Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
F ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THÚY
VẬN DỤNG DẠY HỌC
THEO VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC SINH THÁI HỌC
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THỒNG
VẬN DỤNG DẠY HỌC
THEO VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC SINH THÁI HỌC
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THỒNG
Chuyên ngành: LLvà PP Dạy học môn Sinh học
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Phúc Chỉnh
Thái Nguyên, 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung
thực và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng, hình iv
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1. Cơ sở lý thuyết của dạy học theo vấn đề. 9
1.1.1. Cơ sở triết học và logic học của dạy học theo vấn đề 9
1.1.2. Cơ sở tâm lý học của dạy học theo vấn đề 11
1.1.3. Cơ sở lý luận của dạy học theo vấn đề 13
1.2. Sự ra đời của dạy học theo vấn đề 14
1.3. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của dạy học theo vấn đề 17
1.3.1. Khái niệm về dạy học theo vấn đề 17
1.3.2. Vai trò và ý nghĩa của dạy học theo vấn đề trong việc đổi mới
3.3.1. Các bước thực nghiệm sư phạm 54
3.3.2. Các đề kiểm tra để thu thập số liệu 55
3.3.3. Phương pháp phân tích kết quả thực nghiệm 56
3.4. Kết quả thực nghiệm 59
3.4.1. Phân tích số liệu thu được từ thực nghiệm 59
3.4.2. Bàn luận kết quả 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt
Xin đọc là
DH
GD
GV
HS
PPDH
SH
STH
SGK
THPT
SVSX
QX
ĐV
X
bằng tiêu chuẩn U 62
Bảng 3.4. Ph©n tÝch ph-¬ng sai ®iÓm thùc nghiÖm 63
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Biểu đồ so sánh tần suất điểm thực nghiệm 60
H×nh 3.2. Đồ thị tần số hội tụ tiến điểm kiểm tra 61
Hình 3.3 - Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc của hệ sinh thái toàn cầu 67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Xuất phát từ thực tế yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học
Trong những năm vừa qua, nền giáo dục nước nhà luôn được các cấp,
các ngành quan tâm. Trong văn bản “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-
2010” được Thủ tướng Phan Văn Khải phê duyệt, đã nhận định: “Sau gần 15
năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng
nhưng còn những yếu kém, bất cập” [2,tr.3]. Một trong những điểm còn yếu
kém của nền giáo dục Việt Nam đó là: “Chương trình, giáo trình, phương
pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hoá”[2, tr.4].
Để khắc phục tồn tại trên, một trong những giải pháp đề xuất của
nền nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp
tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học”[1].
Hiệu quả của việc lĩnh hội tri thức của học sinh phụ thuộc vào các
yếu tố của quá trình dạy học: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương
tiện, hình thức tổ chức dạy học, đánh giá… Trong đó, một trong những
yếu tố quyết định hiệu quả dạy- học đó là phương pháp dạy học. Sử dụng
những phương pháp dạy học để học sinh phát huy được “khả năng độc lập
suy nghĩ, giúp cho cái thông minh của học sinh làm việc chứ không phải
giúp cho họ có trí nhớ. Phải có trí nhớ, nhưng chủ yếu là phải giúp cho họ
phát triển trí thông minh sáng tạo.
Do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi người giáo viên phải
tìm tòi sáng tạo trong quá trình dạy học từ khâu thiết kế bài dạy đến khâu dạy
học .“Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học và bậc học, kết hợp
tốt học với hành, gắn nhà trường với xã hội. Áp dụng những phương pháp dạy
học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh những năng lực tư duy sáng tạo, năng
lực giải quyết vấn đề”[1]. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung
ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
sản Việt Nam, nêu rõ: Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động
lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá là điều kiện
để phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững [5] .Cần phải “tiếp tục nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học “ [5]. Về chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2002, báo cáo cũng đã nêu “ để đáp ứng
về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước
trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá,cần tạo chuyển biến cơ bản,toàn
diện về giáo dục đào tạo” [5]. Báo cáo đã nêu rõ “ đổi mới phương pháp dạy
sinh thái học có hiệu quả thiết thực với yêu cầu cao như trên thì không phải
chỉ chăm lo khâu truyền thụ kiến thức lý thuyết và kĩ năng thực hành theo quy
định chuẩn là đủ, mà còn phải thực hiện giáo dục toàn diện nhân cách học
sinh thông qua môn học này.
Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa
sinh vật với sinh vật và giữa sinh vật với môi trường sống. Khi mỗi người
thấu hiểu các hiện tượng và quy luật sinh thái thì sẽ có thái độ văn hoá đối với
thiên nhiên như khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trường bền vững… Tuy nhiên, để bồi dưỡng được thái độ "ứng xử" như vậy
với môi trường tự nhiên ở mọi cấp độ (vùng,lãnh thổ, quốc gia, toàn cầu) thì
nhà trường phổ thông phải chú ý giáo dục văn hoá sinh thái có kế hoạch thông
qua các biện pháp, con đường giáo dục tích hợp. Môn sinh thái học có vị trí
trực tiếp vừa cung cấp hệ thống kiến thức vừa có điều kiện hình thành kỹ
năng chuyên ngành để mỗi học sinh ngay từ khi trên ghế nhà trường đã ý thức
được mình là một thành viên xã hội thời đại toàn cầu hoá “vì sao” và “làm
như thế nào” để bảo vệ môi trường sinh thái “ngôi nhà toàn cầu”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Với ý nghĩa quan trọng của việc giáo dục sinh thái - môi trường cho thế
hệ trẻ trong giai đoạn xây dựng và phát tiển kinh tế - xã hội theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta và trong thời đại "toàn cầu hoá", cần phải
đổi mới phương pháp giảng dạy sinh thái học theo hướng tích cực hoá nhận
thức học sinh, đặt người học vào tâm điểm của sự dạy học nhằm nâng cao
chất lượng dạy học sinh thái học ở trường trung học phổ thông.
.Xuất phát từ đặc điểm của dạy học theo vấn đề
Trong phương pháp dạy học theo vấn đề, người học được tiếp cận với
vấn đề ngay ở giai đoạn đầu của một đơn vị bài giảng. Vấn đề có thể là một
hiện tượng của tự nhiên hoặc một sự kiện/ tình huống đã, đang hoặc có thể sẽ
3.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu cơ sở lý luận dạy học theo vÊn ®Ò
trong dạy học nói chung và trong sinh học nói riêng, làm cơ sở vận dụng vào
dạy học sinh th¸i học ở trường trung häc phæ th«ng.
3.2. Điều tra thực trạng về cơ sở thực tiễn tình hình dạy và học
sinh th¸i häc ở trường trường trung häc phæ th«ng; đặc biệt là tình hình
dạy học theo vÊn ®Ò.
3.3. Đề xuất nguyên tắc dạy học theo vÊn ®Ò trong sinh th¸i häc ở
trường trung häc phæ th«ng.
3.4. Đề xuất quy trình dạy học theo vÊn ®Ò trong sinh th¸i học ở trường
trung häc phæ th«ng.
3.5. Phân tích lôgic nội dung kiến thức cơ bản của sinh th¸i học làm cơ
sở cho việc xác định các tình huống để thiết kế các mức độ theo vÊn ®Ò trong
sinh th¸i học.
3.6. Thiết kế các giáo án bài lên lớp dạy học sinh th¸i học ở trường
trung häc phæ th«ng theo vÊn ®Ò .
3.7. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học của luận án.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Dạy học theo vÊn ®Ò và sự vận dụng vào dạy học sinh th¸i học ở trường
trung häc phæ th«ng.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Qúa trình dạy học sinh học ở trường trung học phổ thông.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu tổng quan các tài liệu
lý luận dạy học có liên quan, đặc biệt là dạy học theo vÊn ®Ò để xây dựng cơ sở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý thuyết của dạy học theo vấn đề.
