ĐỀ ÁN
SỰ CẦN THIẾT CỦA QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP VÀ
CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG HIỆU QUẢ CÁC HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP.
1
MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
I. Các luận điểm cơ bản về quản trị 3
1. Đĩnh nghĩa 3
1.1. Khái niệm về tổ chức – đối tượng căn bản của quản trị 3
1.2. Định nghĩa quản trị 4
1.3. Nhà quản trị 5
2. Chức năng của quản trị 6
2.1. Chức năng của quản trị 6
2.1.1 Các nguồn lực được sử dụng bởi nhà quản trị 6
2.1.2 Các chức năng quản trị 7
3. Vai trò của quản trị 9
II. Sự cần thiết của quản trị trong doanh nghiệp 9
1. Mục tiêu của doanh nghiệp 9
2. Tầm quan trọng của quản trị trong doanh nghiệp 10
3. Lợi ích của quản trị 11
4. Quản trị trong giai đoạn mới 11
4.1. Tác động của toàn cầu hóa đối với hoạt động quản trị 11
4.2. Thách thức nhà quản trị 13
4.3. Thực trạng công tác tổ chức bộ máy quản lý trong các doanh nghiệp
ở nước ta hiện nay 15
4.4. Giải pháp 16
Lời kết 18
Tài liệu tham khảo 19
2
LỜI MỞ ĐẦU
nhà hàng, ban nhạc, câu lạc bộ hay nhóm cộng đồng, cơ quan công quyền…cũng là
các tổ chức.
Các đặc điểm chung của các tổ chức: Mọi tổ chức đều có những mục tiêu nhất
định và chúng hình thành từ những con người được nhóm gộp lại với nhau theo cách
thức nào đó, và mỗi nhóm đều có một cấu trúc và cùng nỗ lực để đạt được các mục
tiêu mà từng cá nhân riêng lẻ hoạt động đơn độc không thể đạt được (xem hình I-1).
Đặc điểm thứ hai là, không có mục tiêu nào có thể đạt được nếu không có con người
ra các quyết định để thiết lập mục tiêu và thực hiện một loạt các hành động để hiện
thực hoá các mục tiêu đó. Đặc điểm thứ ba là tất cả các tổ chức đều xây dựng một
cấu trúc hệ thống để trên cơ sở đó mà xác định và giới hạn hành vi của các thành viên
của nó.
4
1.2. Định nghĩa quản trị:
Quản trị (Management) là từ thường được dùng phổ biến trong nhiều sách giáo
khoa và nhiều tài liệu khác. Nếu xét riêng từng từ một thì ta có thể tạm giải thích:
- Quản: là đưa đối tượng vào khuôn mẫu qui định sẵn. Ví dụ: Cha mẹ bắt đứa
bé phải làm theo một kế hoạch do mình định ra; sáng phải đi học, buổi trưa nghỉ ngơi,
buổi chiều học bài, trước khi đi phải thưa về phải chào, … Đó là cái khuôn mẫu
chúng phải thực hiện chứ không để đối tượng tự do hoạt động một cách tùy thích.
- Trị: là dùng quyền lực buộc đối tượng phải làm theo khuôn mẫu đã định. Nếu
đối tượng không thực hiện đúng thì sẽ áp dụng một hình phạt nào đó đủ mạnh, đủ sức
thuyết phục để buộc đối tượng phải thi hành. Nhằm đạt tới trạng thái mong đợi, có
thể có và cần phải có mà người ta gọi là mục tiêu.
Trước hết, một cách thô thiển, ai đó hiểu rằng cấp trên làm cho cấp dưới giúp
mình đạt mục tiêu đã đề ra thì tức là người đó đã quản trị tốt Một một người khác
tận dụng được tất cả những công cụ, dụng cụ và tiền bạc của mình để đạt được mục
tiêu lớn nhất.Cũng là quản trị tốt - quản trị tài sản, công cụ của mình. Sau đây là
những khái niệm về Quản trị của một số tác giả là Giáo sư, Tiến sĩ quản trị học trong
và ngoài nước.
- Theo GS. H.Koontz “Quản lý là một hoạt động tất yếu; nó đảm bảo phối hợp
nhiều hình thức khác nhau.
c. Kỹ năng chuyên môn
Là khả năng cần thiết để thực hiện một công việc cụ thể; biểu hiện trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của nhà quản trị như soạn thảo một văn bản hành chính, lập
một hợp đồng kinh tế, lập trình quản lý, ra một quyết định quản trị,… Mặc khác, kỹ
năng này còn đòi hỏi ở người quản trị phải hiểu biết chuyên môn của đơn vị mình
phụ trách, chẳng hạn một cán bộ quản trị ngân hàng phải am hiểu các nghiệp vụ ngân
hàng của mình.
