gia các hoạt động giải trí trong thời gian rỗi của người dân (qua khảo sát tại xã hải hoà - huyện tĩnh gia - tỉnh thanh hoá) - Pdf 24

I.PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Giải trí là một nhu cầu thực tế của con người. Xã hội càng phát triển
hiện đại thì nhu cầu giải trí càng trở lên phong phú, sinh động hơn càng trở
thành một nhu cầu to lớn và cấp thiết của mọi người. Thực chất giải trí là một
hình thức thay đổi tính chất lao động của con người nhằm giải toả những mệt
mỏi, ức chế và phục hồi sức khoẻ, đưa cơ thể trở lại trạng thái khoẻ mạnh
toàn diện cả về thể chất và tinh thần. Giải trí là một hình thức nghỉ ngơi tích
cực tác động chủ yếu vào tinh thần của con người, giúp con người xoá đi
những căng thẳng, khắc phục những ức chế tâm lý do công việc gây ra. Giải
trí cũng là yêu cầu, điều kiện để con người hiện đại sử dụng thời gian một
cách có lợi.
Vui chơi giải trí là một trong những nhu cầu văn hoá cơ bản của con
người nó giúp con người giải toả những căng thẳng do lao động trí óc và chân
tay đưa lại tạo điều kiện để con người phát triển và hoàn thiện về thể chất, trí
tuệ, tình cảm và nhân cách. Do đó con người không thể thiếu các hoạt động
vui chơi giải trí để được nghỉ ngơi, tìm lại thế cân bằng mà để tiếp tục lao
động học tập, sáng tạo với chất lượng tốt hơn. Vui chơi giải trí rèn luyện cho
con người những phẩm chất cơ bản về trí tuệ, đạo đức, thể chất theo quy luật
của cái đẹp. Nhu cầu giải trí được thể hiện bằng cách chuyển trạng thái từ lao
động sản xuất, các hoạt động sinh tồn có tính sinh vật sang hoạt động vui
chơi, giải trí có tinh thần như đọc sách báo, phương thức nghệ thuật như xem
tivi, giải trí thể lực như thể dục thể thao du lịch …các hoạt động giải trí có vai
trò to lớn kích thích trí tuệ sáng tạo của con người phát triển đến vô cùng.
Trong khi vui chơi giải trí người lớn lại nhận thức kiến thức, con trẻ em lại
từng bước nhận thức thế giới xung quanh để tự rút ra cảm nhận được cái đẹp,
cái tốt, cái sấu, trật tự, kỷ cương …góp phần hình thành nhân cách con người.
Bên cạnh đó các hoạt động vui chơi giải trí ( với tư cách là những hoạt
động tự do theo nhu cầu, sở thích của cá nhân) là một bộ phận cơ bản trong cơ
cấu hoạt động sống của cá nhân góp phần tạo nên diện mạo văn hoá cá nhân
và là một trong những thước đo lối sống của con người.

- Thực trạng việc tham gia các hoạt động giải trí của người dân xã Hải Hoà -
Tĩnh Gia - Thanh Hoá hiện nay.
- Khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội đối với hoạt động giải trí của người
dân.
- Những những nhân tố cơ bản tác động đến việc tham gia các hoạt động giải
trí của người dân.
4. Câu hỏi nghiên cứu.
- Hoạt động giải trí trong thời gian rỗi của người dân hiện nay chủ yếu là
những hoạt động gì?
- Nhu cầu giải trí của người dân đã được đáp ứng ở mức độ nào?
- Những yếu tố nào tác động đến việc tham gia hoạt động giải trí của người
dân?
5. Giả thuyết nghiên cứu.
- Hoạt động giải trí trong thời gian rỗi của người dân hiện nay chủ yếu
là những hoạt động giải trí tại nhà, mất ít chi phí về vật chất.
- Nhu cầu giải trí của người dân đã được đáp ứng.
- Có nhiều yếu tố tác động đến việc tham gia các hoạt động giải trí của
người dân.
6. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
.6.1 Đối tượng nghiên cứu.
Việc tham gia các hoạt động giải trí trong thời gian dỗi của người dân.
6.2 Khách thể nghiên cứu.
Người dân xã Hải Hoà - Tĩnh Gia - Thanh Hoá.
6.3 Phạm vi nghiên cứu.
Về không gian: 450 hộ dân xã Hải Hoà - Tĩnh Gia - Thanh Hoá.
Về thời gian: tháng 8 năm 2011.
7. Phương pháp nghiên cứu.
7.1 Phương pháp phân tích tài liệu.
Việc nghiên cứu, phân tích các tài liệu có một vai trò quan trọng trong
việc phát hiện và xác định vấn đề nghiên cứu.

