156 Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và Kiểm toán (AASC) thực hiện - Pdf 22

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
LỜI MỞ ĐẦU
Khoản phải trả nhà cung cấp là một trong những khoản mục trọng yếu
trong kiểm toán báo cáo tài chính. Đây là khoản mục có rủi ro tiềm tàng cao.
Khi thực hiện kiểm toán khoản mục này, kiểm toán viên phải thiết kế và vận
dụng các thủ tục kiểm toán sao cho rủi ro phát hiện là thấp nhất. Kiểm toán
khoản mục này đòi hỏi sự chuẩn bị công phu và sự thực hiện chu đáo. Để
thực hiện kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp, kiểm toán viên phải là
người có kinh nghiệm và có khả năng xét đoán nghề nghiệp.
Là một sinh viên chuyên ngành kiểm toán, sau một thời gian thực tập
tại Phòng Kiểm toán các ngành Thương mại - Dịch vụ Công ty Dịch vụ Tư
vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC), em đã có cơ hội tiếp xúc với
quy trình kiểm toán báo cáo tài chính cũng như kiểm toán khoản phải trả nhà
cung cấp do Công ty thực hiện. Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán
khoản mục này trong kiểm toán báo cáo tài chính, em đã chọn đề tài: “Hoàn
thiện quy trình kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp trong kiểm toán báo
cáo tài chính do Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
(AASC) thực hiện” cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
Để minh hoạ cho quy trình kiểm toán khoản mục phải trả nhà cung cấp
do AASC thực hiện, em đã đưa vào khoá luận tình hình thực tế kiểm toán
khoản mục này do Công ty thực hiện tại hai khách hàng ABC và XYZ. Nhà
máy ABC là chi nhánh của Công ty cổ phần E chuyên kinh doanh trong lĩnh
vực thiết bị bưu điện, là khách hàng thường xuyên của AASC. Nhà máy ABC
chuyên sản xuất các thiết bị chuyên ngành bưu chính, viễn thông, điện tử.
Còn Công ty XYZ là một doanh nghiệp thương mại chuyên buôn bán, xuất
nhập khẩu các loại vật tư nông nghiệp.
Nội dung của khoá luận gồm ba chương:
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
1
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
Chương I: Những vấn đề lý luận về kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp

trả nhà cung cấp ngắn hạn và phải trả nhà cung cấp dài hạn. Phải trả nhà cung
cấp ngắn hạn là khoản nợ nhà cung cấp do mua sắm các yếu tố đầu vào mà
đơn vị phải thanh toán trong vòng 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh bình
thường. Đối với các doanh nghiệp, hầu hết các khoản phải trả nhà cung cấp là
các khoản nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, cũng có những khoản phải trả nhà cung
cấp là khoản nợ dài hạn. Đó là các khoản nợ nhà cung cấp do mua sắm vật tư,
hàng hóa, tài sản mà đơn vị được phép trả góp trong nhiều năm.
Theo mối quan hệ giữa đơn vị và nhà cung cấp, khoản phải trả nhà
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
3
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
cung cấp được chia thành hai loại: phải trả nhà cung cấp bên ngoài và phải trả
nhà cung cấp nội bộ (giữa chi nhánh với tổng công ty hoặc giữa các chi nhánh
trong cùng tổng công ty…).
Khoản phải trả nhà cung cấp là khoản nợ phát sinh thường xuyên trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liên quan đến việc mua vật tư, hàng
hóa, dịch vụ nhưng chưa thanh toán tiền cho nhà cung cấp. Bên cạnh các
khoản nợ tiền mua hàng thì cũng có những trường hợp doanh nghiệp ứng
trước tiền hàng cho nhà cung cấp.
Như vậy, khoản phải trả nhà cung cấp có mối liên hệ rất mật thiết với
nghiệp vụ mua hàng, là một khoản mục quan trọng trong chu trình mua hàng
và thanh toán.
1.1.2. Đặc điểm hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với nhà cung cấp
1.1.2.1. Nguyên tắc hạch toán
Theo Chế độ kế toán ban hành kèm theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC,
khi hạch toán khoản phải trả nhà cung cấp phải tuân thủ một số nguyên tắc
sau:
• Nợ phải trả nhà cung cấp phải được hạch toán chi tiết theo từng đối
tượng phải trả. Trong chi tiết từng đối tượng phải trả, tài khoản này phản ánh
cả số tiền đã ứng trước cho nhà cung cấp nhưng chưa nhận được sản phẩm,

