Nghiên cứu ứng dụng dạy tiếng anh cho các lớp không chuyên ngữ tại trường đại học quảng bình - Pdf 22

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA NGÔN NGỮ HỌC

LÊ THỊ HẰNG
ĐẶC ĐIỂM CỦA TIẾNG ANH GIAO TIẾP: NGHIÊN CỨU
ỨNG DỤNG DẠY TIẾNG ANH CHO CÁC LỚP KHÔNG
CHUYÊN NGỮ TẠI ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học ứng dụng
Mã số: 62.22.01.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

HÀ NỘI, NĂM 2014
2
Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Thị Thanh Hương

Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Văn Khang
Phản biện 2: GS.TS. Mai Ngọc Chừ
Phản biện 3: PGS.TS. Lâm Quang Đông
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại: Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam vào hồi…., ngày…….giờ……tháng…….năm
2014
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư viện quốc gia Việt Nam
2. Thư viện Học viện Khoa học xã hội
3. Thư viện Viện Ngôn ngữ học
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài

2.2. Tình hình nghiên cứu ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp cho sinh
viên đại học không chuyên ngữ ở Việt Nam
Khảo sát bước đầu của chúng tôi cho thấy chưa có nhiều nghiên cứu về
ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp cho sinh viên đại học không chuyên ngữ
tại Việt Nam. Chỉ có một nghiên cứu khảo sát việc ứng dụng dạy NNGT
cho sinh viên không chuyên ngữ tại trường Cao đẳng Kinh Tế - Tài Chính
Thái Nguyên của Nguyễn Thị Minh Thu. Kết quả cho thấy tính hiệu quả và
tầm quan trọng của việc áp dụng đường hướng dạy - học này trong kỹ năng
nói tiếng Anh cho sinh viên. Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu
các nguyên nhân dẫn đến kết quả đào tạo chưa cao và đề xuất các giải pháp.
3. Mục đích, câu hỏi và nội dung nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là để có thêm những hiểu biết về
bản chất của việc dạy NNGT và tìm hiểu các cách thức dạy tiếng Anh hiệu
quả cho sinh viên không chuyên ngữ tại Đại học Quảng Bình.
3.2. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên
cứu chính sau đây:
1. Tiếng Anh giao tiếp có những đặc điểm gì? và lớp học tiếng Anh
theo đường hướng giao tiếp có những đặc điểm gì?
2. Đặc điểm và điều kiện giảng dạy tiếng Anh ở Trường đại học
Quảng Bình như thế nào? Có những gì đã đáp ứng và chưa đáp ứng
với viêc dạy tiếng Anh giao tiếp?
3. Làm thế nào để dạy tiếng Anh viết theo đường hướng giao tiếp một
cách hiệu quả cho sinh viên Đại học không chuyên ngữ tại trường
đại học Quảng Bình?
3.3. Nội dung nghiên cứu
2
Để trả lời cho từng câu hỏi nghiên cứu chúng tôi sẽ thực hiện những
nội dung nghiên cứu tương ứng như sau:

- Về thực tiễn: Luận án bước đầu xác định được cách thức phù hợp để
ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp viết cho sinh viên không chuyên ngữ tại
Trường Đại học Quảng Bình.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận án
gồm ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Thực tiễn dạy - học và nhu cầu học viết tiếng Anh của sinh
viên không chuyên ngữ tại Đại học Quảng Bình.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm về dạy tiếng Anh giao tiếp viết cho
sinh viên không chuyên ngữ Đại học Quảng Bình.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Đặc điểm của tiếng Anh giao tiếp
Tiếng Anh giao tiếp (communicative English) trong luận án này muốn
nói đến kiểu tiếng Anh gắn với chức năng giao tiếp tức kiểu tiếng Anh được
sử dụng để trao đổi và thương lượng nghĩa.
1.1.1. Mô hình tiến trình giao tiếp tương hỗ
Để hiểu rõ hơn các đặc điểm tiếng Anh giao tiếp, chúng ta sẽ xem mô
hình giao tiếp tương hỗ của D.C. Barnlund (1970). Nhìn vào sơ đồ 1.1 ta có
thể thấy những người tham gia giao tiếp không đơn thuần gửi và nhận nghĩa
từ người này đến người kia rồi phản hồi trở lại cho nhau mà đúng hơn họ
đang xây dựng một nghĩa chung thông qua tiến trình này.
Nghĩa được hiểu chung/được chia sẻ nằm ở vùng hai hình ô-van giao
nhau. Để giao tiếp thành công, vấn đề không chỉ là việc nắm vững
4
Nhiễu
Hai chiều
Người giao tiếp A Hệ thống xã hội Người giao tiếp B
Kênh