Nhưng phải đến thế kỷ XIX giải trí và những vấn đề liên quan như thời gian
rỗi, nhàn rỗi…Mới thật sự được quan tâm.
Hiện nay đã hình thành khoa học về nhàn rỗi với tư cách là khoa học
liên nghành, trong số các khoa học về giải trí có mặt của xã hội học về giải trí,
một chuyên nghành có đối tượng nghiên cứu là thời gian rỗi trong mối tương
tác với quỹ thời gian, đặc biệt là thời gian lao động và trong mối quan hệ với
các thiết chế xã hội, cơ cấu xã hội, văn hoá và các quá trình xã hội, nhưng nó
phát triển mạnh mẽ ở các nước phương tây do những thành tựu khoa học đã
cho phép rút ngắn thời gian lao động, làm thời gian rỗi tăng lên.
Ở Việt Nam nghành xã hội học gia đời muộn 1906 và cho đến nay
những nghiên cứu về giải trí ở Việt Nam còn ít. Trong cuốn Việt Nam phong
tục của Phan Kế Bình có ghi lại nhiều thú chơi của cư dân miền bắc vào đầu
thế kỷ như hát ả đào, hát tuồng, những cuộc tiêu khiển vv…
Từ hướng tiếp cận khoa học có thể kể tới những bài phóng sự, ghi chép
điều tra vv… trên các phương tiện thông tin đại chúng về những khía cạnh cụ
thể của giải trí như thực trạng thiếu địa điểm vui chơi giải trí thiếu kinh phí
cho việc đầu tư các điểm vui chơi giải trí tại địa bàn cư dân.
Người tiếp cận vấn đề giải trí từ góc độ xã hội học văn hoá là cố tác giả
Đoàn Văn Chúc. Giải trí bước đầu được nghiên cứu trong khuôn khổ xã hội
học văn hoá với tư cách như là một bộ phận cấu thành đời sống văn hoá của
xã hội. Ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về giải trí và khẳng định giải
trí là một nhu cầu của con người, trong công trình này tác giả đã phân tích sâu
sắc về bản chất của giải trí như là một nhu cầu của văn hoá và một số khái
niệm như thời gian rỗi. Đây thực sự là một bước khai phá ra một lĩnh vực
khoa học mới còn chưa thu hút được nhiều người quan tâm, tuy nhiên nghiên
cứu của ông con hạn chế nhất là về mặt ứng dụng .
Nhưng chưa có một báo cáo nào nghiên cứu về giải trí của người dân
trong thời gian rỗi. Với đề tài của mình tôi muốn tìm hiểu việc tham gia hoạt
động giải trí trong thời gian rỗi nhu thế nào, cũng như tìm hiểu một số yếu tố
cơ bản tác động đến hoạt động giải trí của người dân.