1.1.1. Cơ sở triết học và logic học của dạy học theo vấn đề
Quan điểm triết học cho rằng mọi sự vật hiện tượng khách quan đều
được phản ánh vào ý thức con người. Quá trình phản ánh đó thực chất là các
hoạt động nhận thức, mà chủ yếu là giải quyết các mối quan hệ giữa mâu
thuẫn khách quan với mâu thuẫn chủ quan. Vì mâu thuẫn là động lực chủ yếu
của quá trình phát triển mọi sự vật, nên mâu thuẫn cũng là động lực chủ yếu
của nhận thức.
Như vậy, có hai loại mâu thuẫn ứng dụng vào dạy học, có giá trị về mặt
nhận thức, đó là mâu thuẫn khách quan và mâu thuẫn chủ quan. Mâu thẫn
khách quan là bản chất vốn có của sự vật và hiện tượng, nếu con người muốn
biết nó thì đó là tri thức mà con người cần có. Mâu thuẫn chủ quan chỉ có ở
một chủ thể nhất định. Nó xuất hiện trong tình huống mà trước một mâu
thuẫn khách quan chủ thể nhận thức chưa đủ khả năng giải thích để làm sáng
tỏ. Vì vậy, mâu thuẫn chủ quan là khái niệm thuộc phạm trù tâm lí nhận thức.
Tình huống có vấn đề là một công cụ lôgic, là một công cụ về lí luận dạy học,
để chúng ta mô hình hoá các mâu thuẫn khách quan và mâu thuẫn chủ quan,
để đưa cho người học nhận thức các đối tượng nghiên cứu. Dạy học giải quyết
vấn đề bắt nguồn từ khâu “đặt” đến “giải quyết” các tình huống có vấn đề
trong việc người học nhận thức một hoặc một số tri thức khoa học hay kinh
nghiệm từ đó tạo ra động lực của quá trình nhận thức chủ quan của người
học.Như vậy, tình huống có vấn đề có thể vừa là điểm xuất phát, vừa là
tiếp thu tri thức gặp rất nhiều khó khăn và học sinh sẽ không hiểu được. Vì
muốn hiểu được một điều gì đó, có nghĩa là gắn cái chưa biết với cái đã biết.
Cho nên việc xây dựng tiếp cận giải quyết trong dạy học giải quyết vấn đề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
phải mang tính lôgic cao không chỉ về nội dung mà cả về hình thức diễn đạt.
Việc xác định mục tiêu dạy học, phân tích lôgic cấu trúc nội dung môn học sẽ có
ý nghĩa không chỉ về nội dung mà cả về phương pháp xây dựng tình huống có
vấn đề để tổ chức, chỉ đạo học sinh giải quyết vấn đề thực hiện mục tiêu dạy học.
1.1.2. Cơ sở tâm lý học của dạy học theo vấn đề
Tâm lý học dạy học hiện đại đề cao vai trò hoạt động của chủ thể nhận
thức. Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong xã hội, cũng
chính nhờ hoạt động mà đã nảy sinh tâm lý, ý thức. Cho nên tâm lý, ý thức,
nhân cách con người được hình thành thông qua chính hoạt động của họ. Vận
dụng điều này trong dạy học, ta thấy chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên
và học sinh là chủ thể của hoạt động học; điểm nổi bật trong tính chủ thể là
tính tự giác và tích cực hoạt động nhận thức của học sinh. Hoạt động dạy học
được xem là quy luật chung nhất của tâm lý học dạy học; hoạt động này vừa
tạo ra tâm lý, vừa sử dụng tâm lý. Hoạt động học là một hoạt động đặc thù
của người học đặc trưng bởi nhu cầu hứng thú và tính tự giác chiếm lĩnh kiến
thức, kỹ năng, thái độ mới. Đối tượng của hoạt động học là tri thức mà người
học cần, trên cơ sở đó hình thành những kỹ năng, hành vi thái độ đúng đắn.
