Giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán thuế giá trị gia tăng trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán .. - Pdf 15

Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, nền kinh tế Việt Nam không ngừng
phát triển và đang có xu hướng hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế thế giới. Rất
nhiều doanh nghiệp mới được mở với các loại hình kinh doanh đa dạng và thuộc
nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Kéo theo đó là các quan hệ kinh tế nảy sinh
phức tạp và đòi hỏi phải có sự quản lý, kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước.
Ở nước ta, mặc dù hoạt động kiểm toán mới chỉ xuất hiện khoảng hơn chục
năm nhưng với đòi hỏi khách quan của nền kinh tế cũng như sự khuyến khích
phát triển của Nhà nước, các dịch vụ kiểm toán đã góp phần không nhỏ vào việc
cải thiện và làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế và trợ giúp đắc lực công tác
quản lý của Nhà nước, đồng thời tạo niềm tin cho những người sử dụng thông
tin tài chính.
Thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN là trách nhiệm của tất cả các doanh
nghiệp trong mối quan hệ pháp lý với Nhà nước. Nhưng trong thực tế các đơn vị
SXKD lại luôn tìm mọi cách để trốn tránh nghĩa vụ của mình thông qua các
hành vi gian lận, trốn thuế. Do vậy, việc kiểm tra thực hiện nghĩa vụ với NSNN
là một nội dung quan trọng, thường xuyên trong hoạt động của các cơ quan
thanh tra, kiểm tra và kiểm toán. Có nhiều loại thuế phải nộp nhưng ở đây có thể
đề cập đến thuế GTGT, một loại thuế có đối tượng áp dụng rộng rãi và chiếm
một tỷ trọng lớn trong tổng số tiền phải nộp cho NSNN.
Trong quá trình thực tập tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài Chính Kế toán và
Kiểm toán, em đã tìm hiểu về thực tế thực hiện quy trình kiểm toán BCTC và
nhận thấy rằng việc kiểm toán thuế GTGT có một vai trò quan trọng trong quy
trình đó. Không những vậy việc kiểm toán thuế GTGT còn có một ý nghĩa xã
hội lớn. Cộng với tính cấp thiết phải hoàn thiện, em đã quyết định chọn đề tài:
"Những giải pháp chủ yếu hoàn thiện quy trình kiểm toán thuế GTGT trong
kiểm toán BCTC do Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
thực hiện" cho Luận văn tốt nghiệp của mình.
Phạm Thị Ngọc Bích 1 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp

1.1.1. Khái niệm thuế GTGT và đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế
Thuế GTGT là loại thuế mới, lần đầu tiên áp dụng ở nước ta thay cho thuế
doanh thu. Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là công cụ thu NSNN mà
còn là một công cụ của nhà nước để quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Căn cứ vào Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 và Nghị định số
158/2003/NĐ-CP ban hành ngày 10/12/2003 thuế GTGT được định nghĩa như
sau:
"Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ
phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng."
Thuế GTGT viết tắt là VAT theo tên tiếng Anh (Value added Tax).Tức là:
thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm khác hẳn với thuế doanh thu là loại
thuế tính trên doanh thu với thuế suất ở tất cả các khâu. Do vậy, thuế GTGT có ưu
điểm hơn hẳn loại thuế cũ.
Do nhược điểm của thuế doanh thu và nhu cầu thay đổi trong công tác hạch
toán kế toán nói chung và công tác hạch toán thuế nói riêng, Luật thuế GTGT được
ban hành và áp dụng từ ngày 1/1/1999. Cho đến nay, Bộ Tài chính đã ban hành
nhiều văn bản hướng dẫn kế toán về thuế GTGT, đáp ứng tương đối đầy đủ, kịp
thời về hạch toán thuế GTGT như: Luật thuế GTGT số 07/2003/QH11 sửa đổi, bổ
sung một số điều trong Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9, Nghị định
158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003, Thông tư số 120/2003/TT-BTC hướng dẫn và
quy định chi tiết việc thi hành Luật thuế GTGT…
Đối tượng chịu thuế GTGT: Thuế GTGT là loại thuế gián thu, tính trên giá
trị hàng hoá, dịch vụ (kể cả dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân nước ngoài) dùng cho
Phạm Thị Ngọc Bích 3 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp
SXKD và tiêu dùng tại Việt Nam (Điều 2- Luật thuế GTGT) trừ các đối tượng quy
định tại điều 4 Luật thuế GTGT.
Đối tượng nộp thuế GTGT: Đối tượng nộp thuế GTGT là các cơ sở kinh
doanh bao gồm các tổ chức cá nhân có hoạt động SXKD dịch vụ, hàng hoá chịu
thuế GTGT ở Việt Nam không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh

