SKKN nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường - Pdf 22

SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
MỤC LỤC
Trang
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ
GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1- Cơ sở lý luận
2
5
1.1 Vai trò của giáo dục 5
1.2 Vai trò của việc nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kỳ CNH-HĐH 6
1.3 Vai trò của công tác xã hội hoá giáo dục 7
1.4 Nội dung của công tác xã hội hoá giáo dục 9
2- Cơ sở thực tiễn 10
2.1 Nhưng thành tựu giáo dục của cả nước trong mấy năm qua 10
2.2 Những tồn tại trong công tác xã hội hoá giáo dục ở nước ta hiện nay 13
Chương II
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC CỦA VÙNG SÂU, VÙNG CAO TÂN HỢP

1 - Đặc điểm tình hình 15
1.1 Tình hình địa phương 15
1.2 Tình hình chung của nhà trường 17
2 - Quá trình thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục tại Tân Hợp trong
thời gian qua
2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 17
2.2 Những hạn chế còn tồn tại 22
2.3 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 24
Chương III
MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP
CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TỪ NAY ĐẾN NĂM 2013


đến năm 2020 cơ bản nước ta trở thành nước công nghiệp”.
Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng nhằm tạo cơ sở ban đầu để hình
thành nhân cách con người, phẩm chất năng lực của công dân, đào tạo nguồn
nhân lực cho tương lai theo hướng toàn diện, năng động và sáng tạo, có niềm tự
hào dân tộc, có đạo đức và ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nước ta là một quốc gia có nhiều thành phần dân tộc anh em cùng chung
sống, đoàn kết trong quá trình dựng nước và giữ nước. Địa bàn miền núi, vùng
sâu, vùng xa thông thường là địa bàn cư trú của các đồng bào dân tộc thiểu số.
Hiện nay trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các thành phần dân tộc ở nước
2
SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
ta vẫn có sự chênh lệch. Vì vậy phải chú ý hơn nữa đến việc phát triển kinh tế -
xã hội ở vùng dân tộc ít người.
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan
trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục
ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ
người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội. Đảng ta đã xác
định: “Sự nghiệp giáo dục là của nhà nước và của toàn dân”, vì vậy công tác xã
hội hoá giáo dục càng có tầm quan trọng và ý nghĩa vô cùng to lớn trong giai
đoạn hiện nay.
Là người cán bộ quản lý trường tiểu học, chịu trách nhiệm trước Đảng,
Nhà nước và nhân dân trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc dạy và
học của một nhà trường vùng sâu, vùng xa. Tôi càng thấy mình cần xác định rõ
hơn trọng trách, đầu tư hơn về tâm huyết, công sức, trí tuệ. Không ngừng nâng
cao học tập để đưa nhà trường ngày một đi lên. Củng cố, duy trì, nâng cao chất
lượng dạy và học của nhà trường nhằm xây dựng đơn vị từng bước đạt chuẩn
quốc gia theo mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước đề ra. Đối với vùng sâu,

các tiêu chuẩn của một nhà trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia.
Nhìn nhận, đánh giá đồng thời có những giải pháp hữu hiệu chính là góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trên địa bàn. Thúc đẩy giáo dục
cộng đồng, đồng thời tạo điều kiện ổn định phổ cập giáo dục tiểu học; góp phần
hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Tạo niềm tin vững chắc cho cấp uỷ Đảng,
chính quyền các cấp và nhân dân địa phương. Cùng huyện nhà đưa nền giáo dục
tiến kịp các huyện vùng xuôi trong xu thế phát triển của quốc gia và khu vực.
Đề án về công tác xã hội hoá giáo dục ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn
giữ vai trò, ý nghĩa rất to lớn đối với công tác lãnh đạo và chỉ đạo của người
hiệu trưởng tiểu học bao gồm các mục đích sau:
- Phát triển và nâng cao nhu cầu về giáo dục trong cộng đồng dân cư, từ đó
có tác động tích cực trong việc tự giác của chính quyền và đoàn thể, của mỗi
người dân trong việc tham gia đóng góp nội lực để xây dựng trường sở, huy
động con em tới trường, duy trì số lượng học sinh và trên hết là cùng nhà
trường ngày một nâng cao chất lượng dạy và học.
- Nâng cao thời lượng học tập và giáo dục tại trường.
- Bảo đảm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học và buổi học.
- Giúp hiệu trưởng có cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch đúng đắn, phù
hợp, hiệu quả mà không để cho trí tưởng tượng bay bổng. Đề ra những chỉ tiêu,
những biện pháp vừa sức, trong tầm tay. Tạo được niềm tin ở khả năng thực
hiện của mọi thành viên trong tập thể sư phạm, trong lãnh đạo chính quyền,
đoàn thể địa phương và của mỗi người dân.
- Từng bước đưa các phương tiện kỹ thuật vào nhà trường, làm giảm nhẹ
lao động sư phạm, lao động quản lý và những cán bộ giúp việc.
- Tạo ra nhà trường văn minh, sạch, đẹp trong cơ sở vật chất, trong quan
hệ, làm cho học sinh yêu trường, yêu thầy, mến bạn, thêm ham thích hoạt động.
4
SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
- Tạo sự phân công, phân cấp cụ thể, tạo đủ quyền hạn và ý thức trách
nhiệm của những người cộng sự.

SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
Với ý nghĩa này, Hiến pháp của nước ta cũng coi “giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu”; “mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất và năng lực của công dân” (điều 35); “học tập là quyền và
nghĩa vụ của công dân” (điều 59). Cần lưu ý rằng trách nhiệm biến những chức
năng ấy của giáo dục thành hiện thực thuộc về trọng trách của Nhà nước và của
toàn dân.
1.2 Vai trò của việc nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công tác xã hội
hoá giáo dục giữ vai trò rất quan trọng:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu hướng phát triển của các nước trên
thế giới. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu
"Xã hội công bằng văn minh, dân giàu nước mạnh" công nghiệp hoá, hiện đại
hoá không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi
cách mạng sâu sắc với lĩnh vực đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, khoa học của
con người…) làm cho xã hội phát triển lên một trạng thái mới về chất. Sự thành
công của quá tình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài môi trường chính
trị ổn định, phải có nguồn lực cần thiết như nguồn lực con người, vốn tài
nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật. Các nguồn lực này quan hệ chặt chẽ
với nhau. Cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng
mức độ tác động vào vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá không giống nhau, trong đó nguồn nhân lực phải đủ về số
lượng, mạnh về chất lượng. Nói cách khác nguồn nhân lực phải trở thành động
lực phát triển. Nguồn nhân lực phát triển thì tất yếu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá phải tiến hành để đáp ứng nhu cầu đó.
Để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, chúng ta phải sử dụng đúng nguồn lực trong đó nguồn lực con người là
nguồn lực quan trọng nhất. Để tạo ra sự thay đổi căn bản về chất lượng trong
nguồn lực con người cần có hàng loạt những giải pháp thích ứng nhằm phát

+ Quyền lợi và trách nhiệm của người dân gia tăng hay nói cách khác
quyền tự chủ của người dân gia tăng;
+ Về tổng thể người dân có nhiều cơ hội sử dụng các dịch vụ công do
Nhà nước và các thành phần kinh tế tư nhân cung cấp;
+ Chịu tác động của quy luật giá cả và quy luật cung - cầu. Do chi phí
được chia sẻ dẫn đến xu hướng người dân có quyền quyết định hoặc từ chối một
dịch vụ mà không chịu lệ thuộc vào dịch vụ như trước kia.
+ Sự độc quyền của Nhà nước trong cung cấp dịch vụ truyền thống bị
giảm đi;
Như vậy, xã hội hoá thực chất là một quá trình huy động nguồn lực
trong xã hội để phát triển các dịch vụ công và làm cho nhiều người hơn được
7
SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
hưởng lợi từ các dịch vụ đó cũng như chịu trách nhiệm nhiều hơn khi sử dụng
dịch vụ.
Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch tập trung, người dân tham gia vào
các hoạt động giáo dục do Nhà nước quản lý rất hạn chế. Tuy nhiên, cũng phải
thừa nhận rằng trong thời gian đó, doanh nghiệp nhà nước giúp được nhiều hơn
đối với giáo dục trong việc tạo cơ sở cho học sinh thực tập mà không phải trả
bất cứ khoản chi phí nào.
Đến ngày nay, người dân lại có điều kiện để tham gia vào quá trình giáo
dục và tổ chức giáo dục nhiều hơn. Xã hội hoá giáo dục không chỉ là những
đóng góp vật chất mà cả những ý kiến góp ý của người dân cho quá trình đổi
mới giáo dục. Xã hội hoá giáo dục là cách tiếp cận mang tính dân chủ nhiều
hơn.
Như vậy, có thể xem xã hội hoá giáo dục là sự huy động nguồn lực trong
xã hội để làm giáo dục, để đấu tranh với nghèo nàn và lạc hậu, là tạo điều kiện
tốt hơn cho người dân được hưởng dịch vụ giáo dục có chất lượng và nhiều cơ
hội học tập, đóng góp sáng kiến với giáo dục Ngược lại, lạm dụng cái gọi là
xã hội hoá để huy động tối đa đóng góp người dân, chuyển gánh nặng ngân