Mục tiêu mà hoạt động học hướng tới là quá trình tự chiếm lĩnh tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo của xã hội để hình thành nhân cách. Do đó, việc học không thể
thực hiện được nếu học sinh chỉ học một cách thụ động máy móc, mà họ phải
học tích cực bằng chính ý thức tự giác, bằng năng lực, trí tuệ của bản thân.
Về khía cạnh tâm lý nhận thức, hoạt động học là hoạt động được điều
khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo hướng tới
giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức, trò là chủ thể nhận thức. Trước hết
kích thích động lực ham muốn giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới dạng "đặt
vấn đề", tiếp theo kích thích và hướng dẫn học sinh hoạt động tư duy theo
hướng "giải quyết vấn đề".
Vấn đề đặt ra trong dạy học giải quyết vấn đề có ý nghĩa tích cực đối
với học sinh, tạo ra cho học sinh nhu cầu nhận thức. Yếu tố mới của thông tin
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
có tác dụng gây sự ngạc nhiên, thu hút sự chú ý của học sinh trước tình huống
mới, khi đó thúc đẩy học sinh xuất hiện nhu cầu nhận thức và khơi dậy tính
tích cực nhận thức của học sinh trong quá trình tìm tòi giải quyết vấn đề [21].
1.1.3. Cơ sở lý luận của dạy học theo vấn đề
Dạy học theo vấn đề phát huy được tính tích cực nhận thức của học
sinh vì giúp học sinh biết phát hiện hoặc tiếp nhận tình huống có vấn đề, biết
giải quyết vấn đề đặt ra để tiếp thu tri thức mới. Với chức năng như vậy thì lối
dạy học này không chỉ tồn tại với tư cách phạm trù phương pháp dạy học mà
còn mang sắc thái của phạm trù mục tiêu giáo dục góp phần bồi dưỡng nhân
cách con người ở thời đại khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, đang
chuyển sang thời đại kinh tế tri thức.
Một ưu điểm khác của dạy học theo vấn đề là tạo cho học sinh thực
hiện sự hoạt động độc lập của mình với các mức độ khác nhau. Dấu hiệu
đặc trưng của hoạt động độc lập là học sinh làm việc không cần sự hỗ trợ
từ phía giáo viên. "Đặc điểm cơ bản của hoạt động độc lập như là một
phạm trù lý luận dạy học biểu hiện ở chỗ, mục tiêu hoạt động của học
sinh đồng thời mang chức năng quản lý hoạt động đó"[116, tr.126]. Bởi
vậy, trong hoạt động dạy học khi sử dụng dạy học giải quyết vấn đề giáo
viên từng bước không những tích cực hoá hoạt động nhận thức của học
sinh mà còn thông qua đó tập dượt cho học sinh tiến hành hoạt động độc
qua sự trao đổi giữa giáo viên với học sinh và học sinh với học sinh.
Trong cách dạy học này người ta quan tâm nhiều đến những hoạt động
độc lập, tích cực, chủ động và sáng tạo ngày càng cao của học sinh về giải
quyết các vấn đề đặt ra trong học tập. Học sinh không chỉ chủ động chiếm
lĩnh được tri thức mà còn học được cách giải quyết vấn đề. Để nhấn mạnh tầm
quan trọng của cách dạy học này trong việc đào tạo những con người thích
ứng linh hoạt với cuộc sống xã hội, người ta gọi cách dạy học này là “dạy học
nêu vấn đề”.