Ngoài ra, giá tính thuế còn bao gồm cả các khoản phụ thu, phí thu mà cơ sở
kinh doanh được hưởng trừ đi các khoản phụ thu và phí phải nộp lại cho Nhà nước.
Thuế suất: Luật thuế GTGT năm 1997 quy định 4 mức thuế suất GTGT thay
vì 11 mức thuế suất doanh thu trước đây. Đó là các nhóm: 0%, 5%, 10%, 20%. Đến
năm 2003 Luật thuế GTGT sửa đổi ban hành thì theo quy định chỉ còn ba nhóm:
0%, 5%, 10%. Nhờ việc chia ra thành nhiều nhóm thuế suất mà nhà nước có thể
thực hiện được chính sách ưu đãi với một số mặt hàng được khuyến khích tiêu
dùng trong nước, tăng cường xuất khẩu, hoặc hạn chế, điều tiết tiêu dùng. Cụ thể:
Thuế suất 0%: áp dụng đối với các hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu. Thuế suất 5%: áp
dụng cho các loại hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất
Thuế suất 10%: áp dụng với các hàng hoá dịch vụ còn lại. Việc giảm thiểu các
nhóm thuế suất có ưu điểm là làm đơn giản hơn việc áp dụng, tính thuế nộp thuế
cho các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh.
1.1.3. Phương pháp tính thuế GTGT
1.1.3.1. Thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ
Theo Luật thuế GTGT, khi tính thuế GTGT để nộp cho NSNN thì các cơ sở
kinh doanh có thể tính theo một trong hai phương pháp là: phương pháp khấu trừ
và phương pháp trực tiếp.
Hiện nay đa số các doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế vì nó có
ưu điểm hơn hẳn. Trong phạm vi bài viết này cũng chỉ để cập đến thuế GTGT và
trong phạm vi thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, tuy nhiên vẫn trình bày
phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp để có thể so sánh được hai phương pháp
này.
Phạm Thị Ngọc Bích 5 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp
Đối tượng và việc xác định thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ được cụ
thể như sau:
 Đối tượng: là các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, đơn vị được thành lập
theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác trừ

 Trường hợp cơ sở SXKD được sử dụng loại hoá đơn chứng từ đặc thù như vé
cước vận tải, tem bưu chính…thì giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT và thuế
GTGT được tính như sau:

=
GTGT ThuÕ
*
GTGT thuÕsuÊt thuÕ1
to¸n thanhGÝa
+
thuế suất thuế GTGT
1.1.3.2. Thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp
 Đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp:
Phạm Thị Ngọc Bích 6 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp
- Các đối tượng không đủ điều kiện để tính thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ thuế.
- Các cơ sở kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc, đá quý
 Xác định số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp:
Số thuế GTGT
phải nộp
=
GTGT của hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế
*
Thuế suất thuế GTGT của
hàng hóa, dịch vụ đó
GTGT của hàng
hóa, dịch vụ
=