“cung” (như lĩnh vực giáo dục đại học chẳng hạn) dẫn đến sự độc quyền tự
nhiên trong cung ứng dịch vụ, thì vai trò quản lý Nhà nước là vừa đảm bảo các
mục tiêu phát triển xã hội trên cơ sở huy động nguồn lực lại vừa phải đảm bảo
quá trình xã hội hoá diễn ra theo quy luật của thị trường.
1.4 Nội dung của công tác xã hội hoá giáo dục
- Xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội, làm cho nền giáo dục trở
thành một nền giáo dục cho mọi người.
- Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc
thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giáo dục gia đình - nhà trường - xã hội. Tăng
cường trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể,
tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân đối với giáo dục.
- Đa dạng hoá các loại hình giáo dục.
- Tăng cường đầu tư từ nguồn ngân sách, khai thác triệt để và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát huy giáo dục.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục phổ thông cần phải có cơ sở vật chất
đạt chuẩn để đảm bảo việc dạy và học trong nhà trường.
Vậy xã hội hóa giáo dục là gì? Nói một cách nôm na, đó cũng chỉ là một
trong những phương cách để nhà nước thực hiện nhiệm vụ hiến định là tạo điều
kiện cho con em của mọi tầng lớp trong xã hội đều được đến trường và mọi cái
gì cản trở nó đều không phải xã hội hóa giáo dục. Nói cách khác, xã hội hóa
giáo dục (hay không xã hội hóa) dù kiểu nào đi chăng nữa đều phải nhằm đạt
được những mục tiêu thiết yếu của giáo dục và nhà nước, trong mọi trường hợp,
luôn luôn phải chịu trách nhiệm chính, không thể chuyển giao trách nhiệm của
mình cho ai khác. Càng không thể lợi dụng xã hội hóa để biến giáo dục, nhiệm
vụ chính danh của nhà nước, thành một ngành kinh doanh lấy lợi nhuận làm
mục tiêu thay thế.
9
SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
Điển hình cho quan niệm như trên về phát triển giáo dục là CHLB Đức.
Học sinh, sinh viên ở đây từ cấp phổ thông đến đại học đều được hưởng chế độ

2 – Cơ sở thực tiễn
2.1 Những thành tựu giáo dục của cả nước trong mấy năm qua
10
SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
2.1.1 Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển, đáp
ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội
Năm học 2007-2008, cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên, tăng
1,03% so với năm học 2000-2001; Tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các trình độ
khác nhau tăng từ 20% vào năm 2000 lên 31,5% vào năm 2007.
Mạng lưới trường lớp được phát triển rộng khắp trong toàn quốc. Về cơ
bản đã xóa được "xã trắng" về giáo dục mầm non; trường tiểu học đã có ở tất cả
các xã, trường trung học cơ sở có ở xã hoặc cụm liên xã, trường trung học phổ
thông có ở tất cả các huyện. Các tỉnh và nhiều huyện miền núi đã có trường nội
trú và bán trú cho con em các dân tộc thiểu số.
2.1.2 Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đã có tiến
bộ. Nội dung dạy học và kiến thức của học sinh phổ thông đã toàn diện hơn.
Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh
được nâng cao. Trong những năm gần đây, công tác quản lý chất lượng đã đặc
biệt được chú trọng. Đã hình thành các tổ chức chuyên trách về đánh giá và
kiểm định chất lượng. Các trường phổ thông chất lượng cao được hình thành ở
nhiều địa phương.
Đồng thời với sự đổi mới chương trình, sách giáo khoa và tài liệu dạy học
theo Nghị quyết 40/2000/QH của Quốc hội, phương pháp giáo dục ở các nhà
trường đã bước đầu được đổi mới theo tinh thần phát huy tính năng động, chủ
động và tích cực của người học, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin vào quá trình dạy và học. Chuẩn nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên ở
các cấp học và trình độ đào tạo đã và đang được xây dựng làm cơ sở cho việc
đánh giá và bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn.
2.1.3 Tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đã được công nhận chuẩn
quốc gia về xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập

học phí. Việc phân cấp quản lý giáo dục cho các địa phương và sở giáo dục được
đẩy mạnh, đặc biệt tăng quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục trong tuyển dụng
giáo viên, sử dụng ngân sách, tổ chức quy trình giáo dục, tổ chức thực hiện kế
hoạch dạy học, thực hiện chương trình, sách giáo khoa phù hợp với đặc điểm đối
tượng học sinh và điều kiện cụ thể của từng vùng miền. Cải cách hành chính
trong toàn ngành giáo dục được đẩy mạnh. Cơ chế “một cửa” được triển khai thí
điểm tại cơ quan Bộ và 63/63 văn phòng của các Sở giáo dục. Công nghệ thông
tin được ứng dụng mạnh mẽ trong quản lý ngành.
Những thành tựu của giáo dục nước ta đã khẳng định vai trò quan trọng
của giáo dục trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
cho đất nước. Nhờ những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác
mà chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp loại của
Chương trình phát triển Liên hiệp quốc trong những năm gần đây có những
tiến bộ đáng kể: từ 0,688, xếp thứ 109 trong số 174 quốc gia vào năm 2000 đã
tăng lên 0,733, xếp thứ 105 trong số 177 quốc gia vào năm 2005. Những thành
tựu của giáo dục đã và đang góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã
hội, giữ vững an ninh chính trị của đất nước trong hơn 20 năm đổi mới, tạo
điều kiện cho đất nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.
12
SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
Sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và chính quyền
các cấp, sự quan tâm, tham gia đóng góp của các tổ chức kinh tế-xã hội và toàn
dân đối với giáo dục đã góp phần quyết định cho sự thành công của sự nghiệp
giáo dục.
Sự ổn định chính trị, những thành quả phát triển kinh tế, cải thiện đời sống
nhân dân của thời kỳ đổi mới đã tạo môi trường với các điều kiện thuận lợi cho
phát triển giáo dục. Đầu tư cho giáo dục trong tổng chi ngân sách nhà nước đã
liên tục tăng qua các năm.
Lòng yêu nước, yêu người, yêu nghề, sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo và
quyết tâm đổi mới của ngành giáo dục đào tạo đã góp phần quan trọng thực