+ Nhu cầu của chủ thể hoạt động.
+ Đánh giá của chủ thể tham gia hoạt động.
Nhu cầu là xuất phát điểm nhưng thực tế tình huống là yếu tố khách
quan không thể bỏ qua, buộc chủ thể phải cân nhắc trước khi hành động.
Chúng ta có thể nhận thấy: Thực tế tình huống phù hợp với nhu cầu của
chủ thể hành động hay nói cách khác nhu cầu giải trí gặp những điều kiện
tương ứng có thể thoả mãn nó. Khi hoạt động giải trí sẽ diễn ra theo đúng như
nhu cầu của chủ thể. Hoặc thực tế tình huống không phù hợp với nhu cầu của
chủ thể hoạt động thì chủ thể phải tìm phương án tối ưu nhằm dung hoà sự
xung đột này. Khi đó những hoạt động giải trí mà chủ thể mong muốn sẽ bị
biến dạng thành các hoạt động khác, bị thay thế bởi hoạt động khác, thậm chí
có thể hoàn toàn không thực hiện được. Do đó nghiên cứu việc tham gia các
hoạt động giải trí là nghiên cứu những dạng thức hoạt động giải trí cụ thể mà
chủ thể thường tham gia, tham gia nhiều nhất.
2.2 Lý thuyết biến đổi xã hội.
Mọi xã hội cũng giống như tự nhiên, không ngừng biến đổi. Sự ổn định
của xã hội chỉ là sự ổn định bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi
bên trong bản thân nó. Do vậy bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hoá nào,
cho dù có bảo thủ, cổ truyền đến đâu cũng biến đổi.
Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành
vi xã hội. Quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã
hội được thay đổi theo thời gian.
Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến nhưng nó diễn ra không
giống nhau giữa các xã hội. Mỗi xã hội đều biến đổi qua thời gian, nhưng do
điều kiện khác nhau nên các xã hội biến đổi theo những nhịp độ khác nhau.
Xét với giải trí: Giải trí là một hoạt động thuộc về đời sống tinh thần không
thể thiếu đối với mỗi con người. Nhưng trong giải trí lại có nhiều hình thức
giải trí khác nhau để cho con người lựa chọn hình thức giải trí phù hợp. Bên
cạch đó thì trong mỗi vùng miền khác nhau , xã hội hác nhau lại có những
hình thức giải trí khác nhau.

hội hoặc toàn xã hội nói chung, là nguồn thôi thúc nội tại của các hoạt động.
Như vậy nhu cầu là yếu tố cần thiết tất yếu để đảm bảo cho sự tồn tại cho sự
phát triển của cá nhân. Nếu như nhu cầu được thoả mãn thì tạo nên cảm giác
thoải mái, an toàn cho sự phát triển và ngược lại[8;tr143]
+Theo các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin; Nhu cầu là đòi hỏi
khách quan của mỗi con người trong điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự
sống và phát triển của mình. Nhu cầu là nguyên nhân của hành động, là một
thuộc tính tâm lý của cá nhân, là yếu tố trong nhóm xu hướng của cá nhân xác
định thái độ của con người đối với thực hiện và trách nhiệm của bản thân. Nó
ảnh hưởng mạnh mẽ đến lối sống và hành động của cá nhân.
*Giải trí;
+Theo từ điển xã hội học tiếng nga; Giải trí là một dạnh hoạt động của
con người, đáp ứng những nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể
chất, trí tuệ, mĩ học và giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân mà còn
là nhu cầu của đời sống cộng đồng [8;116]
"Giải trí là một hoạt động trong thời gian rỗi, nhằm giải toả căng thẳng
trí não, tạo sự hứng thú cho con người và là điều kiện phát triển con người
một cách toàn diện về trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ"[1;29]
Qua định nghĩa trên ta nhận thấy rằng: Giải trí là một hoạt động trong
thời gian rỗi, là một trong những cách giải toả căng thẳng, mệt mỏi về tinh
thần của con người. Nhưng không phải bất cứ hoạt động nào được thực hiện
trong thời gian rỗi đều là giải trí. Vì cái đích cuối cùng của giải trí là toả
những căng thẳng về thể chất và tinh thần đạt tới sự thư giãn trong tâm hồn và
cao hơn nữa là những rung cảm thẩm mỹ.
Giải trí hoàn toàn không phải là sự nghỉ ngơi thụ độngcủa con nguời
mà là những hoạt động mang tính chủ động. Nó là những hoạt động hoàn toàn
tự do, do mỗi cá nhân tự lựa chọn và tham gia một cách chủ động, không hề
bị thúc bách bởi một nghĩa vụ, bổn phận nào cả. Nhân tố quyết định mang
tính tiền quyết của giải trí là sở thích cá nhân ( với điều kiện phù hợp hệ
chuẩn mực và hoàn cảnh thực tế khách quan của xã hội ). Bởi vậy sự nghỉ