Ngoài ra, khi thuế GTGT được áp dụng thì số lượng mức thuế suất được
giảm đi từ 11 xuống còn 4 mức thuế suất (Luật thuế GTGT năm 1997) và chỉ
còn 3 mức thuế suất (Luật thuế GTGT sửa đổi năm 2003). Việc giảm bớt số
lượng mức thuế suất đã làm đơn giản cho các cơ sở SXKD rất nhiều trong cả
hạch toán, ghi chép và xác định số thuế GTGT phải nộp.
Luật thuế GTGT ra đời đã thống nhất hệ thống thuế áp dụng cho các cơ sở
SXKD thuộc mọi thành phần kinh tế trong cả nước và cho hầu như toàn bộ các
hoạt động SXKD của xã hội. Do phạm vi đối tượng áp dụng thuế GTGT rất rộng
như vậy nên thuế GTGT đã được thu một cách triệt để góp phần làm tăng
NSNN. Đồng thời khi áp dụng một hệ thống thuế thống nhất và chặt chẽ đã góp
phần tạo môi trường bình đẳng cho sự cạnh tranh giữa các cơ sở kinh doanh
thuộc mọi thành phần kinh tế và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài.
1.1.5. Kế toán thuế GTGT trong các doanh nghiệp
1.1.5.1. Hoá đơn, chứng từ liên quan đến thuế GTGT
Mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong hoạt động SXKD đều phải
lập hoá đơn, chứng từ. Khi tổ chức vận dụng chứng từ cần phải lưu ý là chứng
từ dùng để ghi sổ và làm căn cứ để khấu trừ thuế, nộp thuế phải đảm bảo các yếu
tố: đầy đủ, hợp pháp, hợp lý, hợp lệ.
Các cơ sở SXKD khi mua bán hàng hoá dịch vụ phải thực hiện chế độ hoá
đơn chứng từ theo quy định của pháp luật, cụ thể:
Loại hoá đơn, chứng từ được sử dụng: Đối với các cơ sở SXKD thuộc
đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ khi bán hàng hoá dịch vụ
chịu thuế GTGT bắt buộc phải sử dụng hoá đơn GTGT theo quy định của Bộ
Tài Chính (kể cả hàng hoá dịch vụ chịu thuế TTĐB), trừ trường hợp được cho
phép sử dụng hoá đơn đặc thù với giá thanh toán là giá đã có thuế.
Đối với các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương
pháp trực tiếp khi bán hàng hoá dịch vụ phải sử dụng hoá đơn bán hàng.
Phạm Thị Ngọc Bích 8 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp
Các yếu tố phải ghi trên hoá đơn, chứng từ: Khi lập hoá đơn chứng từ,

còn phải nộp.
TK 3331- Thuế GTGT đầu ra phải nộp có 2 tài khoản cấp 3:
- TK 33311: Thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm
tiêu thụ.
- TK 33312: Thuế GTGT phải nộp của hàng nhập khẩu.
- Nội dung kết cấu của TK 3331 như sau:
Phạm Thị Ngọc Bích 10 Kiểm toán 44
TK 133
Nợ Có
Số thuế GTGT đầu vào còn được khấu Số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ
trừ Kết chuyển số thuế GTGT đầu vào
Số thuế GTGT đầu vào được hoàn không được khấu trừ
lại nhưng NSNN chưa hoàn lại Số thuế GTGT đầu vào được hoàn lại

Dư: Số thuế GTGT đầu vào chưa
được khấu trừ, chưa được hoàn lại
Luận văn tốt nghiệp
Để đơn giản có thể khái quát các nghiệp vụ hạch toán thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Sơ đồ hạch toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
TK 331, 111, 112 TK 151, 152, 211 TK 511, 515, 711 TK 131, 111,
112
1.1.5.3. Đăng ký, kê khai nộp thuế
Tất cả các đơn vị, cơ sở SXKD, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế
GTGT đều phải đăng ký, kê khai nộp thuế GTGT theo mẫu quy định và hướng
dẫn của cơ quan thuế.
Thời gian đăng ký chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày cấp Giấy phép đầu tư
hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và con dấu đối với đơn vị mới thành
lập. Sau khi đăng ký kê khai nộp thuế, các cơ sở SXKD được nhận Giấy chứng
nhận đăng ký thuế và MST .