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
Bên Nợ TK 331 Bên Có
- Số tiền đã trả cho nhà cung cấp
- Số tiền ứng trước cho nhà cung cấp
nhưng chưa nhận được vật tư, hàng
hoá, dịch vụ
- Số tiền nhà cung cấp chấp thuận giảm
giá hàng hoá hoặc dịch vụ đã giao
theo hợp đồng
- Chiết khấu thanh toán và chiết khấu
thương mại được nhà cung cấp chấp
thuận giảm trừ vào khoản nợ phải trả
nhà cung cấp
- Giá trị vật tư, hàng hoá thiếu hụt, kém
phẩm chất khi kiểm nhận và trả lại
nhà cung cấp.
- Số tiền phải trả cho nhà cung cấp
- Điều chỉnh số chênh lệch giữa giá
tạm tính nhỏ hơn giá thực tế của số
vật tư, hàng hoá, dịch vụ đã nhận,
khi có hoá đơn hoặc thông báo giá
chính thức.
Số dư: Số tiền còn phải trả cho nhà cung
cấp.
Tài khoản này có thể có số dư bên Nợ. Số dư bên Nợ (nếu có) phản ánh
số tiền đã ứng trước cho nhà cung cấp hoặc số tiền đã trả lớn hơn số phải trả
theo chi tiết của từng đối tượng cụ thể.
Tài khoản 336:
Đối với các khoản nợ phải trả nhà cung cấp nội bộ, kế toán sử dụng tài
khoản 336 – Phải trả nội bộ. Tài khoản này có kết cấu như sau:

nhiệm chi…
1.1.2.4. Sổ sách kế toán áp dụng
Để hạch toán khoản phải trả nhà cung cấp, kế toán sử dụng các sổ tổng
hợp và sổ chi tiết như sau:
• Sổ tổng hợp: bao gồm Sổ Cái TK 331 (336, 342), Nhật ký mua
hàng.
Sổ Cái TK 331 (336, 342) được dùng để ghi chép tổng hợp các nghiệp
vụ phát sinh đối với khoản phải trả nhà cung cấp trong niên độ kế toán.
Nhật ký mua hàng liệt kê danh sách các hoá đơn, tên nhà cung cấp,
ngày lập hoá đơn và số tiền trên mỗi hoá đơn.
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
7
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
• Sổ chi tiết: Sổ chi tiết thanh toán với người bán, Sổ chi tiết thanh
toán với người bán bằng ngoại tệ.
Các sổ này được mở chi tiết cho từng nhà cung cấp, dùng để theo dõi
các nghiệp vụ thanh toán với mỗi nhà cung cấp.
Ngoài ra, kế toán còn sử dụng Bảng đối chiếu của nhà cung cấp. Đây là
báo cáo do nhà cung cấp gửi (thường là hàng tháng) trong đó chỉ rõ các hoá
đơn mà đơn vị chưa thanh toán.
1.2. Kiểm toán khoản mục phải trả nhà cung cấp trong kiểm toán báo
cáo tài chính
1.2.1. Vai trò của kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp trong kiểm toán
báo cáo tài chính
Trong quá trình kinh doanh, việc mua hàng trả chậm là hoạt động phát
sinh thường xuyên, từ đó mỗi doanh nghiệp đều có các khoản nợ phải trả nhà
cung cấp. Đó là các khoản nợ liên quan đến việc mua các yếu tố đầu vào
nhưng chưa trả tiền cho nhà cung cấp.
Khoản phải trả nhà cung cấp là một khoản mục quan trọng trên báo cáo
tài chính của mỗi doanh nghiệp, có liên quan đến nhiều khoản mục khác như