Tĩnh Gia là một huyện miền biển, nằmở cực nam của tỉnh Thanh Hoá,
phía nam giáp tỉnh Nghệ An, phía đông giáp biển, phía bắc giáp huyện Quảng
Xương, phía tây giáp huyện Nông Cống và huyện Như Thanh. Với diện tích
là 457,34km2. Dân số là 220.000 người, có bờ biển dài hơn 30km, có nhiều
đảo lớn như Đảo Mê, đảo Nghi Sơn. Là vùng bán sơn địa nên có cả rừng núi
và đồng bằng, có đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A đường sắt
Bắc - Nam hệ thống đường sắt phân bố suốt chiều dài của huyện. Tĩnh Gia có
lịch sử lâu đời thời thuộc hán là phần đất phía đông nam của huyện Cư
Phong, thời tam quốc là miền đất tương đương của huyện Thường Lạc. Thời
Lê Quang Thuận đổi tên là huyện Ngọc Sơn thuộc phủ Tĩnh Gia gồm cả Ngọc
Sơn, Nông Cống và Quảng Xương.
Đầu thế kỷ XX các huyện Quảng Xương và Nông Cống trực thuộc cấp
tỉnh tên huyện Ngọc Sơn không còn mà gọi là phủ Tĩnh Gia gồm 34 thị xã và
1 thị trấn.
Hải Hoà là một xã ven biển bãi ngang thuộc huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh
Hoá với diện tích là 640,3ha, dân số là 1.700 hộ trong đó có 7.400 khẩu nhìn
chung hoạt động về các mặt được cụ thể như sau:
*Về kinh tế .
Sản xuất nông nghiệp: tuy còn gặp nhiều khó khăn do thiên tai, sâu
bệnh trên các loại cây trồng, song ngay từ đầu năm các cấp các nghành từ xã
đến thôn đã chủ động tập trung lãnh đạo, chỉ đạo điều hành quyết liệt.
Tổng sản lượng lương thực cây có hạt : 652.6tấn = 76.8% kế hoạch.
Lạc vỏ đạt :502 tấn = 100.4% kế hoạch.
Vừng 4ha: 12 tấn = 30% kế hoạch.
Khoai lang: 25 ha năng suất 700 kg/sào = 350 tấn + khoai đông 72 tấn.
Cây ngô xen 20 ha năng suất = 10 tấn.
Đậu các loại 5 ha năng suất = 3tấn.
Tổng giá trị nghành trồng trọt đạt 71 tỷ đồng .
Về chăn nuôi: Đàn gia súc, gia cầm vẫn giữ được ổn định, dịch bệnh
đối với đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát chặt chẽ không để dịch bệnh lây

đua và 17 giáo viên giỏi .
Trường mầm non tổng số học sinh là 210 cháu, số học sinh lên lớp1 là
90 học sinh., học sinh đạt bé khoẻ bé ngoan đạt 98%.
Đội ngũ giáo viên từng bước được đào tạo chuẩn hoá.
Tỉ lệ học sinh thi đậu vào các trường đại học 22 em cao đẳng 21 em ,2
nhà trường giữ vững được danh hiệu trường chuẩn quốc gia giai đoạn ( I )đặc
biệt trường tiểu học đã hoàn thiện chuẩn bị đón trường chuẩn quốc gia giai
đoạn II.
Hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao chuyển biến tích cực tập
trung là tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị phát triển KT-XH quốc
phòng an ninh và các ngày lễ lớn của đất nước, tuyên truyền cuộc vận động "
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" tuyên truyền đại hội
đảng các cấp. Năm 2010 gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá 1.475 hộ đạt
75.3% trong đó 800 gia đình đạt " Ông bà mẫu mực, con cháu hiếu thảo" .
* Về kinh tế.
Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được chú trọng, chất lượng
khám chữa bệnh được nâng lên, công tác dân số gia đình và trẻ em chuyển
biến khá hơn trước hệ thống y tế từ thôn đến xã được củng cố.
Công tác xây dựng xã chuẩn về y tế được chú trọng, đến nay qua kiểm
tra của các cấp cơ bản đủ điều kiện công nhận xã chuẩn về y tế vào năm
2011.
* Về quốc phòng - an ninh.
Các chủ trương chỉ thị nghị quyết về quốc phòng an ninh được các cấp
các nghành tiến hành sơ kết tổng kết và tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ
hiệu quả. Tạo sự ổn định từ cơ sở nhất là đảm bảo môi trường đã thu hút đầu
tư phát triển khu du lịch biển.
Công tác quân sự quốc phòng địa phương tiếp tục được tăng cường
nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân
tiếp tục được củng cố vững chắc.
An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, phạm pháp hình