thuế GTGT
khấu
trừ trong kỳ
TK 3331

Thuế GTGT
đầu ra phải trả

TK711
Thuế GTGT được
miễn giảm nhận lại bằng tiền

Thuế GTGT được
miễn giảm trừ vào
số phải nộp
Thuế GTGT của hàng nhập khẩu phải nộp
TK111, 112
Nộp thuế GTGT
cho NSNN
Luận văn tốt nghiệp
10 ngày đầu của tháng tiếp theo. Nếu phát hiện tờ khai thuế có sai sót trong kê
khai trước thời hạn phải nộp thuế thì có thể thông báo cho cơ quan thuế và đồng
thời lập lại tờ khai mới. Còn nếu phát hiện ra sai sót sau thời hạn nộp thuế thì
đơn vị có thể điều chỉnh kê khai vào tháng tiếp theo nhưng không được quá thời
hạn 3 tháng kể từ thời điểm kê khai phát sinh của tháng.
1.1.5.4. Việc nộp thuế và quyết toán thuế hàng năm
Việc nộp thuế: Rõ ràng thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng
thêm của hàng hoá. Thuế GTGT phải nộp được xác định bằng cách lấy giá bán
chưa có thuế nhân với thuế suất GTGT (gọi là thuế đầu ra), rồi trừ đi số thuế
GTGT ghi trên hoá đơn mua hàng (gọi là thuế đầu vào được khấu trừ).

Bảng khai tài chính. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200- điểm 04:
“Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế
toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính
chủ yếu của đơn vị”.
Cũng như các hoạt động có ý thức khác của con người, hoạt động kiểm
toán cũng có các mục tiêu riêng. Theo chuẩn mực kiểm toán số 200: “Mục tiêu
của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác
nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành
hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và phản ánh trung thực
hợp lý tình hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không?”. Hệ thống
mục tiêu kiểm toán bao gồm: Mục tiêu kiểm toán tổng quát, mục tiêu kiểm toán
chung và các mục tiêu kiểm toán đặc thù.
Có hai phương pháp tiếp cận trong kiểm toán BCTC là: phương pháp tiếp
cận kiểm toán theo khoản mục và phương pháp tiếp cận kiểm toán theo chu
trình. Phương pháp tiếp cận kiểm toán theo khoản mục: là cách phân chia kiểm
toán theo khoản mục hoặc nhóm các khoản mục theo thứ tự trong các bảng khai
thành một phần hành. Phương pháp tiếp cận theo chu trình dựa vào mối liên hệ
chặt chẽ giữa các khoản mục, các yếu tố cấu thành, các quá trình cấu thành một
chu trình chung của hoạt động tài chính. Mỗi một phương pháp đều có ưu,
nhược điểm riêng và được áp dụng phù hợp với từng điều kiện.
Về phương pháp, kiểm toán BCTC thường sử dụng tổng hợp các phương
pháp kiểm toán cơ bản để hình thành các trắc nghiệm kiểm toán: trắc nghiệm
Phạm Thị Ngọc Bích 13 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp
công việc, trắc nghiệm trực tiếp số dư và trắc nghiệm phân tích để đánh giá tình
hình hoạt động cùng hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Theo trình tự chung của kiểm toán, kiểm toán BCTC cũng bao gồm các
bước cơ bản sau:
Bước 1- Lập kế hoạch kiểm toán: Bước này bao gồm các công việc từ tìm
hiểu khách hàng, kí kết hợp đồng chuẩn bị kiểm toán đến lập chiến lược kiểm

và nghiệp vụ phải được ghi đúng nội dung, bản chất, giá trị thực tế phát sinh,
phù hợp về mặt thời gian, không gian, sự kiện và tuân thủ đúng chế độ, chuẩn
mực, pháp luật hiện hành.
 Các mục tiêu kiểm toán chung khác:
Bảng 1: Các mục tiêu kiểm toán
Cơ sở dẫn liệu Mục tiêu đối với nghiệp vụ
Sự hiện hữu
và phát sinh
Tất cả các khoản thuế GTGT đầu vào, đầu ra, phải nộp đã được ghi
nhận phải thực tế phát sinh và có đầy đủ các hoá đơn chứng từ chứng
minh đi kèm.
Tính trọn vẹn,
đầy đủ
Tất cả các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến thuế GTGT đều phải được
ghi nhận đầy đủ trên sổ sách, BCTC.
Quyền và
Nghĩa vụ
Các cơ sở SXKD đều có quyền được khấu trừ các khoản thuế GTGT
đầu vào theo quy định và có nghĩa vụ phải nộp một khoản thuế GTGT
đã được xác định vào NSNN.
Đo lường và
tính giá
Các số liệu về thuế GTGT phải phản ánh trung thực đúng giá trị ghi
trên các hoá đơn chứng từ đi kèm.
Việc tính thuế GTGT của các mặt hàng phải đúng với mức thuế suất
quy định và tuân theo hướng dẫn của các văn bản pháp luật.
Tính chính
xác
Các khoản thuế GTGT được khấu trừ, phải nộp, được hoàn lại phải
được tính toán một cách chính xác phù hợp với sổ sách kế toán, BCTC,