khoản phải trả nhà cung cấp trên báo cáo tài chính có thể làm sai lệch các tỉ
suất về khả năng thanh toán, làm cho người sử dụng hiểu sai tình hình tài
chính của đơn vị.
Thứ hai, về kết quả hoạt động kinh doanh, nợ phải trả nhà cung cấp có
mối quan hệ mật thiết với chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do
đó, những sai lệch trong ghi chép và trình bày khoản phải trả nhà cung cấp có
thể dẫn đến những sai lệch trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
9
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
Xuất phát từ những rủi ro tiềm tàng nêu trên, các sai phạm thường gặp
đối với khoản mục phải trả nhà cung cấp là:
Một là, khoản phải trả nhà cung cấp bị cố tình ghi giảm hoặc không
được ghi chép đầy đủ. Việc khai thiếu nợ phải trả nhà cung cấp dẫn đến kết
quả làm tăng khả năng thanh toán một cách giả tạo. Đồng thời, có thể dẫn đến
khả năng chi phí không được tính toán đầy đủ, làm cho lợi nhuận cũng tăng
lên một cách giả tạo so với thực tế. Do vậy, kiểm toán viên phải quan tâm đặc
biệt đến mục tiêu Trọn vẹn – Tính đầy đủ của việc ghi chép các khoản phải
trả nhà cung cấp.
Hai là, ghi khống khoản phải trả nhà cung cấp. Việc phản ánh các
khoản nợ phải trả nhà cung cấp không có thật làm thay đổi các tỉ suất tài
chính, dẫn đến sai lệch tình hình tài chính của doanh nghiệp, cũng là dấu hiệu
của hành vi gian lận rút tiền công quỹ.
Ba là, không phân loại và trình bày đúng nợ phải trả hay nợ phải thu
khi lập báo cáo tài chính. Trong trường hợp này, kết quả kinh doanh của kỳ kế
toán không bị ảnh hưởng nhưng khả năng thanh toán thực tế của đơn vị bị
hiểu sai do các tỉ suất về khả năng thanh toán bị sai lệch.
Trên đây là các sai phạm thường gặp đối với khoản mục phải trả nhà
cung cấp, cũng là những vấn đề mà kiểm toán viên rất quan tâm khi tiến hành
kiểm toán khoản mục này.

mỗi công đoạn kiểm tra, người kiểm tra phải ghi ngày và ký tên để xác nhận
trách nhiệm của mình. Thông thường, có các cách kiểm tra, đối chiếu như
sau:
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
11
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
• So sánh số lượng trên Hoá đơn với số lượng trên Phiếu nhập kho
(hoặc Báo cáo nhận hàng) và Đơn đặt hàng để đảm bảo không thanh toán
vượt quá số lượng hàng đặt mua và số lượng thực nhận.
• So sánh giá cả, chiết khấu trên Đơn đặt hàng và trên Hoá đơn để
đảm bảo không thanh toán vượt số nợ phải trả cho nhà cung cấp.
e. Việc xét duyệt chi quỹ để thanh toán cho nhà cung cấp do bộ phận
tài vụ thực hiện. Sự tách tời hai chức năng là kiểm tra và chấp thuận thanh
toán (do bộ phận kế toán đảm nhận) với xét duyệt chi quỹ để thanh toán (do
bộ phận tài vụ đảm nhận) sẽ là một biện pháp kiểm soát hữu hiệu. Trước khi
duyệt chi, thông qua xem xét sự đầy đủ, hợp lệ và hợp pháp của chứng từ, bộ
phận tài vụ kiểm tra mọi mặt của nghiệp vụ. Người ký duyệt chi quỹ phải
đánh dấu các chứng từ để chúng không bị tái sử dụng.
f. Cuối tháng, bộ phận kế toán nợ phải trả cần đối chiếu giữa Sổ chi
tiết thanh toán với nhà cung cấp với Sổ Cái. Việc đối chiếu này thực hiện trên
Bảng tổng hợp chi tiết và bảng này được lưu lại để làm bằng chứng là đã đối
chiếu, cũng như tạo điều kiện thuận lợi khi hậu kiểm.
g. Để tăng cường kiểm soát nội bộ đối với việc thu nợ, nhiều nhà cung
cấp có thực hiện thủ tục: hàng tháng gửi cho các khách hàng một bảng kê các
hoá đơn đã thực hiện trong tháng, các khoản đã trả và số dư cuối tháng. Vì
thế, ở góc độ người mua ngay khi nhận được bảng này, kế toán đơn vị phải
tiến hành đối chiếu với Sổ chi tiết để tìm hiểu mọi sai khác (nếu có) và sửa
chữa sai sót trên sổ sách hoặc thông báo cho nhà cung cấp.
1.2.4. Mục tiêu kiểm toán đối với khoản phải trả nhà cung cấp
Nói về mục tiêu kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính, Chuẩn

Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
13
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
loại và trình bày): Các khoản phải trả nhà cung cấp được ghi nhận, các nghiệp
vụ thanh toán được hạch toán theo đúng các đối tượng chi tiết, ghi nhận đúng
nợ phải thu và phải trả. Một nguyên tắc hết sức quan trọng khi hạch toán các
nghiệp vụ thanh toán với nhà cung cấp là phải tiến hành hạch toán chi tiết
theo từng đối tượng nhà cung cấp, việc hạch toán nhầm sẽ dẫn đến sai bản
chất kế toán và sai sót trong việc trình bày trên báo cáo tài chính.
Bốn là, tính đúng đắn trong việc tính giá (mục tiêu về tính giá): Việc
tính toán khoản phải trả nhà cung cấp phù hợp với Hợp đồng mua bán, Hoá
đơn và Biên bản giao nhận hàng hoá - dịch vụ. Các khoản chiết khấu, giảm
giá, hàng trả lại đều được ghi nhận một cách đúng đắn, phù hợp với các chứng
từ, tài liệu liên quan.
Năm là, tính đúng đắn trong việc phản ánh quyền và nghĩa vụ (mục tiêu
về quyền và nghĩa vụ): Mục tiêu này hướng tới việc xác minh nghĩa vụ trong
việc thanh toán công nợ của đơn vị đối với các nhà cung cấp.
Sáu là, tính chính xác cơ học (mục tiêu về tính chính xác cơ học): Mục
tiêu này hướng tới việc xác minh tính chính xác trong việc tính toán, cộng
dồn, chuyển sổ đối với các khoản phải trả nhà cung cấp.
Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên đánh giá mục tiêu hợp lý
chung hướng tới khả năng sai sót cụ thể của các số tiền trên khoản mục từ đó
đánh giá khả năng đạt được của các mục tiêu khác. Nếu kiểm toán viên nhận
thấy mục tiêu hợp lý chung chưa đạt được thì phải sử dụng đến các mục tiêu
chung khác. Từ đó kiểm toán viên lập kế hoạch thu thập những bằng chứng
chi tiết hơn cho khoản mục với những mục tiêu xác định.
1.3. Quy trình kiểm toán khoản mục phải trả nhà cung cấp
1.3.1. Chuẩn bị kiểm toán
Để đảm bảo công việc kiểm toán đạt hiệu quả và đúng tiến độ thì giai
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
toán… Tham khảo kết quả kiểm toán của năm trước giúp kiểm toán viên tiết
kiệm thời gian, công sức trong việc nhanh chóng nắm bắt được bản chất của
các số liệu, các vấn đề cần lưu ý, những yếu kém trong việc ghi sổ các nghiệp
vụ cũng như các hoạt động kiểm soát đối với khoản mục.
Thực hiện các cuộc phỏng vấn:
Kiểm toán viên tiến hành phỏng vấn nhà quản lý doanh nghiệp, kế toán
công nợ nhằm thu thập thông tin về trình độ nhân viên, về nội dung các thủ
tục thực hiện cũng như ưu nhược điểm của những thủ tục này đối với khoản
mục phải trả nhà cung cấp. Từ đó đánh giá ảnh hưởng của các quy định đến
việc hạch toán khoản phải trả nhà cung cấp.
b. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Công việc này được kiểm toán viên thực hiện nhằm nắm bắt các quy
trình pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của
đơn vị. Những thông tin này được thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban
giám đốc đơn vị khách hàng gồm:
• Giấy phép thành lập và Điều lệ công ty: những tài liệu này cho kiểm
toán viên những thông tin ban đầu về quá trình hình thành, mục tiêu hoạt
động, cơ cấu tổ chức, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh… của khách
hàng.
• Báo cáo tài chính: cung cấp những dữ liệu về tài chính giúp cho
kiểm toán viên nhận thức tổng quát, đánh giá xu hướng về tình hình tài chính
của đơn vị, đặc biệt là tình hình các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản
ứng trước cho nhà cung cấp.
• Báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra: giúp kiểm toán viên nắm
bắt các khả năng sai phạm và dự kiến phương hướng kiểm toán có liên quan
tới khoản mục.
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
16
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN

d. Đánh giá mức trọng yếu và rủi ro
Để đánh giá tính trọng yếu, kiểm toán viên đưa ra mức trọng yếu ước
lượng cho toàn bộ BCTC, sau đó phân bổ mức trọng yếu cho khoản mục phải
trả nhà cung cấp và tiến tới đánh giá tính trọng yếu cho khoản mục này.
Việc đánh giá tính trọng yếu chủ yếu phụ thuộc vào các xét đoán nghề
nghiệp cũng như kinh nghiệm của kiểm toán viên.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, khả năng kiểm toán viên có nhận xét
không xác đáng về BCTC là điều luôn có thể xảy ra, đó chính là rủi ro kiểm
toán. Mức rủi ro này cao hay thấp sẽ quyết định khối lượng công việc kiểm
toán viên tiến hành. Do vậy, trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên phải
xác định rủi ro kiểm toán (AR). Rủi ro kiểm toán được hình thành từ ba bộ
phận: rủi ro tiềm tàng (IR), rủi ro kiểm soát (CR) và rủi ro phát hiện (DR).
Rủi ro tiềm tàng (IR) nằm ngay trong bản chất các số dư tài khoản phải
trả nhà cung cấp hay trong chức năng sản xuất của doanh nghiệp, cho dù có
hay không tồn tại hệ thống KSNB.
Rủi ro kiểm soát (CR) được kiểm toán viên đánh giá đối với khoản mục
phải trả nhà cung cấp thông qua việc tìm hiểu hệ thống KSNB của doanh
nghiệp với chu trình mua hàng và thanh toán.
Rủi ro phát hiện (DR) là khả năng mà các thủ tục kiểm toán không phát
hiện được các sai phạm trọng yếu. Kiểm toán viên có trách nhiệm thực hiện
các thủ tục nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán, nhằm quản lý và kiểm
soát đối với rủi ro phát hiện.
Xác định mức trọng yếu và rủi ro là thủ tục phức tạp đòi hỏi trình độ
cũng như khả năng xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên.
e. Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
18
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
Đây là một phần việc hết sức quan trọng mà kiểm toán viên phải thực
hiện trong mỗi cuộc kiểm toán. Vấn đề này được quy định rõ trong Chuẩn

 Thiết kế sơ đồ tài khoản đầy đủ, phù hợp với nghiệp vụ thanh toán cho
nhà cung cấp.
 Quy định về việc ghi sổ cập nhật đối với nghiệp vụ thanh toán với nhà
cung cấp.
 Quy định về việc đối chiếu định kỳ giữa Nhật ký mua hàng, Sổ kho,
Báo cáo nhận hàng, Sổ hạch toán chi tiết hàng tồn kho, Sổ hạch toán chi tiết
thanh toán với nhà cung cấp.
 Tiến hành đối chiếu với tài khoản ở ngân hàng.
Các thủ tục kiểm soát trên được thiết lập dựa trên ba nguyên tắc cơ bản:
Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: kiểm toán viên tìm hiểu sự phân
chia nhiệm vụ, công việc giữa các bộ phận, các cá nhân trong bộ phận và tính
độc lập của những người thực hiện công việc. Kiểm toán viên tìm hiểu nhiệm
vụ của kế toán vật tư, kế toán công nợ, kế toán tiền mặt và thủ quỹ.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: kiểm toán viên kiểm tra sự cách ly về trách
nhiệm giữa kế toán công nợ với thủ kho, thủ quỹ, bộ phận nhận hàng.
Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn: kiểm toán viên kiểm tra việc uỷ
nhiệm người có thẩm quyền phê chuẩn thanh toán có tuân theo quy tắc không,
và việc phê chuẩn có đúng cấp có thẩm quyền không…
• Hệ thống kế toán:
Một hệ thống kế toán hoạt động hữu hiệu không phải chỉ cung cấp
những thông tin cần thiết cho quản lý mà còn đóng vai trò quan trọng kiểm
soát các hoạt động của đơn vị.
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
20
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
Các chính sách kế toán, các hình thức kế toán phải tuân thủ theo quy
định, các loại chứng từ, sổ sách được áp dụng phải tuân theo mẫu quy định
của Bộ Tài chính.
• Kiểm toán nội bộ:
Đây là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống KSNB của