Nghe nhạc 9,7%
Xem video 3,8%
Đọc sách báo 6,6%
Tập thể dục thể thao 13,9%
Sinh hoạt hội phường 4,9%
Chơi nhà bạn bè, hàng xóm 29,1%
Chăm sóc bồn hoa, cây cảnh 10,6%
Đi chùa, nhà thờ 0,7%
Chơi cờ, chơi bài 0,7%
( Nguồn khảo sát xã hội học tại Hải Hoà - Tĩnh Gia - Thanh Hoá
tháng 8 năm 2011)
Qua bảng số liệu trên cho thấy: Hoạt động giải trí thu hút được nhiều
người tham gia nhiều nhất là xem tivi (84%):
Chơi nhà bạn bè (29,1%), nghe đài (28,7%)…chúng ta nhận thấy rằng
từ lâu tivi đã trở thành phương tiện nghe nhìn quen thuộc đối với người dân
Vịêt Nam nói chung và người dân xã Hải Hoà nói riêng. Nhất là đối với một
xã nông thôn ven biển (xã nghèo) thì các dịch vụ giải trí hiện đại chưa phát
triển, cộng thêm vào đó là thu nhập của người dân còn nhiều hạn chế thì hoạt
động xem tivi là một hình thức phổ biến.
Theo như lý thuyết biến đổi xã hội có những khác biệt về thời gian.
Trước đây trong xã hội ta xem tivi không phải là phổ biến do lúc đó đời sống
của nhân dân còn nhiều khó khăn, người dân chưa thể trang bị cho gia đình
mình một chiếc tivi để xem, mà chủ yếu là họ thường nghe đài thông qua hệ
thống truyền thông của xã hoặc tham gia vào các hình thức giải trí như xem
chiếu bóng tại sân đình, hoặc màn ảnh rộng …
Nhưng trong xã hội ta hiện nay do sự phát triển chung của nền kinh tế
xã hội, đời sống kinh tế của người dân được nâng cao, cho nên người dân đều
có thể trang bị cho gia đình mình một chiếc tivi riêng. Bên cạnh đó thì xem
tivi thu hút được rất nhiều người tham gia điều đó có thể giải thích được: Thứ
nhất; tivi là phương tiện hình thức giải trí chủ yếu của hầu hết các hộ gia đình