Ngoài ra, thuế GTGT là công cụ chủ yếu để tạo ra nguồn NSNN nên có vai
trò ý nghĩa rất lớn đối với các hoạt động của một quốc gia. Vì vậy Nhà nước ta
rất coi trọng việc kiểm soát, quản lý, thanh tra quyết toán thuế hàng năm. Trong
quá trình kiểm tra, kiểm soát đó ngoài sự tham gia của cơ quan thanh tra, cơ
quan thuế thì các hoạt động kiểm toán thuế nhằm khẳng định tính trung thực hợp
lý cho các khoản thuế GTGT của kiểm toán nhà nước và kiểm toán độc lập cũng
có vai trò rất quan trọng.
Mặt khác, khi luật thuế GTGT ra đời Nhà nước ta phải ban hành rất nhiều
văn bản hướng dẫn thi hành luật, nhất là số lượng văn bản hướng dẫn cá biệt cho
từng ngành, lĩnh vực nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho thuế GTGT và tuyên
truyền hướng dẫn thuế GTGT. Việc hiểu và vận dụng Luật thuế GTGT trong đội
ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác thuế và đội ngũ cán bộ liên quan trong nhiều
ngành còn chưa thực sự thống nhất, còn lúng túng, nhiều vấn đề phát sinh còn
chậm giải quyết. Do vậy với chức năng tư vấn, kiểm toán đã giúp các cơ sở đơn
Phạm Thị Ngọc Bích 16 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp
vị SXKD cập nhật và nắm rõ các văn bản pháp lý mới nhất, tư vấn cho doanh
nghiệp hạch toán thuế hợp lý theo các văn bản pháp luật hướng dẫn, giải quyết
các vướng mắc nảy sinh.
Tóm lại, mặc dù kiểm toán mới ra đời trong khoảng hơn chục năm gần đây
nhưng hoạt động kiểm toán ở nước ta đặc biệt là kiểm toán thuế GTGT đã phát
huy được vai trò kiểm tra, kiểm soát của mình, góp phần lành mạnh hoá các
quan hệ kinh tế, tạo môi trường tài chính trong sạch và sự bình đẳng, công bằng
trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đơn vị kinh doanh.
1.3. Quy trình kiểm toán thuế GTGT trong kiểm toán BCTC
Sau khi kí kết hợp đồng kiểm toán, công ty kiểm toán và các KTV tiến
hành kiểm toán BCTC theo yêu cầu của khách hàng.
Là một phần trong quy trình kiểm toán BCTC, kiểm toán thuế GTGT cũng
tuân theo các bước của kiểm toán BCTC với 3 phần:
− Lập kế hoạch, thiết kế phương pháp kiểm toán thuế GTGT.

hữu chính thức, các chi nhánh, công ty trực thuộc hoặc các khách hàng liên quan
đến quyền và nghĩa vụ đối với thuế GTGT và trình tự hạch toán thuế GTGT của
khách hàng kiểm toán.
Việc tìm hiểu khách hàng là một bước cần thiết để có được cái nhìn cơ bản
về công ty và các vấn đề liên quan đến khoản mục cần kiểm toán và nắm bắt
được những điểm cần lưu ý khi kiểm toán.
Bước 2: Thu thập các thông tin pháp lý của khách hàng và thủ tục phân tích
đối với thuế GTGT.
Các thông tin pháp lý cần thu thập bao gồm các chinh sách, biên bản, quy
chế liên quan đến thuế GTGT được thông qua trong các cuộc họp của công ty
khách hàng, BCTC, Báo cáo kiểm toán năm trước, các biên bản quyêt toán thuế,
biên bản của thanh tra thuế. BCTC là đối tượng của cả cuộc kiểm toán nên được
coi là tài liệu quan trọng nhất khi thực hiện kiểm toán. BCTC cung cấp các
thông tin về kết quả hạch toán thuế GTGT, tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà
nước. Ngoài thu thập xem xét BCTC, các biên bản quyết toán thuế, Báo cáo
Phạm Thị Ngọc Bích 18 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp
kiểm toán năm trước, biên bản của thanh tra thuế sẽ giúp KTV nhận thức rõ về
thực trạng tổ chức, quản lý hạch toán thuế GTGT ở đơn vị khách hàng, khoanh
vùng rủi ro và dự kiến phương hướng kiểm tra.
Sau khi thu thập các thông tin pháp lý, KTV tiến hành thủ tục phân tích đối
với khoản mục thuế GTGT. Việc thực hiện thủ tục phân tích có ý nghĩa rất lớn
trong hoạt động kiểm toán vì nếu áp dụng công cụ này một cách thích hợp sẽ
góp phần nâng cao hiệu quả và giảm chi phí kiểm toán. Thông thường thủ tục
phân tích được tiến hành với các giai đoạn:
− Phát triển một mô hình: xác định các biến tài chính hoặc hoạt động và mối
quan hệ giữa chúng.
− Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ.
− Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ.
− Phân tích nguyên nhân chênh lệch.