6
Tuy nhiên, do vai trò của quản trị viên ở các cấp quản trị không giống
nhau nên yêu cầu mức độ thành thạo các kỹ năng có sự khác nhau.
2. Chức năng của quản trị:
2.1. Chức năng của quản trị:
2.1.1. Các nguồn lực được sử dụng bởi nhà quản trị
Nhà quản trị cần sử dụng nguồn lực nhất định để thành đạt các mục tiêu của
mình. Các nguồn lực mà các nhà quản trị sử dụng có thể được phân thành bốn loại:
con người, tài chính, cơ sở vật chất và thông tin.
a. Nguồn lực con người
Nguồn lực con người bao gồm những người cần thiết để hoàn thành công việc.
Mục tiêu của nhà quản trị là tác động và thông qua con người để hoàn thành
công việc.
b. Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính bao gồm số tiền mà nhà quản trị và tổ chức sử dụng để đạt
được mục tiêu của tổ chức.
c. Nguồn lực vật chất
Nguồn lực vật chất là những tài sản hữu hình của công ty và các bất động sản,
bao gồmnguyên vật liệu, văn phòng, nhà máy sản xuất, các thiết bị văn phòng,
phương tiện vận chuyểnvà công nghệ.
d. Nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin là những dữ liệu mà nhà quản trị và tổ chức sử dụng để
c. Lãnh đạo (Leading).
Sau khi hoàn thành việc lập kế hoạch, thiết kế cơ cấu tổ chức, sắp xếp đội ngũ
nhân viên, các nhà quản trị cần thực hiện chức năng lãnh đạo đối với tổ chức. Lãnh
đạo bao gồm các hoạt động nhằm thúc đẩy mọi người thực hiện những công việc cần
thiết để hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Chức năng lãnh đạo không phải được thực
hiện sau khi các chức năng hoạch định và tổ chức được hoàn tất; nó còn là một yếu tố
then chốt của các chức năng này.
d. Kiểm tra (Controlling)
Tiến trình mà trong đó một cá nhân, nhóm, hoặc tổ chức giám sát kết quả thực
hiện một cách liên tục và thực hiện các hoạt động điều chỉnh những sai lệch so với
mục tiêu (hoặc các hoạt động không theo kế hoạch) gọi là kiểm tra.
9
1. Vai trò của quản trị:
Hệ thống quản trị thực hiện các chức năng của mình thông qua giữ nhiều vai trò
khác nhau trong quá trình quản trị. Nếu chức năng quản trị là những nhiệm vụ chung
(nhiệm vụ tổng quát) thì vai trò quản trị là những công việc cụ thể, là tập hợp những
hành vi có tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Theo Henry Mitzberg, nhà
nghiên cứu Hoa Kỳ cho rằng quản trị có 10 vai trò phổ biến được tập hợp thành 3
nhóm:
- Nhóm 1: Vai trò quan hệ, bao gồm các vai trò là người đại diện; vai trò
người lãnh đạo; vai trò người quan hệ với các cá nhân và tập thể trong và ngoài tổ
chức.
- Nhóm 2: Vai trò thông tin, bao gồm các vai trò là người cung cấp thông tin;
phổ biến thông tin; thu thập và thẩm định thông tin.
- Nhóm 3: Vai trò quyết định, bao gồm các vai trò nhà doanh nghiệp; vai trò
người giải quyết xung đột; vai trò người phân phối tài nguyên trong tổ chức.
II. Sự cần thiết của quản trị trong doanh nghiệp:
1. Mục tiêu của doanh nghiệp:
1.1. Mục tiêu kĩ thuật:
Doanh nghiệp sẽ tìm cách đạt được các thắng lợi về sản lượng: bằng cách sản xuất
bản báo cáo đầy ấn tượng đẹp. (Quản trị doanh nghiệp- nxb thông kê Nguyễn Hải
Sơn - 1996 trang 235).
Quản trị thực hiện công việc không phải là một quá trình đơn giản. Quản trị làm
tăng khả năng tiếp cập, nâng cao khả năng hoạt động, phân bổ nguồn lực tốt hơn, tạo
ra sự giàu có, làm giảm rủi ro: phá sản, khủng hoảng tài chính, nâng cao mối quan hệ
giữa các đối tượng thụ hưởng.
