Tiểu luận môn thương mại quản trị THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VÀ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT HO TRONG SẢN XUẤT CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK - Pdf 22

MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế ngày càng gia tăng. Xu thế này được đẩy mạnh bởi quá trình toàn
cầu hóa đang diễn ra hết sức sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống, nhưng
đặc biệt rõ nét trong lĩnh vực kinh tế. Cơ sở của toàn cầu hóa chính là sự hình
thành và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó có hợp tác và phân
công lao động quốc tế. Mỗi quốc gia có lợi thế nhất định về vị trí địa lý, vốn,
nhân lực, khoa học kĩ thuật… Do đó mỗi quốc gia chỉ thuận lợi trong phát triển
một số ngành kinh tế nhất định. Dựa trên những cơ sở đó, các nhà kinh tế học
đã tổng hợp và khái quát thành những lý thuyết thương mại quốc tế.
Việt Nam là quốc gia có nhiều lợi thế trong sản xuất hàng nông sản. Và
ngành sản xuất cà phê tại Việt Nam đang tận dụng được những lợi thế đó. Để
làm rõ hơn những lợi thế này, tiểu luận sử dụng lý thuyết Heckscher – Ohlin
để vận dụng trong phân tích lợi thế sản xuất cà phê xuất khẩu tại một địa
phương cụ thể là tỉnh Đắk Lắk của Việt Nam.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
− Đối tượng nghiên cứu: lý thuyết H-O và việc vận dụng trong thực tiễn
vào mặt hàng cà phê của tỉnh Đắk Lắk.
− Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: tỉnh Đắk Lắk
+ Về thời gian: 2005 - 2013
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
− Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích lý thuyết H-O và thực trạng mặt
hàng cà phế xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian, rút ra các nhận xét, đánh
giá về việc vận dụng lý thuyết H-O trong sản xuất cà phê xuất khẩu của tỉnh
Đắc Lắk, từ đó đưa ra định hướng cho hoạt động sản xuất cà phê xuất khẩu
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
− Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu nội dung lý thuyết H-O, xem xét thực

Mô hình H-O-S. Jaroslav Vanek mở rộng để áp dụng cho nhiều quốc gia và
nhiều sản phẩm, nên cũng thường được gọi là Mô hình Heckscher – Ohlin –
Vanek. Mô hình Heckscher – Ohlin dựa trên các giả thiết sau:
• Thế giới chỉ có 2 quốc gia chỉ có 2 loại hàng hóa (X và Y) và chỉ có 2
yếu tố sản xuất là lao động và tư bản.
• Hai quốc gia sử dụng công nghệ sản xuất hàng hóa giống nhau và thị
hiếu của các dân tộc như nhau.
• Hàng hóa X chứa đựng nhiều lao động, còn hàng hóa Y chứa đựng
nhiều tư bản.
• Tỷ lệ giữa đầu tư và sản lượng của 2 loại hàng hóa trong 2 quốc gia là
một hằng số. Cả hai quốc gia đều chuyên môn hóa sản xuất ở mức không
hoàn toàn.
• Cạnh tranh hoàn hảo ở thị trường hàng hóa và thị trường các yếu tố
đầu vào ở cả 2 quốc gia.
4
• Công nghệ sản xuất cố định ở mỗi quốc gia và như nhau giữa các
quốc gia
• Công nghệ đó ở mỗi quốc gia đều có lợi tức theo quy mô cố định.
• Lao động và vốn có thể di chuyển tự do trong biên giới mỗi quốc gia,
nhưng bị cản trở trong phạm vi quốc tế.
• Không có chi phí vận tải, không có hàng rào thuế quan và các trở ngại
khác trong thương mại giữa hai nước.
1.2.2. Đường giới hạn khả năng sản xuất và sự lựa chọn của quốc gia
Mô hình Heckscher – Ohlin phiên bản 2 × 2 × 2 sử dụng hàm Cobb
-Douglass vì nó phù hợp với giả thiết về lợi tức theo quy mô không đổi.
Chúng ta nói rằng hàng hóa Y là hàng hóa chứa đựng nhiều tư bản nếu tỷ số
tư bản/ lao động (K/L) được sử dụng để sản xuất hàng hóa Y lớn hơn hàng
hóa X trong cả 2 quốc gia. Chúng ta cũng nói rằng quốc gia thứ II là quốc gia
có sẵn tư bản với quốc gia thứ I nếu tỷ giá giữa tiền thuê tư bản lãi suất trên
tiền lương (r/w) ở quốc gia này thấp hơn so với quốc gia thứ I. Như vậy,