Trong khi tình hình kinh tế xã hội trong nước có nhiều biến đổi sâu sắc và
trên thế giới đang diễn ra nhiều xu thế đổi mới giáo dục mạnh mẽ thì nhiều tư
tưởng chỉ đạo giáo dục ở nước ta vẫn còn xơ cứng, trì trệ. Chưa nhận thức đúng
mức sự cần thiết phải tập trung quản lý nhà nước đối với toàn bộ hệ thống giáo
dục quốc dân. Nhận thức về những tác động của nền kinh tế thị trường chưa đầy
đủ nên chưa tạo được sự phù hợp của cơ chế quản lý giáo dục với cơ chế thị
trường. Tư tưởng trọng bằng cấp dẫn đến những thành tích giả tạo trong giáo
dục. Ở phổ thông, quan niệm đề cao kiến thức, coi nhẹ năng lực hoạt động của
học sinh đã dẫn đến tình trạng còn tổ chức nhiều môn học trong chương trình
giáo dục, phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là truyền thụ một chiều, chưa tạo
được niềm vui học tập cho người học.
Công tác quản lý giáo dục còn nhiều bất cập
Chính sách huy động và phân bổ nguồn lực tài chính cho giáo dục chưa
hợp lý, chưa quan tâm đúng mức đến các địa phương khó khăn. Đầu tư của nhà
nước cho giáo dục còn thiếu hiệu quả, chưa tập trung cao cho những mục tiêu
ưu tiên. Cơ cấu chi ngân sách giáo dục chưa hợp lý, trong đó phần chi cho hoạt
động chuyên môn là không đáng kể.
Những tác động khách quan làm tăng thêm những yếu kém bất cập của
giáo dục
Quá trình hội nhập quốc tế đã mang tới những cơ hội lớn nhưng cũng mang
đến nhiều thách thức lớn đối với giáo dục. Trong xã hội, chủ nghĩa hình thức,
hám danh vọng còn nặng nề; tâm lý khoa cử, bằng cấp vẫn chi phối mạnh việc
dạy, học và thi cử. Mặt trái của kinh tế thị trường đã có nhiều ảnh hưởng tiêu cực
đến giáo dục. Nhu cầu học tập của nhân dân ngày càng cao trong khi khả năng
đáp ứng của ngành giáo dục và trình độ phát triển kinh tế của đất nước còn hạn
chế. Sức đón nhận của thị trường lao động còn hạn hẹp, chưa đáp ứng nhu cầu
việc làm của người lao động đã qua đào tạo.
Do thời gian duy trì cơ chế tập trung quan liêu bao cấp quá dài, nảy sinh tư
tưởng trông chờ ỷ lại quá lớn trong nhân dân kể cả chính quyền các cấp, sự bứt
phá, dám nghĩ, dám làm còn hạn chế. Do đó công tác xã hội hoá nói chung, công

Các con đường vào đến xã:
Đường liên hương nối từ đường 545 tại ngã ba Cừa đi vào xã Giai Xuân
qua dốc Vình, khe Hao vào Yên Hoà đi Trung Độ, Nghĩa Thành. Đường này
đến đỉnh dốc Vình là hết đường trải nhựa và đến đường đất. Đường quanh co,
khúc khuỷu, dốc đèo, khe suối, gập ghềnh rất khó đi lại.
15
SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
Đường liên hương từ Tân Đông thuộc xã Đồng Văn đi Đồng Hạ, Hồng
Sơn lên Yên Hoà phải qua con Dốc Kè rất hiểm trở, đây cũng là đường đất cheo
leo, trở ngại rất lớn đến giao thông kể cả ô tô đi lại. Ngoài hai con đường chính
trên mà ô tô có thể vào được xã, còn có các con đường liên thôn từ xóm nọ đến
xóm kia. Song do địa hình phức tạp, giữa các vùng trong xã thường bị ngăn
cách bởi các dãy núi cao, thấp, các thung lũng, các cánh rừng nên giao thông
của xã còn rất nhiều trở ngại. Đường sá như vậy lại xuống cấp, dốc đèo nhiều.
Vài năm lại nay do việc khai thác nguyên liệu đá trắng, quặng măng - gan của
các công ty nhà nước và tư nhân, việc vận chuyển mía, hàng nông sản, lâm sản
làm cho đường càng xuống cấp nhiều, nắng khấp khểnh, mưa xập xình. Làm
cho Tân Hợp gặp rất nhiều khó khăn, có thể là bậc nhất của huyện nếu không
được sớm đầu tư về tiền vốn và công sức đáng kể của nhà nước và sự nỗ lực
vượt bậc về trí tuệ và sức người của Đảng bộ và nhân dân Tân Hợp.
Theo điều tra xã hội học, Tân Hợp chiếm khoảng 93% là đồng bào dân
tộc Thổ thuộc nhóm Việt - Mường cư trú lâu đời tại địa phương. Số còn lại là
đồng bào miền xuôi lên lập nghiệp.
Xã có 8 xóm bản, cách nhau từ 3 - 4 km, từ trung tâm xã đi xóm xa nhất
là 8 km.
Đất nước sau 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã làm cho bộ mặt kinh tế, xã hội của nước ta thay đổi căn bản. Tình trạng
đói nghèo triền miên đã bị đẩy lùi, chính trị ổn định, môi trường xã hội lành
mạnh. Nhân dân phấn khởi làm ăn và đã có của ăn, của để. Từng bước vươn lên
làm giàu, con em có điều kiện để học hành, được chăm sóc, nuôi dạy ngày càng