5
như các hình thức tu từ để ám chỉ một nghĩa tiềm ẩn khác. Sức sinh sản và
tính phân lập sẽ giúp người sử dụng có thể diễn đạt và hiểu được nghĩa
những câu chưa từng nghe trước đó nhờ nghĩa ngữ pháp và khả năng suy
luận. Vì vậy, người học cần học để nắm các quy ước chung trong sử dụng
mã như các quy tắc cú pháp, ngữ dụng, ngữ nghĩa, ngữ âm. Các đặc điểm
tính võ đoán và tính chuyển giao văn hoá buộc người học phải học để hiểu
các đặc điểm văn hóa của cộng đồng đích như các quy ước, thói quen - tập
tục, các niềm tin, thái độ và các giá trị chi phối hành vi giao tiếp.
1.1.2.2.Đặc điểm về chức năng
Chức năng chính của tiếng Anh giao tiếp là làm phương tiện để
diễn đạt nghĩa, ví dụ: diễn đạt sự biết ơn, hỏi đường, diễn đạt sự hiểu biết về
một chủ đề nào đó v.v. Tuy nhiên, nghĩa thường được diễn đạt và diễn giải
theo những cách khác nhau nên chức năng kép của tiếng Anh giao tiếp là để
làm phương tiện trao đổi và thương lượng nghĩa nhằm đạt được một nghĩa
chung hoặc mục đích giao tiếp.

Thêm vào đó
,
, tiếng Anh với chức năng như
một ngoại ngữ còn được sử dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu giao tiếp xã
hội của các nhóm cộng đồng sử dụng khác nhau-thường đã sở hữu ngôn
ngữ thứ nhất không phải là tiếng Anh. Với vai trò là ngôn ngữ giao tiếp
quốc tế, tiếng Anh vừa có các chức năng của ngôn ngữ thứ nhất vừa có các
chức năng giao tiếp liên văn hóa, liên quốc gia.
1.1.2.3. Đặc điểm về phong cách và ngữ vực
Xét về phong cách, tiếng Anh trong giao tiếp có thể biến đổi từ phong
cách lễ nghi, chính thức, thương lượng đàm phán, đến tùy tiện hay thân mật
nhằm đạt được mục đích giao tiếp của mình. Ngữ vực chịu sự chi phối của
mối quan hệ giữa chủ đề, các vai và kênh giao tiếp. Cho nên, ngữ vực gắn với

tác nhằm đạt được mục đích giao tiếp trong một bối cảnh, ngữ huống nhất
định. Đường hướng giao tiếp được thực hiện từ quan điểm xem ngôn ngữ như
một sự giao tiếp, người học ngoại ngữ cần học để có khả năng tương tác và
thương lượng nghĩa nhằm đi đến một nghĩa chung, một mục đích giao tiếp
7
nào đó thỏa mãn các thành viên tham gia, và thông qua đó việc thụ đắc ngôn
ngữ sẽ được diễn ra. Bên cạnh đó, dạy NNGT còn dựa trên các vấn đề về lý
thuyết học và thụ đắc ngôn ngữ hai cũng như khái niệm ngữ năng và ngữ
thi giao tiếp.