11
3. Lợi ích của quản trị:
3.1. Lợi ích của công ty và nhà quản lý:
Quản trị thực hiện công việc không phải là một quá trình đơn giản. Vậy tại sao
chúng ta phải thực hiện? Khi được tiến hành đúng cách, quá trình này sẽ giúp người
quản lý giảm thời gian hướng dẫn nhân viên hoặc giải quyết những khó khăn trong
quá trình thực hiện công việc. Việc giúp nhân viên hiểu được những kỳ vọng ở họ sẽ
giúp họ làm việc độc lập hơn. Xác định được các khó khăn, rào cản trong quá trình
thực hiện công việc có thể cải thiện được năng suất làm việc. Quá trình quản trị thực
hiện công việc giúp nhân viên thực hiện công việc theo mục tiêu và yêu cầu của Công
ty. Tuy nhiên, nếu thực hiện không đúng, nó có thể gây ra sự tức giận, thất vọng và
tạo cảm giác không công bằng trong công ty.
3.2. Lợi ích với nhân viên
Quá trình quản trị thực hiện công việc giúp nhân viên hiểu được vai trò, trách
nhiệm, các kỳ vọng và yêu cầu mức độ hoàn thành. Nó cũng tạo ra cách thức xác
định rõ các yêu cầu/kỳ vọng, ghi nhận lại kết quả, và điều chỉnh các yêu cầu theo sự
thay đổi.
4. Quản trị trong giai đoạn mới
4.1. Tác động của toàn cầu hóa đối với hoạt động quản trị:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng đã tác động mạnh mẽ đến
quản trị trên hai phương diện: cơ hội và thách thức buộc các tổ chức phải đẩy mạnh
hội nhập với hình thức và bước đi phù hợp. Thực tế cho thấy quản trị các doanh
nghiệp ở Việt Nam phải đi nhanh quá trình hội nhập.
Trong quản trị phải đối mặt: tình trạng yếu kém chậm phát triển của doanh
3. Từng bước tự do hóa hoạt động tài chính và tiền tệ.
4. Đảm bảo tối đa quyền tự chủ của doanh nghiệp
Cơ chế thị trường chắc chắn là phương thức hữu hiệu nhất để thực hiện bước
quá độ lao động (giải quyết áp lực lớn nhất hiện nay là việc làm – thất nghiệp), cũng
là khâu trọng tâm của quá trình hình thành cơ cấu kinh tế hợp lí, có thể diễn ra thuận
lợi và có hiệu quả.
13
Lựa chọn mô hình để hội nhập quốc tế
Từ điểm xuất phát thấp , tiềm lực yếu, trong điều kiện sự biến đổi khoa học –
công nghệ trên thế giới lại diễn ra rất nhanh, liệu nước ta có đạt được những thành
công mong muốn trong việc tao ra nền khoa học – công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc tế
trong một thời gian tương đối ngắn (10 – 20 năm) không, có thể đạt kết quả trong bốn
chương trình khoa học công nghệ và ưu tiên (công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học, công nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hóa) đủ làm cơ sở bảo đảm cho sự
phát triển kinh tế trên nền tảng tự chủ công nghệ không?
Thực chất của vấn đề mô hình phát triển doanh nghiệp ở Viêt Nam hiện nay là
xử lí mối quan hệ giữa mô hình nghiêng về tiếp thu - ứng dụng các thành tựu khoa
hoc – công nghệ và mô hình nghiêng về tạo lập cơ sở khoa học riêng, để từ đó phát
triển nền công nghệ - công nghiệp của mình trong 15 năm tới. Ngắn gọn hơn đó là
vấn đề về sự lụa chọn bước đi, lựa chọn trật tự và ưu tiên phát triển khoa học - công
nghệ trong quan hệ với phát triển kinh tế trong giai đoạn tới. Cách đi này nhiều doanh
nghiệp Đông Á đã thành công.
Khoảng cách khá xa về trình độ phát triển giữa Việt Nam với thế giới, sự hạn
chế về tiềm lực vật chất đòi hỏi doanh nghiệp phải thiết lập một trật tự.
4.2. Thách thức nhà quản trị:
Ngày nay, việc lãnh đạo một doanh nghiệp đã khác rất xa so với cách đây nửa
thế kỷ. Vậy thì những kỹ năng nào mà người đứng đầu doanh nghiệp cần để đạt được
thành công - không những chỉ vào thời điểm này mà còn trong tương lai?
Đối với công việc của một nhà quản trị, yếu tố quan trọng nhất, không gì khác
chính là kỹ năng lãnh quản trị. Nhưng trong môi trường kinh doanh luôn biến động
qua có thể miêu tả bằng 2 chữ "hiệu quả". Thời thế có thể thay đổi nhưng thách thức
này thì không hề thay đổi. Trong thế kỉ 20, tính hiệu quả mà các nhà quản trị cần
hướng tới lại được nâng thêm 1 tầng cao nữa bởi sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, sự
ra đời của các công nghệ mới, các lý thuyết kinh tế mới, các vấn đề, khó khăn mới.
Theo tôi, thách thức mà các nhà quản trị gặp phải trong thế kỷ này là sự cạnh tranh
trong tính hiệu quả của việc kết hợp các yếu tố trong hoạt động của tổ chức, đặc biệt
là ứng dụng của Công nghệ thông tin vào quản trị.