Trung Độ và Tân Lập. Hai năm nay Trường Tiểu học Tân Hợp đưa mô hình học
8 buổi / tuần được nhân dân đồng tình hưởng ứng cho con tham gia học đầy đủ.
Tuy nhiên, vấn đề đóng góp tiền học thì còn là vấn đề khó khăn.
1.2 Tình hình chung của nhà trường
Trường Tiểu học Tân Hợp có 7 điểm trường, 32 lớp và 410 học sinh
(trong đó học sinh con em đồng bào dân tộc Thổ chiếm trên 93%). Trường có
49 CBCNV, tỷ lệ giáo viên/lớp đạt 1,28. Ban giám hiệu 4 đồng chí, 1 hiệu
trưởng và 3 phó hiệu trưởng, có 5 tổ chuyên môn ứng với 5 khối lớp.
2 - Quá trình thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục tại Tân Hợp
trong thời gian qua
2.1 - Những kết quả đạt được và nguyên nhân
* Kết quả
+ Về công tác tổ chức và quản lý:
- Cán bộ quản lý: 04 người; trình độ chuyên môn đại học: 4/4 người.
Toàn bộ Ban giám hiệu đều là Đảng viên, có phẩm chất đạo đức tốt, tư tưởng
chính trị vững vàng, được đồng nghiệp và nhân dân tín nhiệm.
- Hoạt động của các tổ chức, đoàn thể và hội đồng trong nhà trường:
Trường có đủ các tổ chức đoàn thể, hoạt động thường xuyên theo đúng điều lệ,
chức năng và nhiệm vụ của từng tổ chức. Chi bộ đảng của trường có 34 đảng
17
SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
viên, sinh hoạt và lãnh đạo nhà trường theo đúng Điều lệ Đảng cộng sản Việt
nam. Hàng năm chi bộ luôn đạt danh hiệu chi bộ trong sạch vững mạnh, 100%
đảng viên được xếp loại đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ. Chi đoàn thanh niên
hoạt động có hiệu quả, là nòng cốt trong các phong trào thi đua của nhà trường.
Liên đội thiếu niên và các sao nhi đồng hoạt động thường xuyên và có nhiều
hoạt động bổ ích trong công tác giáo dục và chăm sóc thiếu niên nhi đồng.
Công đoàn nhà trường hoạt động theo đúng Luật công đoàn và theo sự chỉ đạo
của công đoàn cấp trên, 4 năm liền đạt Công đoàn cơ sở vững mạnh. Các tổ
chức và hội đồng trong nhà trường phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động đã góp

2
cho mỗi
học sinh. Đất đai không bị tranh chấp.
Diện tích đất đai đã được xây dựng: 1629m
2
, diện tích sân chơi cho học
sinh: 1800m
2
; diện tích bãi tập: 750m
2
.
- Hệ thống cây bóng mát, cây cảnh, thảm cỏ đầy đủ đảm bảo cảnh quan
xanh, sạch, hợp vệ sinh.
- Tổng số phòng học: 34 phòng học / 32 lớp, trong đó có 14 phòng học
kiên cố và 20 phòng học cấp 4B, mỗi phòng có diện tích 42 m
2
, bình quân 3,2
m
2
/ 01 học sinh.
- Thư viện có diện tích 54m
2
, có các loại sách tham khảo, sách nghiệp vụ,
sách giáo khoa phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập nghiên cứu với tổng
số sách là 897 cuốn.
- Có các phòng chức năng phục vụ cho hoạt động của nhà trường.
Bao gồm:
+ Phòng Hội đồng sư phạm: 42 m
2
.