chứng từ và xem xét sự tương xứng của người ký duyệt với thẩm quyền của
từng người.
Trường hợp không có dấu vết, kiểm toán viên cần phỏng vấn các nhân
viên có liên quan hoặc quan sát công việc thực tế của họ. Cụ thể, kiểm toán
viên xem xét sự phân cách trách nhiệm giữa kế toán thanh toán với thủ quỹ
hoặc người ký duyệt chi tiền trả nhà cung cấp…
b. Thiết kế các thử nghiệm cơ bản
Đây là thử nghiệm then chốt và cốt lõi trong kiểm toán khoản phải trả
nhà cung cấp, được áp dụng để khẳng định độ tin cậy của thông tin. Thử
nghiệm cơ bản được thiết kế với các loại thủ tục: thủ tục phân tích và thủ tục
kiểm tra chi tiết số dư.
Thủ tục phân tích: kiểm toán viên xem xét tính hợp lý chung của số dư
TK 331 (336, 342) thông qua việc so sánh trị số chỉ tiêu của kỳ này với kỳ
trước, so sánh các tỉ suất về khả năng thanh toán… Các công việc cụ thể là:
 Xác định lại số dư tài khoản và sai sót tiềm tàng cần kiểm tra
 Tính toán lại giá trị ước tính của tài khoản
 Xác định giá trị chênh lệch có thể chấp nhận được
 Xác định chênh lệch trọng yếu cần kiểm tra
 Kiểm tra số chênh lệch trọng yếu
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
22
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
 Đánh giá kết quả kiểm tra của độ chính xác các tài khoản đó.
Thủ tục kiểm tra chi tiết số dư: Đây là cách thức kết hợp các phương
pháp cân đối, phân tích, đối chiếu trực tiếp với kiểm kê và điều tra thực tế để
khẳng định độ tin cậy của số dư cuối kỳ ở Sổ Cái TK 331 (336, 342) ghi vào
Bảng cân đối kế toán. Thủ tục này thường có chi phí lớn nên số lượng thử
nghiệm cần thực hiện tuỳ thuộc vào kết quả thử nghiệm tuân thủ và thủ tục
phân tích.
1.3.2. Thực hiện kiểm toán

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA KẾ TOÁN
4. Tính giá (tính đúng đắn
trong việc tính giá)
- Kiểm tra dấu hiệu của kiểm soát nội bộ
- Kiểm tra việc đối chiếu với ngân hàng.
5. Tính chính xác cơ học - Xem xét việc cách ly trách nhiệm và đối
chiếu thường xuyên giữa người ghi sổ và
người phê duyệt thanh toán.
6. Cho phép (tính đúng đắn
trong việc phê duyệt)
- Kiểm tra dấu hiệu của sự phê chuẩn
- Kiểm tra việc vận dụng quy định về việc phê
chuẩn các nghiệp vụ thanh toán.
7. Kịp thời (ghi sổ kịp
thời)
- Kiểm tra việc ghi sổ và quan sát việc vào sổ
các nghiệp vụ thanh toán
- Kiểm tra dấu vết của KSNB.
1.3.2.2. Thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích là căn cứ quan trọng để kiểm toán viên xác định nội
dung và phạm vi thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết số dư. Trong quy trình
phân tích, kiểm toán viên tiến hành các công việc:
• So sánh chi phí mua hàng kỳ này với kỳ trước để xem xét những
biến động bất thường có thể có.
• Phân tích xu hướng tăng giảm, kiểm tra tính hợp lý của các yếu tố
chi phí giữa các kỳ kế toán để phát hiện những biến động bất thường.
• Phân tích tỉ lệ chi phí mua hàng của từng tháng với nợ phải trả được
ghi nhận trong từng tháng hoặc với các khoản thực tế đã thanh toán.
1.3.2.3. Thủ tục kiểm tra chi tiết số dư
Các thủ tục kiểm tra chi tiết số dư khoản phải trả nhà cung cấp được

- Đối chiếu Sổ chi tiết TK 331 (336, 342) với
Bảng đối chiếu của nhà cung cấp
- Lấy xác nhận các khoản phải trả, chú trọng
các khoản phải trả lớn và bất thường
Trọn vẹn: tất cả các khoản
phải trả nhà cung cấp hiện
có đều được ghi sổ
- Đối chiếu Hoá đơn và Sổ chi tiết TK 331
(336, 342)
- Đối chiếu Phiếu chi, Giấy báo Nợ với Sổ
chi tiết TK 331 (336, 342).
- Đối chiếu Sổ chi tiết TK 331 (336, 342) với
Bảng đối chiếu của nhà cung cấp
- Kiểm tra chi tiết các khoản nợ quá hạn.
Phân loại: các khoản phải
trả nhà cung cấp trong
- Kiểm tra sổ chi tiết TK331 (336, 342).
- Gửi thư xác nhận
Lê Thị Thảo Kiểm toán 45A
25

Trích đoạn Bảng 2.6: Phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục tại Công ty XYZ Bảng 2.7: Chương trình kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp Bảng 2.10: Trích giấy tờ làm việc của kiểm toán viên Bảng 2.12: Trích giấy tờ làm việc của kiểm toán viên Bảng 2.15: Trích giấy tờ làm việc của kiểm toán viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status