giá trị so với niên vụ 2011 – 2012. Hiện tượng giảm giá của cà phê Việt
Nam là do ảnh hưởng của giá cà phê thế giới cũng trong tình trạng sụt
giảm. Tuy nhiên, sự giảm giá này hầu như không ảnh hưởng tới dự báo về
xuất khẩu cà phê niên vụ 2013 – 2014 sẽ tiếp tục gia tăng lên mức 25 triệu
bao, tương đương 1,7 triệu tấn, tăng 7% so với niên vụ trước
1
.
Hình 2.1: Các thị trường xuất khẩu cà phê chính của Việt Nam,
mùa vụ 2010/11 - 2012/13
Nguồn: Bộ NN&PTNT và Global Trade Atlas (GTA)
1 http://www.vietrade.gov.vn/ca-phe/3951-nganh-hang-ca-phe-vit-nam-
mua-v-201314-qua-cac-d-bao-phn-2.html
7
Riêng đối với tỉnh Đắk Lắk, do điều kiện thời tiết bất lợi nên niên vụ
2012/13 năng suất và sản lượng cà phê của tỉnh đều giảm so với niên vụ
trước. Năng suất bình quân toàn tỉnh đạt gần 22 tạ/ha. Sản lượng cà phê
nhân xô đạt hơn 410 nghìn tấn, giảm 15%. Cả niên vụ này, tỉnh chỉ xuất
khẩu được hơn 224 nghìn tấn, kim ngạch hơn 460 triệu USD, thấp nhất
trong vòng 5 năm qua cả về lượng và kim ngạch. Tuy nhiên, mức sản lượng
cà phê của tỉnh vẫn cao hơn các tỉnh khác với 33%
2
.
Hình 2.2: Sản lượng cà phê Việt Nam theo vùng tính đến năm 2012
(%)
2.2. Vận dụng lý thuyết H-O nhằm định hướng xuất khẩu cà phê của
tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 – 2020
Để có thể vận dụng lý thuyết H-O vào định hướng xuất khẩu cà phê
cho tỉnh Đắk Lắk, trước tiên cần phải đánh giá các yếu tố đầu vào như tài
nguyên thiên nhiên và lực lượng lao động, hai yếu tố chính trong việc hình
thành giá sản phẩm cà phê.

Đắk Nông 116.35
0
122.27
8
69.000
Gia Lai
77.627 77.627 73.000
Đồng Nai
20.000 20.000 13.000
Bình Phước
14.938 14.938 8.000
Kon Tum
12.158 12.158 12.500
Quảng Trị
5.050 5.050 5.000
Sơn La
6.371 6.371 5.000
Bà Rịa Vũng Tàu
7.071 7.071 5.000
Điện Biên
3.385 3.385 4.500
Các khu vực khác 5.700 5.700 n/a
9
Tổng 616.407 633.295 500.000
Nguồn: Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT các tỉnh, Doanh nghiệp xuất khẩu cà phê
Việt Nam
3
Tuy nhiên, sự gia tăng diện tích trồng cà phê chưa hẳn đã đem lại lợi thế
so sánh cho xuất khẩu sản phẩm này ra thị trường thế giới. Trong nhiều năm
qua, do giá cà phê liên tục tăng nên một bộ phận nông dân tự phát mở rộng diện