học sinh yếu theo đúng quy định. Đặc biệt nhà trường đã làm tốt công tác giáo
dục hoà nhập, đưa đa số trẻ khuyết tật tới lớp trong đó có những em học sinh
khuyết tật nặng.
Thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ.
Nhà trường đã làm tốt công tác PCGDTH - CMC và PCGDTH-ĐĐT trên
địa bàn quản lí. Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi phổ cập đạt 97%, tỷ lệ học sinh
học đúng độ tuổi: 410/443 = 92,76%
Số học sinh 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học: 66/90 = 73,3%
Duy trì tốt sĩ số, năm học 2008-2009 không có học sinh bỏ học, không
có hiện tượng tái mù chữ. Kết quả công tác phổ cập cụ thể như sau:
Được công nhận phổ cập GDTH - CMC năm 1999.
Được công nhận phổ cập GDTH - ĐĐT lần thứ nhất năm 2006.
Kết quả công tác phổ cập GDTH - ĐĐT thời điểm tháng 9 năm 2008:
- Tổng số trẻ 6 tuổi phải phổ cập: 75 em.
Số huy động vào lớp 1: 75 em. Đạt tỉ lệ: 100 %.
- Tổng số trẻ 11 tuổi phải phổ cập: 90 em.
Số đã hoàn thành chương trình bậc tiểu học: 66 em. Đạt tỉ lệ: 73,3%;
(Chưa đạt PCGDTH-ĐĐT). Số trẻ bỏ học ở tiểu học: không có.
- Duy trì trẻ vào lớp 1 cách đây 5 năm về trước:
+ Tổng số trẻ vào học cách đây 5 năm: 90 em.
+ Tổng số còn học ở các lớp tiểu học: 25 em.
+ Số hoàn thành chương trình tiểu học: 66 em
20
SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
+ Bỏ học: 3 em
- Tỷ lệ huy động và duy trì số trẻ 6 đến 14 tuổi ra học các lớp tiểu học:
Huy động: 819/ 829, đạt 98,8%.
- Duy trì sĩ số hàng năm đạt 99,4 %.
Chất lượng và hiệu quả giáo dục
- Tỉ lệ học sinh lên lớp thẳng toàn trường đạt 93,32 %.

bước đầu đã thâm nhập vào nếp ăn, nếp nghĩ của đồng bào. Tính trông chờ, ỷ
lại dần được xoá bỏ trong một bộ phận người dân.
Kinh tế tại xã nhà từng bước được tăng trưởng do xã nhà có nhiều chính
sách phát triển kinh tế khá phù hợp. Chính sách đầu tư của nhà nước có hiệu
quả khs rõ nét.
Tập thể đoàn kết nhất trí sẵn sàng khắc phục khó khăn - tổ chức được
nhiều phong trào thi đua dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng và ban giám hiệu
nhà trường. Nhà trường đạt loại khá, chi bộ Tiểu học Tân Hợp được Đảng uỷ
công nhận danh hiệu chi bộ “TSVM”.
Tỷ lệ học sinh học đúng độ tuổi: 410/443 = 92,76%
Số học sinh 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học: 135/138 = 98%
2.2 – Những hạn chế còn tồn tại
Trường Tiểu học Tân Hợp có 7 điểm trường, đây cũng là đơn vị có đặc
thù đặc biệt nhất hiện nay trong địa bàn huyện, trường có nhiều điểm trường lẻ.
Năm học 2008-2009 trường có 28 lớp và 4 lớp ghép, có 413 học sinh. Bình
quân học sinh trên lớp là 14,75 em/lớp, trong tổng số học sinh của trường có
384 em là học sinh con em đồng bào dân tộc Thổ, chiếm tỷ lệ 93,1%. Do đặc
thù là xã đặc biệt khó khăn về mọi mặt, nhất là kinh tế - xã hội nên mặc dù đã
có nhiều cố gắng trong nhiều năm nhưng cho đến nay xã Tân Hợp vẫn chưa đạt
PCGDTH-ĐĐT và cũng là xã duy nhất chưa đạt PCGD THCS. Giáo dục và đào
tạo trên địa bàn xã Tân Hợp tồn tại một số khó khăn, bất cập. Công tác quản lý
giáo dục của nhà trường còn có nhiều hạn chế; chất lượng dạy và học mặc dù đã
được nâng lên nhưng vẫn còn chậm. Quy mô, mạng lưới trường lớp, điều kiện
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học chưa đáp ứng yêu cầu với việc đổi mới
phương pháp dạy; trình độ năng lực của một bộ phận giáo viên còn bất cập so
với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông; một số giáo viên chưa biết vận dụng
tiếng dân tộc thiểu số trong giảng dạy nên hạn chế trong việc truyền thụ kiến
thức cho học sinh; nhiều ngành, địa phương, hộ gia đình chưa thật sự quan tâm
đến công tác giáo dục, chưa coi công tác giáo dục là quốc sách hàng đầu.
22