Sơ đồ 1.5. Mô hình các bước thiết kế chương trình học
dựa trên đề xuất của JD Brown
Tiến trình thụ đắc ngoại ngữ phải trải qua các giai đoạn phát triển
nhất định tương tự như tiến trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất, do đó tiếng
Anh Tổng Quát đã được thiết kế theo từng mức trình độ. Ở mỗi mức trình
độ, các kiến thức về ngữ năng giao tiếp và ngữ thi giao tiếp được xây dựng
phù hợp với nhu cầu và năng lực của người sử dụng. Lý thuyết về trí nhớ
làm việc của Alan Bladdley cho thấy tiến trình học (learning) và thụ đắc
(acquiring) tiếng Anh là hai tiến trình đòi hỏi các hoạt động thực hành
tương đối khác nhau. Trong tiến trình đầu, người học cần học để ghi nhớ
các mẫu cấu trúc ngôn ngữ mới bằng tiến trình tiếp nhận hoặc sử dụng lặp
đi lặp nhiều lần gắn với chuỗi liên kết nghĩa. Các kiến thức ngữ năng giao
tiếp khác cũng được tiếp nhận và ghi nhớ theo kênh nghe hiểu và đọc hiểu.
Tiến trình thứ hai đòi hỏi người học phải thường xuyên sử dụng tiếng Anh
Đánh giá
Các mục tiêu
Giảng dạy
Kiểm tra
Tài liệu
Phân tích nhu cầu

Khoảng 70% sinh viên tại Trường Đại học Quảng Bình là sinh viên nội
9
tỉnh còn thụ động trong cách học tiếng Anh. Mặc dù sinh viên mong muốn
được tăng cường các hoạt động giao tiếp nhằm nâng cao hiệu quả của việc
học tiếng Anh nhưng họ cần được tạo điều kiện và hướng dẫn để thực hiện.
Ngoài ra, tiếng Anh giao tiếp viết đầu vào của sinh viên rất thấp, có đến
85% chưa đến trình độ A1. Điều này làm cho sinh viên khó tiếp thu ngay
trình độ B1 như yêu cầu đặt ra.
Khảo sát các điều kiện dạy - học tiếng Anh không chuyên tại Trường
Đại học Quảng Bình cho thấy có một số vấn đề nổi lên chưa đảm bảo cho
việc dạy tiếng Anh giao tiếp được thực hiện thành công. Trong đó bao gồm
các vấn đề như thiết kế chương trình, kiểm tra-đánh giá, sử dụng tài liệu và
phương tiện dạy- học, các hoạt động dạy-học, chiến lược học của sinh viên .
2.2. Khảo sát, phân tích nhu cầu học tiếng anh giao tiếp viết của sinh
viên không chuyên ngữ trường Đại học Quảng Bình
2.2.1. Đối tượng khảo sát
- 200 sinh viên đại học không chuyên ngữ khóa 49, 50, 51, 52 Trường
Đại học Quảng Bình.
- 10 giảng viên dạy tiếng Anh Khoa Ngoại Ngữ, Trường Đại học
Quảng Bình.
2.2.2. Kết quả khảo sát
Theo yêu cầu đào tạo, tiếng Anh đầu ra của sinh viên các lớp không chuyên
ngữ tại Đại học Quảng Bình phải đạt mức trình độ A2. Kết quả phân tích nhu
cầu học tiếng Anh giao tiếp viết đã giúp chúng tôi nhận diện các mục tiêu
và nội dung dạy-học phục vụ cho việc thiết kế chương trình cho sinh viên
các lớp thực nghiệm. Theo đó, chúng tôi đã đề xuất rằng các trạng từ first,
second, then và các liên từ and, but, because cần được ôn tập lại để sinh
viên sử dụng chúng trong viết câu và viết đoạn. Với lớp Đại học Sư phạm
Toán (sinh viên có năng lực đầu vào khá hơn) có thể giới thiệu thêm liên từ
so, however. Các thể loại ngôn bản sẽ được giảng dạy gồm mẫu văn bản đơn