không được bộ phận KSNB hoặc KTV ngăn chặn hoặc phát hiện.
Đánh giá mức trọng yếu và phân bổ cho khoản mục thuế GTGT: Trọng yếu
là khái niệm về quy mô và bản chất của các sai phạm của các thông tin tài chính
mà nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác và có thể
đưa ra các quyết định sai lầm. Mức trọng yếu và rủi ro có mối quan hệ tỉ lệ
nghịch với nhau: Mức trọng yếu càng cao thì rủi ro càng thấp và ngược lại.
Trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV cần ước lượng mức trọng yếu cho toàn bộ
BCTC và sau đó dựa vào các hệ số đã lựa chọn phù hợp để phân bổ cho mức
trọng yếu cho khoản mục thuế bao gồm cả thuế GTGT, thuế thu nhập doanh
nghiệp, thuế tài nguyên...
Bước 4: Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát với thuế
GTGT.
Hệ thống KSNB hữu hiệu là cơ sở để đảm bảo độ tin cậy của thông tin, sự
tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản, hiệu quả hoạt động của đơn vị khách hàng.
Việc tìm hiểu hệ thống KSNB đối với khoản mục thuế GTGT được tiến hành
như sau:
Phạm Thị Ngọc Bích 20 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp
Tìm hiểu xem doanh nghiệp đã thiết kế hệ thống KSNB như thế nào, với
các quy chế kiểm soát gì để có thể ngăn chặn, phát hiện các gian lận, sai sót về
thuế GTGT. Tìm hiểu trình tự hạch toán kế toán khoản mục thuế GTGT từ việc
hạch toán các hoá đơn GTGT đầu vào, lập hoá đơn GTGT đầu ra và hạch toán
thuế GTGT, đến khi lập tờ khai thuế GTGT, quyết toán và nộp thuế GTGT. Tìm
hiểu các hoạt động kiểm soát trong suốt quá trình đó và dấu hiệu sự phê chuẩn
của cấp trên.
Dựa trên việc tìm hiểu và đánh giá sơ bộ về hệ thống KSNB, KTV có thể
đánh giá được rủi ro kiểm soát với thuế GTGT. Từ đó có thể xác định được
phạm vi thực hiện các thủ tục kiểm toán khi thiết kế và thực hiện.
Bước 5: Thiết kế chương trình kiểm toán và thủ tục cần thiết để kiểm toán
thuế GTGT.