Dù rằng giải quyết vấn đề là một khâu quan trọng nhưng chưa đủ. Theo
quan điểm của các nhà tâm lí học chủ yếu thuộc các nước xã hội chủ nghĩa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
trước đây, việc hình thành động cơ học tập ở học sinh trên cơ sở làm nảy sinh
nhu cầu, hứng thú học tập đối với nội dung cần lĩnh hội là một trong những
khâu quan trọng trong quá trình dạy học. Các yếu tố tâm lí này là tiền đề tạo
ra tính tích cực học tập của học sinh, từ đó học sinh chủ động giải quyết các
vấn đề đặt ra. Vì vậy, họ đã chú trọng khâu “tạo tình hống có vấn đề”. Nếu
học sinh nhận thức được vấn đề, nêu thành vấn đề học tập thì cũng có nghĩa là
đã biến mâu thuẫn khách quan trong tình huống có vấn đề thành mâu thuẫn
chủ quan trong vấn đề và có nhu cầu giải quyết. Chính “Tình huống có vấn
đề” khi đã trở thành “vấn đề” trong nhận thức của bản thân học sinh thì đó là
động lực, là nhân tố bên trong kích thích hoạt động tư duy tích cực tìm cách
giải quyết vấn đề đã được đặt ra. Dạy học theo cách này được gọi là “dạy học
nêu vấn đề”.
Ngày nay, ở nhiều nước người ta có xu hướng dùng thuật ngữ sau:
Dạy học nêu vấn đề (Problem posing).
Dạy học giải quyết vấn đề (Problem solving).
Dạy học đặt và giải quyết vấn đề (Problem posing and solving).
phương pháp mà ở đó giáo viên giữ vai trò là chính. Để thực hiện được dạy
học theo vấn đề thì giáo viên phải đưa ra vấn đề, tạo ra tình huống có vấn đề
và hệ thống câu hỏi kèm theo để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh trong
việc nhận thức, qua trao đổi về vấn đề và qua định hướng của giáo viên bằng
các câu hỏi. Điều quan trọng nhất giáo viên phải đưa ra được khung nội dung
cần truyền đạt nhờ đó giúp học sinh tự nhận thức và phát triển qua tranh luận.
Dạy học theo vấn đề chỉ xảy ra khi giáo viên tạo được không khí trao
đổi trung thực, cởi mở trong lớp học. Trong một khía cạnh nào đó dạy học
theo vấn đề gần giống với phương pháp dạy học bằng trao đổi (hỏi đáp). Chú
ý rằng dạy học theo vấn đề tương tự với dạy học theo hội thoại mà học sinh tự
tìm thấy kiến thức thông qua sự tìm tòi của học sinh chứ không phải là do
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
giáo viên truyền đạt. Bằng phương pháp này giáo viên sẽ trình bày được các
khía cạnh chi tiết cuả bài học.
Theo tôi, các thuật ngữ "dạy học nêu vấn đề", "dạy học giải quyết vấn
đề", "dạy học đặt và giải quyết vấn đề" hay “dạy học theo vấn đề” là những
cách gọi khác nhau của cùng một nội hàm với những cách tiếp cận khác nhau
mang tính lịch sử. Mỗi cách tiếp cận nhấn mạnh vào một khâu nào đó của quá
trình phát hiện vấn đề - giải quyết vấn đề - kết luận. Để ngắn gọn, hiện nay ở
Việt Nam các nhà sư phạm đều thống nhất dùng thuật ngữ "dạy học giải quyết
vấn đề". Trong luận án này chúng tôi sử dụng thuật ngữ “Dạy học theo vấn đề”.
1.3. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của dạy học theo vấn đề
1.3.1. Khái niệm về dạy học theo vấn đề
Có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy học giải quyết vấn đề:
Theo V.Okon: "Dạy học giải quyết vấn đề là tập hợp những hành
động như tổ chức tình huống có vấn đề, phát biểu các vấn đề giúp đỡ
cần thiết cho học sinh trong việc giải quyết vấn đề, kiểm tra những phép