Với những người học đang ở mức trình độ thấp, việc học viết tập trung
11
nhiều hơn đến việc học để có kỹ năng. Nhưng Savignon, một học giả đi
theo đường hướng dạy NNGT, khẳng định rằng người học có thể thực hiện
các hoạt động để đạt được khả năng giao tiếp ngay từ đầu chứ không nhất
thiết phải học các cấu trúc ngôn ngữ một cách máy móc, truyền thống như
vậy.
Để cân bằng việc học để có kỹ năng và học để sử dụng kỹ năng, giải
pháp tốt nhất là hạn chế các hoạt động củng cố mã bằng cách chọn các hoạt
động thay thế được ngữ cảnh hoá, có mục đích biểu hiện nghĩa, được cá thể
hoá, và thiết kế các bài tập sử dụng ngôn ngữ trong ngữ cảnh đầy đủ của
diễn ngôn. Ví dụ, mô tả đơn giản với hình ảnh minh hoạ, viết chính tả, điền
mẫu hoặc các hoạt động viết sáng tạo bằng các bài tập thực hành viết tự do.
Sản phẩm viết tự do có thể áp dụng cho sinh viên ở mức trình độ này bằng
cách viết nhật ký tin tức hằng ngày, nhật ký đối thoại hay làm thơ cinquain.
2.3.1.4. Các nguyên tắc dạy viết tiếng Anh không chuyên ở các trường đại
học Việt Nam
Dựa trên các đường hướng giao tiếp, tác giả Hoàng Văn Vân (2010) đã
đề xuất 6 nguyên tắc dạy viết tiếng Anh không chuyên cho các trường đại
học Việt Nam như sau:
1. Mặc dù dạy ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp được chia ra
thành 4 khu vực kỹ năng (nghe, nói, đọc, và viết) và khu vực ngữ liệu (ngữ
âm, ngữ pháp, từ vựng), các khu vực này không nên được đối xử (dạy) một
cách tách biệt. Do vây, nếu viết là trọng tâm giảng dạy trong một tiết học
thì nó phải được hỗ trợ bằng các kỹ năng khác.
2. Trong khi dạy viết, người học phải thực hiện nhiệm vụ càng nhiều
càng tốt. Vai trò của giáo viên chỉ là hướng dẫn người học và tổ chức các
hoạt động tập viết của người học, giám sát và thúc đẩy những công việc đó.
3. Người học phải làm việc với nhau thông qua hoạt động theo cặp
hay theo nhóm. Thảo luận có tầm quan trọng trong việc tạo ý và tổ chức ý,

tiếp tục học từ trình độ B1 trở lên. Chưa có tài liệu nào miêu tả các nguyên tắc
13
dạy viết tiếng Anh cho các đối tượng chưa đạt trình độ A2.
2.3.1.5. Kiểm tra, đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp viết
Việc đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp viết của sinh viên bao gồm
việc đánh giá nhiều thành tố tùy vào yêu cầu của mức trình độ đích cần đạt.
Việc đánh giá bao gồm cả việc đánh giá các sản phẩm viết dựa trên các tiêu
chí phân tích và các tiêu chí tổng thể.
2.3.2. Đề xuất nhóm giải pháp nhằm ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp viết
2.3.2.1. Đề xuất thiết kế chương trình
Để ứng dụng dạy tiếng Anh viết theo đường hướng giao tiếp cho sinh
viên học theo hệ thống tín chỉ, chúng tôi đã đề xuất kiểu thiết kế chương
trình dựa trên năng lực làm chủ đạo kết hợp với kiểu thiết kế chương trình
dựa trên nhiệm vụ bằng cách chuyển một số mục tiêu thành nhiệm vụ cần
dạy - học.
2.3.2.2. Đề xuất về kiểm tra, đánh giá năng lực viết tiếng Anh giao tiếp
Việc kiểm tra, đánh giá được tực hiện như ở mục 2.3.1.5. Tuy nhiên,
vào thời điểm giảng dạy thực nghiệm, chúng tôi chưa tìm được các tiêu chí
và thang điểm để đánh giá cho một sản phẩm viết, cho nên dựa trên các tiêu
chí đã được Cyril Weir giới thiệu, chúng tôi đã tổ chức seminar nhóm để
đưa ra đề xuất cho thang điểm chấm.
2.3.2.3. Đề xuất sử dụng tài liệu và phương tiện dạy - học
Giáo trình và tài liệu tham khảo phục vụ cho việc dạy là các giáo trình
và tài liệu được biên soạn theo đường hướng giao tiếp ở mức trình độ từ A1
- A2 (tương đương với trình độ sơ cấp và sơ trung cấp). Trong số đó, giáo
trình chính sẽ được chọn là English for Life và New English File, trong đó,
một số bài được bổ sung ngữ vực, một số bài được kết hợp hoặc biên soạn
lại từ một số nội dung bị trùng lặp giữa các giáo trình cho phù hợp với nhu
cầu người học và chương trình.
14