Việc kê khai thuế GTGT phát sinh trong kỳ kế toán và những kê khai thuế
GTGT sau ngày kết thúc kỳ kế toán được thực hiện đầy đủ, đúng hạn.
− Thủ tục kiểm soát hướng tới mục tiêu tồn tại, phát sinh:
Sự phù hợp giữa thuế GTGT được khấu trừ và không được khấu trừ liên
quan đến các nghiệp vụ mua hàng.
Khoản thanh toán thuế GTGT trong tài khoản thuế GTGT phải phù hợp với
sổ chi tiết tiền mặt, chứng từ chuyển tiền. Xem xét việc đối chiếu với ngân hàng
và cơ quan thuế về các khoản thuế đã nộp hoặc được hoàn.
− Thủ tục kiểm soát hướng tới sự phê chuẩn và giám sát đúng đắn: KTV xem
xét các hoá đơn GTGT, bảng kê khai thuế GTGT, các phiếu chi tiền nộp thuế
GTGT… có được sự giám sát và phê duyệt của những người có thẩm quyền ở
đơn vị được kiểm toán thông qua con dấu và chữ ký. Xem xét dấu hiệu KSNB
trên các chứng từ liên quan.
− Thủ tục kiểm soát hướng tới Quyền và nghĩa vụ: xem xét các trường hợp
khách hàng chịu trách nhiệm phải nộp thuế GTGT thay cho các pháp nhân khác
và kiểm tra việc bảo đảm số dư cho từng pháp nhân.
− Thủ tục kiểm soát hướng tới mục tiêu định giá: Xem xét dấu vết kiểm tra
nội bộ về mức thuế suất, giá mua, giá bán là cơ sở để tính thuế GTGT.
Phạm Thị Ngọc Bích 22 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp
− Thủ tục kiểm soát hướng tới mục tiêu chính xác: Đảm bảo việc khấu trừ
thuế, tính ra khoản thuế GTGT phải nộp hoặc được hoàn lại là chính xác, xem
xét dấu hiệu tính toán, kiểm tra lại của bộ phận kiểm soát.
− Thủ tục kiểm soát hướng tới mục tiêu phân loại và trình bày: Kiểm tra việc
xử lý các nghiệp vụ qua sơ đồ tài khoản đảm bảo các khoản thuế GTGT phải
nộp đưa vào các khoản phải trả, và số thuế được hoàn lại đưa vào các khoản
phải thu.
Để thực hiện được các thủ tục này công cụ mà KTV sử dụng là các Bảng
câu hỏi về hệ thống KSNB (Questionaire), Bảng tường thuật (Narrative), Lưu đồ
(Flowchart) thông qua các phương pháp phỏng vấn, điều tra và các phương pháp

dư các tài khoản khác giữa các kỳ kế toán với nhau để tìm ra các biến động bất
thường. Các tỷ suất sử dụng là: tỷ suất thuế GTGT phải nộp/doanh thu, tỷ lệ
thuế GTGT đầu vào/các khoản chi phí tương ứng…
Để tính được số liệu ước tính của KTV và so sánh với số liệu thực tế, thủ
tục phân tích được áp dụng qua các bước sau:
Bước 1: Phát triển một mô hình: Kết hợp các biến tài chính và biến hoạt
động, cụ thể trong trường hợp này là xem xét mối quan hệ giữa đối tượng chịu
thuế GTGT, thuế suất và giá tính thuế áp dụng đối với từng loại hàng hoá, dịch
vụ chịu thuế.
Bước 2: Xem xét tính độc lập và tin cậy của các dữ liệu của tài khoản thuế
GTGT và nội dung của các nghiệp vụ hạch toán thuế. Công việc này được thực
hiện để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy cao của ước tính kế toán về thuế
GTGT.
Bước 3: Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ. Dựa vào mô hình đã
được thiết lập và các dữ liệu được xác định, KTV tính ra giá trị ước tính của
thuế GTGT và mang so sánh với giá trị ghi sổ.
Bước 4: Phân tích nguyên nhân chênh lệch. Sau khi so sánh giá trị ước tính
với giá trị ghi sổ về thuế GTGT mà thấy có chênh lệch thì KTV phải tìm hiểu và
phân tích nguyên nhân chênh lệch. Chênh lệch thường là do hai nguyên nhân:
Phạm Thị Ngọc Bích 24 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp
một là do quá trình ước tính của KTV, hai là do trong khoản mục thuế GTGT
thực sự chứa sai sót.
Bước 5: Xem xét những phát hiện qua kiểm toán. Những chênh lệch được
phát hiện trong quy trình phân tích cần được điều tra cả về tính chất và nguyên
nhân về các vấn đề liên quan như cơ sở dữ liệu, tình hình kinh doanh của khách
hàng, mục tiêu kiểm toán…
1.3.2.3. Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết
Thủ tục kiểm tra chi tiết là một thử nghiệm cơ bản được áp dụng thường
xuyên nhất trong một cuộc kiểm toán BCTC. Đối với khoản mục thuế GTGT,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status