tối… không chỉ ở mức độ giải trí xem tivi còn giúp ta thu thập thông tin, tri
thức mới "nó cho cô nhưng thông tin bổ ích về những gì xảy ra trong nước
cung như trên thế giới, nó giúp cô biết thêm nhiều kiến thức mà từ trước tời
giờ cô chưa biết khi xem chương trình thời sự vượt qua thử thách, đôi khi nó
giúp cô giải trí trong thời gian rảnh rỗi"
(PVS nữ 45 tuổi, nông dân)
Một hoạt động cũng thu hút được nhiều người tham gia đó là chới nhà
bạn bè hàng xóm. Xã hội Việt Nam ta từ xưa luôn có truyền thống hiếu nghĩa,
đặc biệt là trong xã hội nông thôn thì việc chơi nhà bạn bè hàng xóm trong
thời gian rỗi được mọi người quan tâm đặc biệt chiếm 44% chúng ta biết rằng
đối với người dân nông thôn, quan hệ láng riềng, tình làng nghĩa xóm luôn
được quan tâm và coi trọng, đề cao nó ăn sâu vào tiềm thức con người Việt
Nam nói chung và người dân xã Hải Hoà nói riêng. Sang chơi nhà bạn bè
hàng xóm để cùng nhau như: nói chuyện tâm sự, chia sẻ những kinh nghiệm
trong sản xuất cũng như trong chăn nuôi, có thể là bình luận về một sự kiện
nào đó mới xảy ra trong xóm mỗi khi rảnh rỗi nói dăm ba câu chuyện là một
nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày nếu như đối với người
dân ở thành phố có nhiều hình thức giải trí, dịch vụ giải trí khác nhau phù hợp
với từng lựa chọn đối với những hoạt động giải trí của họ còn rất nhiều hạn
chế… thông qua các câu chuyện phiếm sự chia sẻ những kinh nghiệm … có
thể giúp cho mọi người hiểu nhau hơn, gần gũi với nhau hơn trong quan hệ
láng riềng và một phần nào đó giải toả những căng thẳng mệt mỏi ức chế sau
những giờ lao động mệt nhọc, bởi con người chỉ có thể lao động, học tập, hiệu
quả khi tinh thần thoải mái và sức khoẻ dồi dào hơn nữa đối với hình thức giải
trí này con người không mất chi phí về vật chất mà chỉ chi phí về thời gian
nhưng hiệu quả giải trí cũng rất hữu hiệu.
Nghe đài cũng là một hình thức được nhiều người tham gia và quan
tâm bởi vì đối với người dân nông thôn cư dân ven biển mọi người trong xóm
chủ yếu đều đi đánh bắt hải sản ngoài biển khơi xa xôi, phương tiện giúp họ
có thể nghe được dự báo thời tiết tốt hay xấu, tranh được các cơn bão khi đi

(PVS nam, 65 tuổi, giáo viên nghỉ hưu)
Ngoài ra ta thấy còn một số nhân tố chủ quan khác có ảnh hưởng đến
các hoạt động giải trí của người dân: Khả năng của bản thân người tham gia,
sở thích cá nhân, vai trò mà cá nhân đảm nhiệm.
3.2 Hoạt động của hệ thống nhà văn hoá xã.
Nhằm nâng cao sức khoẻ cho toàn dân và thu hút mọi tầng lớp nhân
dân tham gia do đó xã có chủ chương xây dựng 8 nhà văn hoá của 8 thôn để
có nơi sinh hoạt vui chơi cho mọi người. Duy trì tốt phong trào văn hoá văn
nghệ, thể dục thể thao của xã nhà.
+ Địa điểm đáp ứng nhu cầu đọc.
Điểm bưu điện văn hoá xã là nơi phục vụ đọc của mọi người dân trong
xã nhưng tỷ lệ người đến đọc ở bưu điện rất ít một phần là do đây là một xã
nông thôn người dân còn tất bật với cuộc sống hàng ngày của gia đình nên
không có thời gian. Nhưng đầu báo để phục vụ nhu cầu đọc chủ yếu là báo an
ninh thế giới, báo nhân dân… hai loại báo này chủ yêu thu hút được những
người chung tuổi.
Hơn nữa người người dân ít gắn bó với loại hình báo chí hiếm gặp các
tờ báo có mặt thường ngày ở làng, xã. Thường thì chỉ ở cơ quan bưu điện
huyện mới có báo, xã chỉ có một số tờ báo được đặt mua của cơ quan chính
quyền đoàn thể chức năng, những cá nhân có đặt mua báo có kỳ hạn rất hiếm.
3.3 Ảnh hưởng của mức sống tới hoạt động giải trí của người dân.
Trong xã hội nông nghiệp của ta trước kia, người nông dân quanh năm
đầu tắt mặt tối cũng chi dành dum chắt chiu đủ để chi phí cho cuộc sống hàng
ngày. Khi mà miếng cơm manh áo còn là nỗi lo thấp thỏi thì nhu cầu tinh thân
không được cá nhân quan tâm hay nghĩ đến. Ngày nay cùng với sự phát triển
công nghiệp, thương nghiệp đời sống của người dân ngày càng khá nên nhiều
có của ăn của để, đã làm cho nhu cầu tinh thần của con người ngày càng
nhiều và mong muốn được thoả mãn những nhu cầu ấy. Mặt khác, hầu hết các
hoạt động giải trí công cộng đều thuộc dạng phục vụ, hoạt động theo quy luật
cung - cầu của thị trường. Để tham gia vào các hoạt động này điều đầu tiên là

Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy được các hộ có mức sống khác
nhau cung có những ảnh hưởng khác nhau khi tham gia vào hoạt động giải trí
(xem tivi). Trước hết phải nói đến những hộ có mức sống khá tỷ lệ người xem
tivi hàng ngày rất cao 67 hộ chiếm 84,8 %, vài lần 8 hộ chiếm 10,1%, hiếm
khi 4 hộ chiếm 5,1%, trong đó không có hộ nào là không bao giờ xem.
Các hộ có mức sống trung bình và dưới trung bình có tỷ lệ chênh lệch
lớn về xem tivi hàng ngày, vài lần và hiếm khi, đặc biệt không bao giờ xem
tivi ở các hộ nghèo có 2 hộ chiếm 5,3% hiếm khi 1 hộ chiếm 2,6%.
Như vậy từ những phân tích trên chúng ta nhận thấy các hộ có mức
sống cao hơn sẽ dành nhiều thời gian cho việc giải trí vì đời sống vật chất ổn
định thì tinh thần mới được thoải mái có thời gian vui chơi, ngược lại những
hộ có mức sống thấp họ phải bươn chải với cuộc sống bên ngoài để có tiền
trang trải cho cuộc sống gia đình nên họ không có nhiều thời gian cho hoạt
động giải trí.
Bảng 3: Mức sống của những hộ gia đình với việc nghe đài.
Mức
sống
Nghe đài
Hàng ngày Vài lần Hiếm khi
Không bao
giờ
Tổng
SL % SL % SL % SL % SL %
Khá 27 35 24 31,2 21 27,3 5 6,5 77 100
Trung
bình
85 28,9 67 22,8 104 35,4 38 12,9 294 100
Dưới
TB
4 16,0 4 16,0 12 48,0 5 20 25 100

gia nhiều hơn. Hàng ngày, xem video của hộ trung bình là 9 hộ chiếm 3,2%,
vài lần là 35 hộ chiếm 12,2%, hiếm khi là 133 hộ chiếm 46,7%, không bao
giờ là 108 hộ chiếm 37,9% trong tổng số 285 hộ.
Bảng 5: Mức sống của hộ gia đình với việc đọc sách báo.
Mức
sống
Đọc sách báo
Hàng ngày Vài lần Hiếm khi Không bao
giờ
Tổng
SL % SL % SL % SL % SL %
Khá 13 17,1 25 32,9 30 39,5 8 10,5 76 100
Trung
bình 15 5,3 64 22,6 118 41,7 86 30,4 283 100
Dưới
TB 0 0 3 12 13 52 9 36 25 100
Nghèo 0 0 5 13,5 13 35,1 19 51,4 37 100
Khác 0 0 0 0 0 0 1 100 1 100
Ở bảng trên không có sự khác biệt nhiều về sự tham gia đọc sách báo
giữa các hộ gia đình mức khá và mức sống trung bình và giữa hộ có mức sống
dưới trung bình với hộ có mức sống là nghèo. Nhưng giữa các hộ có mức
sống khá và trung bình thì lại có sự chênh lệch hẳn so với những hộ dưới
trung bình và hộ nghèo bởi những hộ có mức sống dưới trung bình và nghèo
họ thường phải lao động chân tay và những công việc đồng áng, đi biển
không có thời gian để đọc sách báo so với những hộ khá và trung bình.
Bảng 6: Ảnh hưởng của mức sống với hoạt động thể dục thể thao.
Mức
sống
Thể dục thể thao
Hàng ngày Vài lần Hiếm khi

Không
bao giờ Tổng
SL % SL % SL % SL % SL %
Khá 7 9.1 34 44.1 29 37.7 7 9.1 77 100
Trung
bình
12 4.2 100 35.1 136 47.7 37 13 285 100
Dưới
TB
0 0 9 36 13 52 3 12 25 100
Nghèo
2 5.3 6
15.
8
22 57.9 8 21 38 100
Khác
0 0 0 0 0 0 1
10
0
1 100

Trích đoạn KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status