15
Một thách thức nữa đó là khả năng dự đoán về sự biến động của thị trường, khẳ
năng này sẽ quyết định sự thành bại của tổ chức vì điều đầu tiên làm nên thành công
của 1 tổ chức đó chính là xác định đúng mục tiêu và vấn đề Quản trị rủi ro cũng ko
thể ko nhắc tới.
4.3. Thực trạng công tác tổ chức bộ máy quản lý trong các doanh nghiệp ở
nước ta hiện nay
Từ đại hội Đảng VI, Đảng ta đã chủ trương đổi mới nền kinh tế, chuyển từ nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà
nước. Sau hơn 20 năm thực hiện có rất nhiều các doanh nghiệp làm ăn ngày càng
phát triển nhưng cũng có các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ dẫn đến tình trạng phá sản
hoặc giải thể. Sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp có phần đóng góp
không nhỏ về vấn đề tạo lập tổ chức bộ máy doanh nghiệp .Trước đây bộ máy quản
lý thường rất cồng kềnh trình độ quản lý kém .Ngày nay các doanh nghiệp nói chung
đã biết đổi mới hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của mình cho phù hợp với
xu hướng phát triển của thời đại. Tỷ lệ lao động gián tiếp so với lao động toàn doanh
nghiệp trước đây là 20% nhưng hiện nay kể cả doanh nghiệp nhà nước tỷ lệ này còn
khoảng 8-15% ngoài ra còn có doanh nghiệp tỷ lệ này là 6 %.
Từ khi đất nước mở cửa nền kinh tế, tiếp nhận sự đầu tư nước ngoài thì hình
thức quản lý và phương pháp quản lý cũng được du nhập vào để bắt kịp thời đại. Các
doanh nghiệp đã tìm tòi học hỏi áp dụng các cách quản lý đó. Các loại hình doanh
nghiệp xuất hiện kéo theo các hình thức tổ chức bộ máy quản lý với quy mô lớn nhỏ
khác nhau.
châm bán hàng của họ là:”Chúng tôi tạo điều kiện cho những người nghèo được mua
sắm như những người giàu ”Chính điều này đã đem lại cho Woolworths sự tin tưởng
và yên tâm mua sắm của khách hàng. Đối với PNJ, phương châm "Nâng cao lợi thế
cạnh tranh bằng giá thành sản phẩm và chất lượng dịch vụ - đặc biệt là dịch vụ
khách hàng", PNJ luôn mong muốn đem đến cho khách hàng niềm tin tưởng và sự
hài lòng cao nhất. Do đó Công ty đã gặt hái được những thành công to lớn trong năm
2008, tạo một chỗ đứng vững chắc trong lĩnh vực kinh doanh Vàng bạc Đá quý tại
Việt Nam.
17
4.4.2. Duy trì các chuẩn mực đạo đức:
Đối mặt với nền kinh tế hiện đại,các nhà quản trị luôn phải chịu sức ép từ nhiều
phía để có thể đưa ra những chiến lược đúng đắn nhất.Có những áp lực tạo tính tích
cực tuy nhiên cũng có những sức ép khiến các nhà quản trị đi đến mục tiêu bằng con
đường sai lầm:cạnh tranh không công bằng, sản phẩm có sự gian lận, giảm chi phí
ảnh hưởng chất lượng… Đã đến lúc người lãnh đạo cần phát huy tư chất đạo đức
trong kinh doanh thay vì chỉ có năng lực tư duy và tình cảm đơn thuần trước kia.
Phẩm chất đạo đức đòi hỏi người lãnh đạo thực thụ luôn trăn trở những câu hỏi như:
Như thế nào thì được coi là quá nhiều? Lớn đến chừng nào thì nên dừng lại? Chúng
ta sẽ sẵn sàng đi xa đến đâu? Lợi nhuận hay sự tín nhiệm quan trọng hơn.
18
KẾT LUẬN
Toàn cầu hóa là một trong những quá trình xã hội hóa ngày càng trở nên sâu sắc,
qua đó các thị trường được mở rộng, các cơ hội mỗi quốc gia cũng được tăng lên, mặt
khác nó tạo ra một môi trường cạnh tranh rất gay gắt và nó trở thành nhân tố đe dọa
tới tình hình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Để đáp ứng được yêu cầu của quá
trình toàn cầu hóa thì các doanh nghiệp Việt Nam với tư cách là chủ thể của nền kinh
tế, là tế bào của xã hội, là những công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện các chính
sách kinh tế của mình. Vì vậy, các doanh nghiệp phải có đường lối chính sách hợp lý
nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp
của mình. Và để nâng cao hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, các doanh