về giáo dục cũng ở mức thấp nhất. Từ đó, động lực để thúc đẩy và các điều kiện
để phát triển giáo dục của toàn cộng đồng cũng như từng cá thể chưa đủ để khắc
phục thắng thế những trở lực và ức chế đã tồn tại từ bao đời.
- Do tính dàn trải của địa bàn dân cư, điều kiện địa lý phức tạp, buộc nhà
trường cũng phải dàn trải nhiều phân hiệu. Chính do vậy mà ảnh hưởng không
nhỏ đến chất lượng quản lý. Hơn nữa số lượng học sinh mỗi khối lớp thường ít
23
SKKN: Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường
do dân số mỗi bản làng thường thấp, lại phân bố thưa thớt, trong khi diện tích
địa lý rộng, do vậy mà nhiều năm trường phải tồn tại mô hình lớp ghép dẫn đến
chất lượng giáo dục không đạt như mong muốn.
- Do kinh tế còn khó khăn, trẻ em phải tham gia nhiều vào công việc phụ
giúp gia đình, thời lượng học nhất là học tăng buổi không đạt 10 buổi/tuần như
vùng thuận lợi. Do nhiều nguyên nhân khác nữa như thời tiết, một số học sinh
không học được đủ số buổi trong năm học. Trong khi đó những vùng thuận lợi
học sinh được học đủ thời lượng quy định, ngoài ra còn được học bán trú, học
kèm cặp ở nhà mà ở Tân Hợp chưa thể có được. Do đó, thời lượng của học
sinh Tân Hợp được học chỉ bằng 4/5 học sinh các vùng thuận lợi.
Cùng mức độ về tinh thần trách nhiệm và năng lực nhưng điều kiện
đường sá đi lại, nhiều điểm trường đã làm cho sự quản lý, chỉ đạo của ban giám
hiệu chưa đạt hiệu quả đúng mực.
Điều kiện cơ sở vật chất cho dạy và học ở Tân Hợp chưa đáp ứng được
yêu cầu, trong khi nhiều đơn vị trường tầng là phổ biến, thì Tân Hợp đến nay 7
phân hiệu mới chỉ có 2 phân hiệu là nhà học cao tầng, nhờ nguồn vốn đầu tư
theo chương trình 135 của Chính phủ, còn lại 5 phân hiệu đang là phòng học
cấp 4B xuống cấp, bàn ghế cho giáo viên, cho học sinh thiếu lại không đúng
quy chuẩn, Từ đó tính kích thích thi đua và phấn đấu học tập tất yếu còn thấp,
trong khi đó nhà ở cho giáo viên đã hẹp, nhỏ lại phải dồn 2 - 3 người cho 1
phòng làm cho giáo viên thiếu tâm huyết phấn đấu.
Điều kiện về nguồn nước sinh hoạt cũng rất khó khăn, nguồn nước cả xã

Có các hoạt động tuyên truyền dưới nhiều hình thức để tăng thêm sự hiểu
biết trong cộng đồng về mục tiêu giáo dục tiểu học, về nội dung, phương pháp
và cách đánh giá học sinh tiểu học, tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia thực
hiện mục tiêu và kế hoạch giáo dục tiểu học.
Nhà trường phối hợp với các bậc cha mẹ theo cơ chế phân công - hợp tác,
cùng gia đình giáo dục con em và tạo điều kiện thuận lợi cho con em học tập;
đảm bảo mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường, giáo viên và gia đình thông
qua việc sử dụng hợp lý các hình thức trao đổi thông tin như họp giáo viên - gia
đình, ghi sổ liên lạc,
Tổ chức các hoạt động giáo dục cụ thể như giáo dục đạo đức, lối sống,
pháp luật, văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao.
Sự tham gia của gia đình và cộng đồng trong việc tăng cơ sở vật chất cho
nhà trường
Huy động được sự đóng góp về công sức và tiền của của các tổ chức, cá
nhân và gia đình để xây dựng cơ sở vật chất; tăng thêm phương tiện, thiết bị dạy
và học khen thưởng giáo viên dạy giỏi, học sinh học giỏi và hỗ trợ học sinh
nghè
25

Trích đoạn MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status