định mà họ cần phải biết cách sử dụng để chuẩn bị cho phần phát triển ‘kỹ
năng sử dụng’. Với nội dung ngữ pháp cũng tương tự như vậy, hầu hết các
điểm ngữ pháp chính đã được học ở phổ thông nên giảng viên chỉ cung cấp
tài liệu tham khảo để sinh viên tự học, tự nghiên cứu lại theo nhu cầu và
theo hướng dẫn của giảng viên, ở trên lớp giảng viên chỉ tập trung vào việc
thực hành sử dụng.
Vào đầu các buổi học đều có phần phát triển năng lực tiếng Anh viết,
giảng viên dành khoảng 15-20 phút cho các hoạt động phát triển tốc độ, sự
trôi chảy và viết chính tả. Các hoạt động ngoài lớp học như thực hành làm
các bài tập được chọn lựa từ sách bài tập của sinh viên hoặc sách của giảng
viên. Giảng viên hướng dẫn sinh viên cách viết nhật ký đối thoại và làm
thơ cinquain. Mỗi tuần ngoài các bài tập viết được giao về nhà, sinh viên sẽ
được yêu cầu viết 3 đoạn văn ngắn (journals).
2.3.2.5. Đề xuất một số chiến lược học
Ngoài các chiến lược học thông thường, giảng viên hướng dẫn sinh
viên sử dụng các “chiến lược siêu tri nhận” và “các chiến lược xã hội”
nhằm giúp họ áp dụng hài hoà với các kiến thức ngữ năng giao tiếp vào các
hoạt động ngữ thi giao tiếp.
CHƯƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM DẠY TIẾNG ANH GIAO TIẾP VIẾT
CHO SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN NGỮ ĐẠI HỌC BÌNH
3.1. Mục đích, nội dung thực nghiệm
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
Mục đích thực nghiệm là kiểm chứng độ tin cậy và tính khả thi của các
đề xuất giải pháp nhằm ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp viết cho sinh viên
đại học các ngành về Sư phạm và Khoa học xã hội tại Trường Đại học
Quảng Bình.
3.1.2. Nội dung thực nghiệm
16
Như đã trình bày ở chương 1 và chương 2, sau khi xác định được mục tiêu

Anh giao tiếp viết hay không.
3.3.2. Các tiêu chí đánh giá
Chúng tôi đã tổ chức semina nhóm và xây dựng thang điểm chấm dựa
trên các tiêu chí mang tính phân tích và các tiêu chí mang tính tổng thể của
CEFR để đánh giá xem liệu sinh viên đã đạt năng lực tiếng Anh viết mức
trình độ A2 hay chưa.
3.4. Quy trình thực nghiệm
3.4.1. Các bước tiến hành thực nghiệm
Để việc thực nghiệm được triển khai đúng tiến độ và đề xuất đưa ra,
chúng tôi đã thực hiện các bước sau:
Bước 1: Triển khai kế hoạch trước thực nghiệm
Bước 2: Tổ chức thực nghiệm
Bước 3. Xử lý kết quả thực nghiệm
3.5. Kết quả giảng dạy thực nghiệm và thảo luận
3.5.1. So sánh kết quả đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp viết của
sinh viên lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Sau 15 tuần giảng dạy thực nghiệm, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra,
đánh giá, kết quả mà chúng tôi thu được khá khả quan; tất cả các phần được
kiểm tra ở lớp thực nghiệm (TN) đều cao vượt trội so với lớp đối chứng
(ĐC), đặc biệt là tiếng Anh giao tiếp viết ở 2 lớp thực nghiệm. Kết quả đánh
giá được tóm lược ở Bảng 3.2 dưới đây.
Bảng 3.2. So sánh điểm xếp loại bài kiểm tra tiếng Anh giai đoạn I của các
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Nội dung đánh
giá
Giỏi
(%)
Khá
(%)
Trung bình