trong những yếu tố đầu vào giúp cho giá thành cà phê có lợi thế so sánh với
giá cà phê các nước trên thế giới.
Giá cà phê trong nước
Theo nguồn số liệu từ Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam VICOFA,
niên vụ 2012/13 giá cà phê Robusta trung bình tại Đắk Lắk đạt mức 40.159
VND/kg (tương ứng 1,91 USD). Hiện nay giá cà phê vẫn giữ ở mức cao và
tương đối ổn định, đồng thời cà phê lại có sự cạnh tranh về giá so với các
cây trồng khác đã tạo động lực lớn cho người nông dân tiếp tục mở rộng
diện tích canh tác.
Giá cà phê xuất khẩu
Theo VICOFA, giá xuất khẩu trung bình của cà phê Robusta niên vụ
2012/13 là 1.919USD/tấn (FOB Hồ Chí Minh), giảm 3% so với niên vụ
trước (1.984USD/tấn), và giảm 10% so với niên vụ 2010/11.
Khối lượng xuất khẩu
Mặc dù giá cà phê trong nước và quốc tế đều giảm, nhưng xuất khẩu
cà phê của Việt Nam, trong đó có tỉnh Đắk Lắk được dự báo vẫn gia tăng
trong niên vụ 2013/14. Với mức sản lượng kỷ lục mới, Bộ Nông nghiệp Mỹ
FAS USDA đã điều điều chỉnh dự báo về lượng cà phê xuất khẩu của Việt
Nam niên vụ 2013/14 lên 25 triệu bao, tương đương 1,5 triệu tấn, tăng 7%
so với mùa vụ trước.
5
Xuất khẩu các sản phầm cà phê chế biến, cà phê rang xay và cà phê
hòa tan trong những năm gần đây đều đạt tốc độ tăng trưởng dương. Dự
báo niên vụ 2013/14 cà phê sẽ được xuất khẩu khoảng 645.000 bao tương
đương 39.000 tấn gồm các sản phẩm cà phê chế biến (gồm cà phê rang xay
và cà phê hòa tan
6
.
Khối lượng nhập khẩu
5

nghiệp chế biến cà phê, cơ cấu sản phẩm đa dạng, chất lượng cao gắn với
thị trường trong nước và xuất khẩu, nhằm nâng cao giá trị gia tăng. Bên
cạnh đó, đảm bảo phát huy mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế và sự
hỗ trợ của nhà nước, để đảm bảo sản xuất cà phê có hiệu quả, bền vững;
7 Quyết định số 1987/QĐ-BNN-TT ngày 21/08/2012 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn về Quy hoạch phát triển ngành cà phê Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến
năm 2030
12
giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường và giữ
vững trật tự xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.
Về quỹ đất trồng cà phê, phải tiến hành rà soát, đánh giá các điều
kiện sinh thái thích nghi với cây cà phê, loại bỏ diện tích ít thích hợp và
không thích hợp để tiếp tục duy trì phát triển ổn định bền vững. Định
hướng đến năm 2020, Đắk Lắk vẫn là 1 trong 4 tỉnh trọng điểm trồng cà
phê ở Tây Nguyên, với diện tích đất trồng cà phê là 170 nghìn ha.
Về cơ cấu cây trồng, do điều kiện tự nhiên không thích hợp để trồng
cà phê chè (arabica) mặc dù đây là giống cà phê có giá trị kinh tế cao, nên
tỉnh vẫn tiếp tục duy trì đẩy mạnh trồng mới cà phê vối (robusta).
Về chế biến, tỉnh tiếp tục khuyến khích các cơ sở chế biến kinh doanh
đầu tư nâng cấp, xây dựng mới các cơ sở chế biến cà phê nhân xuất khẩu,
lắp đặt dây chuyển thiết bị đồng bộ, hiện đại, công nghệ tiên tiến với mức
độ tự động hóa cao. Đồng thời, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài
nước xây dựng các nhà máy chế biến tiêu dùng (cà phê bột, cà phê hòa tan,
…) với công nghệ thiết bị hiện đại, sản phẩm đa dạng chất lượng cao đảm
bảo an toàn thực phẩm và đáp ứng tốt thị hiếu người tiêu dùng. Tổng công
suất thiết kế các nhà máy chế biến cà phê tiêu dùng đến năm 2020 đạt 125
nghìn tấn sản phẩm.
Về chất lượng sản phẩm, sản phẩm cà phê Đắk Lắk phải đảm bảo có
chứng chỉ chất lượng an toàn, đảm bảo theo quy chuẩn 4C, UTZ, VietGap.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status