giá
Giỏi
(%)
Khá
(%)
Trung bình
(%)
Yếu
(%)
Lớp
TN
Lớp
ĐC
Lớp
TN
Lớp
ĐC
Lớp
TN
Lớp
ĐC
Lớp
TN
Lớp
ĐC
Viết 42 0 21 12 11 7 26 81
Ngữ pháp 15 7 35 12 43,5 24 6,5 57
Đối chiếu với các tiêu chí ở mức trình độ A2 của tiếng Anh giao
tiếp viết, chúng tôi nhận thấy ở các lớp thực nghiệm đã có đến 74% sinh
viên đạt A2 và có 26% sinh viên chưa đạt A2, trong khi ở các lớp chứng có

20
đó các đặc điểm như cấu trúc hai bậc, tính dịch chuyển, sức sinh sản, tính
phân lập cho phép người học sử dụng tiếng Anh một cách linh hoạt và sáng
tạo. Các đặc điểm như tính võ đoán, tính chuyển giao văn hoá cho thấy
ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp bị chi phối bởi các quy ước mang
tính văn hóa-xã hội, bản thân nó là một sản phẩm văn hóa và chịu ảnh
hưởng bởi các giá trị văn hóa của cộng đồng đích. Cho nên, người học
tiếng Anh giao tiếp không chỉ học để nắm vững các cấu trúc ngôn ngữ mà
còn phải học để nắm các đặc điểm văn hóa của cộng đồng đích chi phối
hành vi giao tiếp.
Nhóm thứ hai cho thấy chức năng chính của tiếng Anh giao tiếp là
làm phương tiện để diễn đạt, trao đổi và thương lượng nghĩa.

Thêm vào đó
,
,tiếng Anh với tư cách là một ngoại ngữ còn có chức năng đáp ứng các nhu
cầu giao tiếp xã hội và giao lưu liên văn hóa của các nhóm cộng đồng khác
nhau-thường đã sở hữu ngôn ngữ thứ nhất không phải là ngôn ngữ Anh.
Nhóm thứ ba liên quan đến đặc điểm về phong cách và ngữ vực cho
thấy tùy vào các vai giao tiếp, mục đích và chủ đề giao tiếp, người nói,
người viết sẽ có các cách chọn và xử lý ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau.
Phong cách sử dụng tiếng Anh giao tiếp có thể biến đổi từ phong cách lễ
nghi, chính thức, thương lượng đàm phán, tùy tiện, cách thân mật. Nếu
phân loại theo ngữ vực, tiếng Anh giao tiếp được phân loại thành tiếng Anh
giao tiếp Tổng Quát, tiếng Anh giao tiếp Công Sở, tiếng Anh giao tiếp
Thương Mại. v.v.
Nhóm thứ tư cho thấy tiếng Anh trong giao tiếp luôn mang nét đặc

không chỉ học để phát triển về sự chính xác mà còn phát triển cả tốc độ và
sự trôi chảy.
Tương tự tiến trình phát triển các kênh giao tiếp khác, tiến trình phát
triển tiếng Anh giao tiếp viết thuộc hệ thống ngôn ngữ dựa trên âm thanh và
bị chi phối bởi đầu óc của chúng ta nên nó cũng đòi hỏi người học phải thực
hành cả các hoạt động trước giao tiếp và các hoạt động giao tiếp. Người học
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status